SỨC KHỎE PHỤ NỮ VÀ CEDAW CÔNG ƯỚC VỀ XÓA BỎ

MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ CHỐNG LẠI PHỤ NỮ

VŨ NGỌC BÌNH*

Sự gia tăng dân số đang chậm dần vì phụ nữ có xu hướng sinh con ít hơn trước, tuy nhiên hàng năm trên thế giới vẫn tăng thêm 77 triệu người so với 81 triệu trong thập kỷ trước.

Do những nỗ lực về y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ sinh đã giảm đi ở hầu hết các khu vực của các nước đang phát triển kể từ năm 1970 tới nay. Hiện có khoảng 600 triệu phụ nữ sử dụng các biện pháp tránh thai và bên cạnh đó vẫn có 123 triệu phụ nữ khác không có điều kiện thực hiện để hạn chế mang thai hay có khoảng cách mang thai hoặc sinh đẻ hợp lý dẫn tới 76 triệu ca mang thai ngoài ý muốn và trong số này là 40-50 triệu ca nạo phá thai là nguy hiểm, rủi ro đến tính mạng người phụ nữ.

Hiện mỗi năm vẫn có 529 nghìn phụ nữ chết (mỗi tuần 11 nghìn và mỗi ngày 1.450 người hay mỗi phút một người) vì các nguyên nhân liên quan đến thai nghén, sinh đẻ hay do không được chăm sóc trước sinh hoặc vì những tập tục đỡ đẻ mất vệ sinh. 99% trong số họ ở các nước đang phát triển (hơn 90% ở châu Á và châu Phi) và họ ra đi để lại ít nhất 1 triệu trẻ em không mẹ. 70% số phụ nữ chết do 5 nguyên nhân chính: xuất huyết (24%), nhiễm trùng (15%), nạo thai không an toàn (13%), huyết áp cao (12%) và lao động quá sức (8%). Các nguyên nhân khác gồm nghèo đói, sự phân biệt xã hội, học vấn thấp, bạo lực... Những phụ nữ có thai sớm và sinh nở nhiều thường dễ bị các bệnh lây lan như sốt rét, lao phổi, HIV/AIDS, thiếu máu và thường dễ bị tử vong. 

Trung bình cứ mỗi phụ nữ chết có khoảng 20 người khác bị ảnh hưởng, thương tổn, viêm nhiễm và tàn tật, có nghĩa là mỗi năm với 20 triệu trong hoàn cảnh như vậy bất kể sự tồn tại của những biện pháp can thiệp hiện đại. Khoảng nửa số những ca đẻ ở các nước đang phát triển là do những người đỡ đẻ không được đào tạo thực hiện. Khoảng 200 triệu phụ nữ mong muốn có khoảng cách sinh con theo ý muốn lại không được tiếp cận các chương trình và biện pháp kế hoạch hoá gia đình. Phụ nữ cũng chiếm số đông trong tổng số 800 triệu người trên toàn thế giới không được bảo hiểm y tế và chăm sóc sức khoẻ tối thiểu cũng như trong số 340 triệu người sống chưa đến tuổi 40. Hàng năm có 300 đến 500 triệu người bị sốt rét và trong số này có khoảng 3 triệu người chết mà trong đó lại phần đông là phụ nữ.

Những khác biệt về sinh học giữa phụ nữ và nam giới như phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt, chức năng sinh sản và sự mãn kinh có thể dẫn tới những khác biệt về những vấn đề, mối quan tâm và tình trạng sức khoẻ. Cũng có những yếu tố xã hội đã quyết định tình trạng sức khoẻ của phụ nữ và nam giới. Bên cạnh đó, phụ nữ bị ảnh hưởng bởi nhiều tình trạng sức khoẻ giống như nam giới song phụ nữ lại phải trải nghiệm khác biệt với nam giới vì họ phải đối mặt với các vấn đề sức khoẻ cụ thể và những dạng đặc biệt của sự phân biệt đối xử. Tình trạng nghèo đói phổ biến và phụ thuộc kinh tế của phụ nữ, bạo lực mà họ gặp phải, thành kiến giới trong hệ thống sức khoẻ và xã hội nói chung, phân biệt đối xử trên cơ sở giới và cả các yếu tố khác, bị giới hạn về quyền lực trong sinh sản và tình dục của phụ nữ và thiếu ảnh hưởng trong việc ra quyết định là những thực tế trong xã hội có ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe của họ. Vì những lý do này mà cần quan tâm đặc biệt đến các nhu cầu về sức khoẻ và quyền của phụ nữ vốn thuộc những nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương. Họ phải đối mặt với những hình thức phân biệt đối xử khác nhau bên cạnh bị những rào cản vô hình và hữu hình, chủ ý và không chủ ý trong việc thực hiện những quyền của mình. Những nhóm phụ nữ bị phân biệt đối xử nhiều hơn là các nhóm lao động nữ di cư, phụ nữ tị nạn, phụ nữ vô gia cư/lang thang cơ nhỡ, trẻ em gái, phụ nữ cao tuổi, phụ nữ bị buôn bán và mại dâm, phụ nữ nông thôn, phụ nữ là người thiểu số và bản địa, phụ nữ nghèo thành thị, phụ nữ tàn tật về thể chất và tinh thần, phụ nữ có HIV/AIDS…

 

 

Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) là một điều ước quốc tế về quyền con người được Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 18-12-1979.

Là một trong những điều ước quyền con người quốc tế được phê chuẩn và tham gia nhiều nhất, CEDAW nhắm tới việc thông qua các biện pháp cần thiết để xóa bỏ sự phân biệt đối xử chống lại phụ nữ dưới tất cả các hình thức và biểu hiện khác nhau. CEDAW có hiệu lực từ ngày 3-9-1982 và hiện nay có 186 quốc gia thành viên.

Việt Nam ký CEDAW ngày 29-7-1980 và phê chuẩn ngày 17-2-1982.

Đấu tranh xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử dưới tất cả các dạng khác nhau, bao gồm cả việc chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ là các mục tiêu cơ bản trong việc coi chăm sóc sức khoẻ là một quyền con người.

Điều 12 Công ước về xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) yêu cầu phải xoá bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và bảo đảm việc phụ nữ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Bảo đảm về chăm sóc sức khoẻ phải được tiến hành trong suốt cuộc đời của người phụ nữ. Họ phải được bảo vệ ngay từ khi trong bụng mẹ vì dễ bị nạo phá thai do lựa chọn giới tính thai nhi cho đến khi trở thành phụ nữ cao tuổi. Nghĩa vụ theo Điều 12 CEDAW cho thấy cần phải nhấn mạnh nhiều lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ khác nhau cần sự chú ý, như tiếp cận dịch vụ y tế, chế độ thai sản và nuôi con, HIV/AIDS và các bệnh khác lây truyền qua đường tình dục, những dịch vụ và giáo dục tính dục và sức khoẻ sinh sản, các biện pháp hạn chế sinh đẻ và kế hoạch hoá gia đình, nạo phá thai và tư nhân hoá những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ. Các quốc gia thành viên phải đảm bảo những dịch vụ phù hợp với phụ nữ liên quan đến thai sản, sinh đẻ và thời kỳ sau sinh, đảm bảo những dịch vụ miễn phí khi cần thiết cũng như đầy đủ dinh dưỡng trong thời kỳ phụ nữ có thai và cho con bú.

Trong số 30 điều của CEDAW, các điều liên quan nhất ngoài Điều 12 còn gồm Điều 5 (b) yêu cầu quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng giáo dục gia đình bao gồm sự hiểu đúng về sinh đẻ và làm mẹ như là một chức năng của xã hội.

Điều 10 yêu cầu quốc gia thành viên đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng về giáo dục, theo đó cho phép phụ nữ tiếp cận chăm sóc sức khỏe và giảm tỉ lệ học sinh nữ bỏ học nửa chừng mà thường do có thai ngoài ý muốn. Điều 10(h) quy định rằng quốc gia thành viên phải cung cấp cho phụ nữ và trẻ em gái những thông tin giáo dục chuyên biệt để giúp đảm bảo phúc lợi gia đình, gồm các thông tin và lời khuyên về kế hoạch hóa gia đình. Điều 11 quan tâm việc bảo vệ sức khoẻ và sự an toàn của phụ nữ trong những điều kiện công việc, bao gồm cả bảo vệ an toàn cho chức năng sinh sản, đặc biệt là khỏi các hình thức lao động độc hại trong quá trình mang thai và trả lương trong thời gian sinh con. Điều 14 (2) (b) yêu cầu quốc gia thành viên đảm bảo cho phụ nữ nông thôn được tiếp cận bình đẳng các cơ sở chăm sóc y tế, bao gồm các thông tin, tư vấn và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Điều 14 (h) buộc các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả những biện pháp thích hợp để đảm bảo các điều kiện sống đủ, đặc biệt là nơi ở, vệ sinh, điện và nước, giao thông và liên lạc là tất cả những thứ quyết định tới việc phòng bệnh và thúc đẩy việc chăm sóc sức khỏe tốt.

Điều 16 (1) (e) yêu cầu quốc gia thành viên đảm bảo rằng phụ nữ có mọi quyền như nam giới trong việc quyết định số con, khoảng thời gian giữa những lần sinh con và tiếp cận thông tin, giáo dục và các điều kiện để họ thực hành những quyền này. Điều 16 (2) cũng cấm việc hứa hôn và kết hôn ở trẻ em - một yếu tố quan trọng trong việc ngăn chặn việc gây hại cả về tinh thần và thể xác từ việc sớm sinh con ở các em gái.

Sức khoẻ tình dục và sinh sản cũng là một trong những mặt chính của quyền sức khoẻ của phụ nữ. Các quốc gia thành viên phải tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ có quyền kiểm soát và quyết định trong các vấn đề có liên quan đến tính dục của họ, bao gồm cả sức khỏe sinh sản và tình dục mà không bị ép buộc, thiếu thông tin, phân biệt đối xử và bạo lực. Chương trình Hành động của Hội nghị Quốc tế năm 1994 về Dân số và Phát triển cùng Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh được thông qua tại Hội nghị Thế giới về phụ nữ lần thứ tư năm 1995 đã nhấn mạnh các quyền của nam giới và phụ nữ trong việc tiếp cận những biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, có thể có được và chấp nhận được trong sự lựa chọn của họ, và quyền tiếp cận tới những dịch vụ chăm sóc sức khoẻ phù hợp để phụ nữ có thể có được sự an toàn trong suốt thời kỳ mang thai, sinh con và tạo cơ hội tốt nhất cho các cặp nam nữ để có được những trẻ em khỏe mạnh.

Bạo lực với phụ nữ là một nguyên nhân rộng khắp gây nguy hại về thân thể và tinh thần hay sự đau khổ cho phụ nữ, cũng như là sự vi phạm quyền sức khoẻ của họ. Uỷ ban Xóa bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ là một cơ chế của Liên Hợp Quốc để giám sát việc thực hiện CEDAW đã yêu cầu các quốc gia thành viên ban hành và thực hiện pháp luật và chính sách bảo vệ phụ nữ cùng những trẻ em gái khỏi bạo lực và lạm dụng, đồng thời cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ vật chất và tinh thần phù hợp cho họ. Những cán bộ và nhân viên y tế cần được tập huấn để phát hiện và xử lý các hậu quả sức khỏe của phụ nữ bị bạo lực. Các quốc gia thành viên phải hành động quyết liệt trong việc ngăn chặn, điều tra và truy tố những hành vi bạo lực bất kể do các quan chức nhà nước hay cá nhân gây ra. Nạn nhân của mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ cũng có quyền được đền bù, phục hồi sức khoẻ về tinh thần và thể xác.



* Điu phi viên quc gia Chương trình CEDAW Đông Nam Á, Qu Phát trin ph n Liên Hp Quc (UNIFEM)