ĐỜI SỐNG KINH TẾ XÃ HỘI CÁC HỘ GIA ĐÌNH

SAU TÁI ĐỊNH CƯ Ở TP HCM

 

LÊ VĂN THÀNH[1]

 

Trong quá trình phát triển, hầu hết các thành phố lớn trên thế giới đều có những chính sách điều chỉnh, quy hoạch lại không gian đô thị phù hợp. Sự phát triển thương mại, phát triển đầu tư, nhu cầu chỉnh trang đô thị, cải thiện cơ sở hạ tầng đòi hỏi điều chỉnh và di dời một số bộ phận dân cư có liên quan. Tuy nhiên, việc giải toả, di dời, tái định cư không chỉ dừng lại ở việc đưa một bộ phận dân cư từ nơi ở này sang nơi ở khác, mà tái định cư còn liên quan đến rất nhiều vấn đề như: công ăn việc làm, học hành, y tế, sự tiếp cận các dịch vụ đô thị, nhà ở, các quan hệ xã hội,…Do đó, tái định cư cần được nhìn nhận là một quá trình thay đổi có tính hệ thống về kinh tế, văn hoá, xã hội của một bộ phận dân cư hơn là chỉ dừng lại ở việc xem xét đây là quá trình thay đổi chỗ ở của người dân. Chính sách và những hành động hỗ trợ thực tế đóng vai trò quyết định trong việc ổn định cuộc sống người dân tái định cư.

Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn, dân số gần 7 triệu dân và không ngừng tăng nhanh nhưng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật không thể tăng cùng đã tạo ra một sức ép rất lớn cho hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị của thành phố và cũng đặt ra một nhu cầu về nhà ở rất lớn. Nếu cả nước việc di dời tái định cư chủ yếu phục vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, chuyển đất nông nghiệp sang đất công nghiệp và dân cư thì ở TP HCM, ngoài việc phục vụ cho xây dựng các khu cụm công nghiệp, vấn đề chỉnh trang và xây dựng mới đô thị là một yêu cầu rất cấp thiết, trong đó bao gồm cả việc xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội đô thị. Do vậy, về lâu dài, dù có cố gắng hạn chế tối đa thì việc di dời, giải phóng mặt bằng, chuyển mục đích sử dụng đất ở TP HCM vẫn phải tiếp diễn trên quy mô không nhỏ.

 

Sơ đồ 1: Tái định cư là một sự thay đổi có tính hệ thống

 Chính quyền Thành phố đã xem vấn đề di dời tái định cư là một trong những chương trình trọng điểm nhằm chỉnh trang nâng cấp đô thị cho phù hợp với sự phát triển của quá trình đô thị hoá. Nhiều dự án đã giải tỏa được hàng chục ngàn căn nhà ổ chuột, sắp xếp chỗ ở khang trang trong các chung cư cao tầng cho rất nhiều hộ dân có thu nhập thấp, giãn bớt dân ra các vùng ven, làm sạch các kênh rạch bị ô nhiễm, cải tạo nhiều hệ thống cơ sở hạ tầng cũ kỹ. Chính quyền luôn cố gắng hỗ trợ người dân tái định cư, giúp họ phục hồi và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nhằm đánh giá sự biến đổi các đặc điểm kinh tế xã hội các hộ gia đình trước và sau khi tái định cư, năm 2006, Viện Kinh tế TP Hồ Chí Minh (nay là Viện Nghiên cứu Phát Triển TP Hồ Chí Minh) đã tiến hành một nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp để hỗ trợ người dân sau tái định cư. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 300 hộ gia đình tái định cư bị di dời và giải toả hoàn toàn nhà ở, với các nhóm chính là: nhóm hộ tái định cư thuộc chương trình nhận căn hộ, nhóm hộ tái định cư thuộc chương trình nhận nền nhà, nhóm hộ nhận tiền tự lo và nhóm hộ tạm cư.

Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn về 6 vấn đề: (1) Thông tin kinh tế xã hội về những người trong hộ gia đình; (2) Những biến đổi về việc làm, thu nhập và điều kiện làm ăn; (3) Những biến đổi về nhà ở và điều kiện sinh hoạt; (4) Những biến đổi về giáo dục và đào tạo; (5) Những biến đổi về việc khám chữa bệnh, mua sắm và sử dụng dịch vụ; (6) Ý kiến và nguyện vọng của gia đình. Các khu tái định cư được lựa chọn nghiên cứu trải rộng từ nội thành đến các quận ven như Khu tái định cư phường Phú Mỹ - quận 7, Chung cư Hà Kiều–Gò Vấp (Nhiêu Lộc – Thị Nghè), Chung cư Lò Gốm – quận 6 và Khu tái định cư Bình Hưng Hòa A – Bình Tân (dự án 415), Khu tái định cư 10ha – phường Tân Thới Nhất, quận 12, Chung cư Bình Phú – quận 6, và Chung cư Huỳnh Văn Chính – phường Phú Trung, quận Tân Phú.

Đa số người dân sau tái định cư có thu nhập từ thấp đến trung bình. Họ không có khả năng tự tìm nơi ở mới cho mình sau khi bị giải toả. Đặc điểm lớn nhất là họ thực hiện quá trình di dời, tái định cư theo kế hoạch và tổ chức của Nhà nước. Chính vì vậy, họ là đối tượng được hỗ trợ nhiều nhất trong cộng đồng dân di dời và tái định cư.

Việc làm. Tỷ lệ người thay đổi việc làm khá thấp, chỉ chiếm 12,7% trong tổng số người đang làm việc hiện nay. Tuy nhiên, những con số thể hiện sự “ít thay đổi” này không phải là những con số khả quan. Việc đa số người dân không thay đổi việc làm không phải là một tín hiệu tốt, thể hiện khả năng tự ổn định cuộc sống của người dân sau tái định cư. Mà thực tế cho thấy, do người dân tái định cư thường không được bố trí tái định cư tại những nơi có nhiều nhu cầu việc làm hay có thị trường buôn bán thuận lợi nên đa số họ phải quay lại nơi ở cũ để làm việc và buôn bán. Trình độ chuyên môn thấp cũng ảnh hưởng đến việc thay đổi việc làm. Chính sự “không thể thay đổi” ấy khiến họ phải chịu nhiều khó khăn và tổn thất để giữ được công việc làm cũ nhằm tạo ra thu nhập cho gia đình. Và việc người dân không tìm được việc làm ở nơi ở mới cũng thể hiện sự khó khăn trong việc hoà nhập vào cộng đồng dân cư mới.

            Thu nhập. Đa số hộ có thu nhập thấp hơn lúc trước khi tái định cư, đồng thời chi phí cho cuộc sống của hầu hết các hộ dân đều tăng lên. Sự giảm sút về thu nhập cho thấy những khó khăn mà người dân phải chịu trong công việc làm ăn. Tuy người dân không thay đổi việc làm nhưng thu nhập họ kiếm được từ công việc làm ăn đã bị giảm sút do những khó khăn vì phải di chuyển chỗ ở, hoặc do những phí tổn do phải đi làm xa, và thậm chí có những phí tổn mà người dân không nhận thức hết được. Những khó khăn này trong thu nhập của người dân nên được coi là một trong những chỉ báo về sự không ổn định của người dân sau tái định cư để có những chính sách hỗ trợ tích cực hơn cho họ.

Học hành. Hầu hết con em các hộ gia đình tái định cư phải quay lại trường cũ để học, vì giấy tờ thủ tục khó khăn, nơi ở mới thiếu cơ sở vật chất, những giới hạn của định biên tài chính trong ngành giáo dục,….; và việc quay lại trường cũ học gây ra nhiều khó khăn cho các em học sinh cũng như các bậc phụ huynh. Chỉ có 10,8% học sinh chuyển trường đến gần nơi ở mới là một tỷ lệ đáng quan tâm, nó thể hiện sự khó khăn trong hoà nhập vào cộng đồng dân cư nơi ở mới của người dân tái định cư. Tỷ lệ khá đông học sinh phải tiếp tục học ở trường cũ gây ra khá nhiều những “tổn thất vô hình” như những xáo trộn về thời gian, những tổn thất về sức khoẻ và tâm lý cho người dân. Những khó khăn khác trong việc học hành của con em các hộ gia đình tái định cư như: tái định cư tác động mạnh mẽ đến việc học hành của con em các hộ nghèo dẫn đến tình trạng bỏ học sau tái định cư,… Chính vì thế, các cấp chính quyền cần quan tâm hơn nữa đến việc tạo thêm điều kiện thuận lợi, sự thông thoáng về giấy tờ hành chính để người dân có thể dễ dàng hơn trong việc chuyển trường cho con cái. Và một vấn đề mang tính lâu dài khác cũng cần quan tâm là việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về trường lớp, giáo viên ở các nơi ở mới cho con em các hộ gia đình tái định cư, thuận lợi cho cả người đến và cả nơi tiếp nhận.

Học nghề. Đa số người dân tái định cư không học nghề và không có nguyện vọng học nghề. Tỉ lệ muốn học nghề rất thấp Họ chưa ý thức được tầm quan trọng của việc có đựơc một trình độ chuyên môn nhất định để có thể có được nghề nghiệp ổn định tại nơi ở mới, không tha thiết với việc học hay tìm một nghề mới (có thể họ thiếu sự hướng dẫn) và họ chỉ quan tâm đến công việc cũ họ đang làm. Bên cạnh đó, những nơi bố trí tái định cư cho người dân thường không phải là những nơi có nhiều nhà máy, xí nghiệp hay cơ sở sản xuất, nên môi trường ở mới này không khuyến khích và thúc đẩy người dân có nguyện vọng học nghề. Họ chưa thấy được định hướng rõ ràng khi quyết định đi học nghề và phải học nghề gì. Đa số dân tái định cư là dân nghèo nên nhu cầu cuộc sống quá bức bách khiến họ phải tham gia ngay vào thị trường lao động mà không có thời gian học nghề; đồng thời kinh phí hỗ trợ việc học nghề cho người dân tái định cư hiện nay còn thấp khiến họ khó có thể trang trải trong suốt thời gian học nghề. Đồng thời, chất lượng, cơ cấu đào tạo của các trường dạy nghề tại Thành phố hiện nay cũng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn nên chưa tạo được niềm tin nơi người dân. 

Điều kiện nhà ở của người dân sau tái định cư được cải thiện rất nhiều, người dân được ở trong những ngôi nhà kiên cố hơn, với tình trạng nhà ở tốt hơn và tỷ lệ nhà tạm bợ giảm đáng kể. Điều này cho thấy các dự án tái định cư đã phần nào thành công trong việc tạo điều kiện cho người dân có được những chỗ ở khang trang, sạch sẽ, góp phần chỉnh trang bộ mặt đô thị. Tuy nhiên, đa số người dân chưa có sổ hồng hay sổ đỏ để đựơc thừa nhận quyền sở hữu nhà đất chính thức. Việc chưa có giấy tờ nhà chính thức khiến cho người dân không yên tâm, không thể thế chấp nhà cho ngân hàng khi cần vay vốn làm ăn hoặc không thể bán nhà đang ở để chuyển chỗ ở khác. Tình trạng giấy tờ nhà ở của người dân tái định cư chính là một trong những yếu tố “phi vật chất” mà các cấp có trách nhiệm cần quan tâm nhiều hơn để tạo tâm lý ổn định cho người dân. Một vấn đề khác là dân tái định cư có nhiều âu lo về việc trả góp tiền nhà hàng tháng. Với những căn nhà nhỏ, diện tích nhỏ trước tái định cư, họ đã nhận những khoản tiền nhỏ. Với những căn hộ tái định cư tương đối khang trang, giá bán cao hơn số tiền họ sẳn có, nên họ phải trả góp. Trường hợp Bình Hưng Hòa của dự án 415 là một ví dụ.

Các điều kiện sinh hoạt khác. Đa số hộ dân cho rằng các điều kiện sinh hoạt trong khu vực cư trú mới của họ tốt hơn nơi ở cũ. Hầu hết các hộ đều có nhà vệ sinh riêng, có đồng hồ điện và đồng hồ nước riêng. Tình trạng vệ sinh môi trường tốt hơn, tiếng ồn giảm nhiều, tỷ lệ hộ bị ngập nước vào mùa mưa giảm. Hệ thống đường giao thông trong khu vực cũng tốt hơn và tình hình an ninh trong khu vực được bảo đảm. Quan hệ hàng xóm láng giềng ngày càng thân thiện, giúp đở nhau vì cùng cảnh ngộ. Lối sống ở các chung cư cũng mang lại tính chất văn minh, hiện đại hơn cho một bộ phận dân cư. 

Việc tiếp cận các dịch vụ đô thị. Chưa có đủ các cơ sở y tế trong các khu tái định cư của người dân và các cơ sở y tế cũng chưa tạo được niềm tin đối với người dân, điều này thể hiện ở gần 1/2 số hộ dân không lựa chọn khám bệnh tại các cơ sở y tế gần nhà. Bên cạnh đó, khảo sát cũng cho thấy tất cả các dịch vụ xã hội như: siêu thị, shop quần áo, bưu điện, các loại hình giải trí (bia, internet,…), quán ăn và tiệm tạp hoá đều rất gần các khu chung cư, một số gần các khu tái định cư nhận nền nhà nên việc tiếp cận các dịch vụ này của các hộ tái định cư theo chương trình khá thuận lợi. Còn các hộ thuộc diện “nhận tiền tự lo” hoặc “tạm cư” gặp khá nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội vì do lý do kinh tế nên họ thường chọn ở tại những khu vực tồi tàn, chưa có đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như các dịch vụ xã hội. Rõ ràng là các hộ tái định cư theo chương trình thường nhận được khá nhiều các điều kiện thuận lợi để ổn định cuộc sống tại nơi ở mới. Ban quản lý các dự án cần trình bày và phân tích rõ tất cả các nội dung này cho các hộ dân thuộc diện phải giải toả di dời và khuyến khích họ đi theo chương trình tái định cư của Nhà nước để có được sự hỗ trợ cần thiết cho việc ổn định cuộc sống.

Các quan hệ xã hội. Đa số hộ gia đình vẫn giữ được quan hệ như cũ với hàng xóm cũ của mình. Đặc biệt, các hộ gia đình về tái định cư ở cùng một nơi mới đã có được mối quan hệ rất tốt với nhau, họ quan tâm giúp đỡ nhau rất nhiều. Tuy nhiên,  người dân tái định cư cũng còn gặp khá nhiều khó khăn trong việc hoà nhập với cộng đồng dân cư nơi ở mới, và ở một số nơi cũng đã xảy ra những mâu thuẫn không đáng có. Mặc dù đây chưa phải là vấn đề lớn nhưng, các cấp có trách nhiệm cũng cần quan tâm hơn đến vấn đề này để giúp cho người dân tái định cư được “an cư” tại nơi ở mới.

Chính quyền địa phương nơi đi, sau khi người dân chuyển đi khỏi địa bàn mình quản lý thường khó có điều kiện nắm bắt, theo dõi quản lý tiếp đối tượng tái định cư. Những hộ có đến khai báo nơi tạm trú mới cho chính quyền địa phương nơi đi, cũng chỉ cho lần đầu di chuyển. Những lần di chuyển tiếp, họ gần như mất tích. Các Ban Quản lý dự án, sau khi thực hiện xong việc bồi thường, cũng không biết họ đi đâu về đâu. Nhiều người trong số họ tiếp tục dạt ra các vùng ngoại vi thành phố và thậm chí mua đất quy hoạch và xây nhà bất hợp pháp. Cuộc sống không ổn định lại tiếp tục. Có một thực tế là người dân nhận tiền đền bù, tự lo chỗ ở đã không được ai quản lý tiếp, với tư cách là người dân sau tái định cư.

Chính quyền địa phương nơi đến có vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp đỡ, hỗ trợ người dân tái định cư ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống. Những hỗ trợ từ phía chính quyền, đoàn thể cho các hộ gia đình tái định cư nhằm ổn định cuộc sống chỉ mới dừng lại ở chỗ giải quyết một số thủ tục hành chính. Trong khi đó, để có thể ổn định cuộc sống, người dân tái định cư cần được hỗ trợ trong các lĩnh vực của thực tế cuộc sống “hậu tái định cư” như: giúp tìm việc làm, hỗ trợ làm ăn buôn bán, giúp học nghề, giúp đỡ hoàn tất các thủ tục hành chính, giúp đỡ cho con em được đến trường thuận lợi tại nơi ở mới,…. Thực tế một số chính quyền địa phương nơi đến vẫn chưa làm tốt các chức năng của mình trong việc quan tâm, chăm sóc những người dân tái định cư mới đến. Ở một số dự án, đặc biệt là ở những nơi người dân mới đến tái định cư (điển hình là khu tái định cư Bình Hưng Hoà thuộc Dự án 415), người dân tái định cư chưa được thừa nhận là cư dân chính thức của địa phương, không được tham gia vào tổ dân phố, vào các tổ chức xã hội và chưa được hưởng những sự chăm sóc như: bảo hiểm y tế, xoá đói giảm nghèo, tiêm chủng phòng bệnh,…. Những hạn chế về nhân lực, về vật lực của các cơ quan chính quyền địa phương nơi đến cũng khiến họ không có khả năng chăm lo thêm cho một bộ phận dân cư mới. Đồng thời, đôi khi một địa phương phải nhận quá nhiều dân tái định cư từ các dự án khác nhau đến nên họ không có khả năng cũng như điều kiện để chăm sóc tất cả các bộ phận dân cư mới này. Khi xây dựng các chương trình tái định cư, Ban quản lý các dự án cần trao đổi và làm việc kỹ lưỡng với chính quyền địa phương các khu vực tái định cư để các địa phương có sự chuẩn bị và những phương án chăm sóc người dân tốt nhất.

Qua nghiên cứu, có thể thấy tái định cư (đặc biệt đối với những người đã nhận nhà TĐC) không gây ra những thay đổi đáng kể nào, như tỷ lệ người thay đổi tình trạng hoạt động và thay đổi việc làm không cao, tỷ lệ trẻ em ở độ tuổi đi học chuyển trường không nhiều,….Tuy nhiên, cuộc sống sau tái định cư của người dân gặp khó khăn rất nhiều. Cuộc sống “hậu tái định cư” của người dân không biến động theo chiều nổi, mà theo chiều sâu. Những sự biến động theo chiều sâu đó chính là những tổn hại “phi vật chất”, những thiệt hại “vô hình” đã được nhắc đến nhiều trong các khuyến cáo của các tổ chức quốc tế nhưng chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. Như vậy, có thể thấy cuộc sống “hậu tái định cư” của các hộ gia đình còn gặp khá nhiều khó khăn và khả năng phục hồi, nâng cao chất lượng cuộc sống sau tái định cư là khá chậm.

Nguyên nhân của vấn đề này là do các dự án, các chương trình tái định cư chỉ mới quan tâm chăm lo cho vấn đề nhà ở của người dân mà chưa chú trọng đến những yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường cùng những vấn đề “vô hình” khác. Trong mỗi dự án phát triển cần hạn chế di dời hay di dời ở mức tối thiểu để người dân không phải chịu những xáo trộn, những tổn thất cả “hữu hình” và “vô hình” do giải toả, di dời và tái định cư mang lại. Đồng thời, khi mỗi dự án được đề ra, trước hết cần có các cuộc điều tra xã hội học để tìm hiểu đầy đủ thông tin kinh tế xã hội và nguyện vọng của các hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi dự án để có thể có những chính sách bồi thường, giải toả, tái định cư thích hợp và định hướng nghề nghiệp, công ăn việc làm của họ sau này. Để có thể có được sự hỗ trợ toàn diện về tất cả các mặt cho người dân tái định cư cần phải có nguồn kinh phí rất lớn. Nguồn kinh phí này có thể huy động từ ngân sách Nhà nước, từ các nguồn viện trợ, và nhất là từ những đối tượng được hưởng lợi từ dự án, như các nhà đầu tư và kể cả người dân còn ở lại.



[1] Vin Nghiên cu Phát trin TPH Chí Minh