NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÂN TẦNG

MỨC SỐNG Ở VIỆT NAM

                                                                        THS. LÊ VĂN TOÀN*

1. Đặc điểm của hộ gia đình

- Quy mô hộ: số người trong hộ gia đình là yếu tố tác động đến phân tầng về mức sống. Một số điều tra xã hội học gần đây cho thấy, gia đình đông con sẽ dẫn đến nghèo đói và số con trong các hộ nghèo thường cao hơn các hộ giàu. Kết quả phân tích số liệu cho thấy, mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa phân tầng về mức sống với quy mô hộ gia đình. Nhóm có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất đều thuộc về những hộ gia đình có đông người, từ 5 đến 6 người chiếm 24,1%; trên 7 người chiếm 35,8% và nhóm hộ đông người có thu nhập cao chỉ chiếm một tỷ lệ thấp 10% (Bảng 1).

Bảng 1: Quy mô hộ với phân tầng mức sống theo nhóm thu nhập

                                                                                                             Đơn vị tính: %

Số người trong hộ

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Hộ từ 1 đến 3 người

13,1

15,6

19,3

23,4

28,5

Hộ có 4 người

14,6

19,3

21,7

22,4

21,9

Hộ từ 5 đến 6 người

24,1

21,9

21,2

18,2

14,5

Hộ từ 7 người trở lên

35,8

23,0

15,8

15,0

10,4

Nguồn: Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004

Quy mô hộ gia đình nghèo có xu hướng lớn hơn so với hộ gia đình giàu. Trong thực tế, các hộ nghèo mỗi lao động thường phải nuôi dưỡng số trẻ em, người già nhiều hơn so với hộ giàu và họ thường có mức thu nhập thấp, cộng với quy mô hộ lớn sẽ trở thành gánh nặng và là nguyên nhân làm cho người nghèo khó có khả năng vươn lên thoát nghèo. Như vậy, quy mô hộ gia đình là một trong những yếu tố tác động đến phân tầng về mức sống và phân hoá giàu nghèo.

            - Dân tộc: gần 50% số chủ hộ là người dân tộc thiểu số thuộc nhóm có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất và chỉ có một tỷ lệ rất thấp thuộc nhóm có thu nhập cao nhất 5,7% (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1: Thu nhập bình quân đầu người/năm giữa các dân tộc

                                                  

Nguồn: xử lý và phân tích từ số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004.

            Biểu đồ 1 cho thấy, nhóm hộ khá và giàu chủ yếu thuộc về người Kinh chiếm gần 50% tổng dân số cả nước. Vẫn còn một tỷ lệ đáng kể người Kinh có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nhưng so với các dân tộc khác thì tỷ lệ chêch lệch chỉ chiếm một tỷ lệ thấp hơn nhiều (14,1% so với 48,9%). Những chủ hộ là người các dân tộc thiểu số có xác suất rơi vào nhóm có thu nhập cao nhất chỉ chiếm một tỷ lệ thấp 5,7%, nhóm có thu nhập khá là 9,3%. Trong khi đó, những chủ hộ là người Kinh tỷ lệ thuộc nhóm có thu nhập cao nhất chiếm 22,8%, nhóm có thu nhập khá là 22%. Kết quả phân tích số liệu VLSS93 và VLSS98 cũng cho kết quả tương tự, nhóm dân tộc ít người là nghèo hơn nhiều so với nhóm dân tộc Kinh và người Hoa(1).

2. Các yếu tố về cá nhân chủ hộ

- Giới tính: những hộ gia đình có chủ hộ là nữ thuộc về nhóm giàu nhiều hơn so với những hộ có chủ hộ là nam. Chủ hộ là nữ có 26,7% thuộc nhóm có thu nhập bình quân đầu người cao nhất, trong khi đó nam là 18,1%. Chủ hộ là nữ thuộc nhóm có thu nhập thấp chỉ chiếm tỷ lệ 16%, trong khi đó tỷ lệ này ở nam là 20,6%. Nếu so sánh với kết quả VLSS93 và VLSS98 về sự khác biệt giới tính của chủ hộ cũng cho kết quả tương tự. Điều đó phản ánh sự ảnh hưởng của giới có tác động nhất định đến phân tầng về mức sống.

- Độ tuổi: những hộ gia đình giàu thường có chủ hộ tuổi cao, bởi lẽ mỗi người thường phải mất một khoảng thời gian nhất định mới có được kinh nghiệm, sự thăng tiến và uy tín xã hội để đạt được mức thu nhập cao. Kết quả phân tích số liệu cho thấy sự ảnh hưởng của độ tuổi đến thu nhập qua các nhóm tuổi khác nhau. Những chủ hộ ở độ tuổi từ 50 đến 59 tuổi có 25,5% thuộc nhóm có thu nhập bình quân đầu người cao nhất; từ 40 đến 49 tuổi là 22,2%; từ 60 đến 69 tuổi là 20,9%. Trong khi đó, những chủ hộ dưới 30 tuổi có 31,6% thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất; từ 30 đến 39 tuổi là 26% và ở độ tuổi trên 70 tuổi là 21,6%. Như vậy, tuổi của chủ hộ có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ và là một trong những yếu tố tác động đến phân tầng về mức sống, nhưng xu hướng chung là phân tán giữa các độ tuổi.

            - Trình độ học vấn: mức sống của người dân Việt Nam chưa cao so với nhiều nước trên thế giới, nhưng tỷ lệ người biết chữ thuộc loại cao trên thế giới. Tỷ lệ người biết chữ của dân số từ 10 tuổi trở lên ngày càng tăng: năm 1992-1993 là 86,6%; năm 1997-1998 là 89,5%; năm 2001-2002 là 92,1% và năm 2005-2006 là 93,1% (Tổng cục Thống kê, Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2008, tr 24). Tuy nhiên, hộ thuộc nhóm giàu có trình độ học vấn cao hơn rất nhiều so với hộ nghèo. Chủ hộ có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học có 68,3% số hộ thuộc nhóm giàu và chỉ có 0,2% số hộ thuộc nhóm nghèo (Bảng 2).

Bảng 2: Trình độ học vấn của chủ hộ theo nhóm thu nhập

Đơn vị tính: %

Học vấn

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Không biết chữ

42,9

21,5

16,5

11,9

7,2

Không bằng cấp

25,7

23,2

20,1

17,2

13,9

Tiểu học

20,7

22,1

22,5

19,9

14,8

Trung học cơ sở

14,9

19,6

22,5

23,1

19,9

Trung học phổ thông

6,5

12,4

19,1

27,1

34,9

CĐ, ĐH và trên đại học

0,2

2,2

5,7

23,4

68,3

Nguồn: Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004

            Hầu hết những hộ có trình độ học vấn thấp (không biết chữ, không có bằng cấp) đều thuộc nhóm nghèo và chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ thuộc nhóm giàu. Những chủ hộ không biết chữ có xác suất rơi vào nhóm nghèo, có thu nhập thấp rất lớn chiếm 42,9% và chỉ có 7,2% thuộc nhóm có thu nhập cao nhất. Điều đó cho thấy, thu nhập của hộ gia đình có xu hướng tăng theo trình độ học vấn của chủ hộ và học vấn tăng một cấp sẽ làm giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, tăng tỷ lệ giàu. Số liệu Bảng 2 cho thấy, những chủ hộ có trình độ tiểu học tỷ lệ hộ thuộc nhóm nghèo chiếm 20,7% và nhóm hộ giàu là 14,8%. Ngược lại, nếu chủ hộ có trình độ học vấn trung học phổ thông thì tỷ lệ nghèo chỉ chiếm 6,5% và tỷ lệ giàu tăng lên 34,9%. Một số nghiên cứu gần đây cũng khẳng định sự tác động của yếu tố học vấn đến phân tầng về mức sống. “...nếu một lao động nông thôn qua trường học, đào tạo từ 5-7 năm thì năng suất lao động của họ tăng lên 10-20%... Nghiên cứu đã tìm ra xu hướng tác động của học vấn làm tăng giàu và giảm nghèo khi trình độ học vấn của chủ hộ tăng dần”. Số năm đi học trung bình của những thành viên (trên 5 tuổi) của hộ thuộc nhóm giàu là 8,2 năm so với 4,4 năm của nhóm nghèo. Những chủ hộ có trình độ đại học hoặc cao đẳng trở lên thì có tới 3/4 số hộ thuộc nhóm giàu và chỉ dưới 1% số hộ thuộc nhóm nghèo. Các số liệu phân tích ở trên một lần nữa khẳng định sự tác động của yếu tố học vấn đến phân tầng về mức sống và phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét.

            - Nghề nghiệp: học vấn có vai trò quan trọng đối với cơ hội lựa chọn nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Trình độ học vấn cao sẽ đảm bảo cho sự duy trì tính cơ động nghề nghiệp trong xã hội, theo đó ảnh hưởng tới sự biến đổi địa vị xã hội của mỗi cá nhân. Kết quả phân tích số liệu điều tra cho thấy, hộ giàu có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất thường làm việc trong các loại nghề như: chuyên môn, cán bộ lãnh đạo, viên chức, nhân viên trong các lĩnh vực nhà nước. Trong khi đó, nhóm hộ có mức thu nhập thấp nhất làm nghề lao động giản đơn trong các lĩnh vực chiếm tỷ lệ khá cao (Bảng 3).

Bảng 3: Loại nghề nghiệp của chủ hộ theo nhóm thu nhập

                                                                                                                 Đơn vị tính: %

Loại nghề

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

Lãnh đạo

4,8

11,8

21,0

25,3

37,1

Chuyên môn

0,7

3,7

11,8

28,0

55,6

Nhân viên

3,3

10,7

16,5

27,5

42,0

Lao động có kỹ thuật

9,4

10,6

23,7

24,5

26,4

Lao động giản đơn

25,1

22,3

21,0

18,8

12,8

Không làm việc*

17,1

19,0

17,9

20,0

26,0

Nguồn: Xử lý và phân tích từ số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004

            Qua số liệu Bảng 3, những hộ gia đình có chủ hộ làm việc trong khu vực hưởng lương nhà nước như: cán bộ công chức, viên chức, nhân viên và tương đương có thu nhập bình quân đầu người cao hơn những hộ làm nghề lao động giản đơn trong các lĩnh vực khai thác mỏ, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng, công nghiệp. Phân bố thu nhập theo nghề nghiệp của chủ hộ có sự chênh lệch khá rõ giữa các nghề. Nhóm có thu nhập cao nhất chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực chuyên môn chiếm 55,6%; nhân viên trong các lĩnh vực 42%; cán bộ lãnh đạo các đơn vị 37,1% và có xác suất rơi vào nhóm có thu nhập thấp chỉ chiếm một tỷ lệ thấp: 0,7%; 3,3% và 4,8%. Ngược lại, những chủ hộ làm nghề lao động giản đơn trong các lĩnh vực có thu nhập thấp nhất chiếm tỷ lệ cao 25,1% và không làm việc 17,1%.

Nghề nghiệp là yếu tố thể hiện địa vị xã hội của mỗi cá nhân cũng như các nhóm xã hội. Các cá nhân trong xã hội, dù có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng sẽ có chung hàng loạt mối quan tâm và những điểm tương đồng xuất phát từ sự giống nhau về nghề nghiệp. Ngược lại, dù các cá nhân có rất nhiều quan hệ giống nhau song đa phần những điểm này sẽ tất yếu mất đi khi họ làm những nghề nghiệp khác nhau. Tuy nhiên, không phải nghề nghiệp nào cũng mang lại thu nhập như nhau mà trong mỗi giai đoạn, mỗi xã hội cụ thể luôn có một số nghề nghiệp mang lại thu nhập cao và giúp họ có được mức sống cao hơn so với những nghề nghiệp khác. Trong những năm gần đây, ở nước ta một số nghề nghiệp thuộc những ngành kinh tế mang lại thu nhập cao như: ngân hàng, viễn thông, hàng không, dầu khí, hải quan... Những người làm việc trong các nghề này không có gì đặc biệt hơn so với nghề khác, trình độ tay nghề cũng không cao hơn một số nghề nghiệp khác song do lợi thế nghề nghiệp, độc quyền trong kinh doanh nên họ nhận được những nguồn thu nhập cao hơn rất nhiều so với những người làm việc ở các nghề nghiệp khác.

            Phân tầng về mức sống bị tác động bởi những yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó, trình độ học vấn của chủ hộ là yếu tố tác động theo hướng mạnh dần lên. Do vậy, việc nâng cao trình độ học vấn cho người dân, nhất là nhóm hộ có học vấn thấp sẽ là yếu tố cơ bản để nâng cao mức sống và giảm khoảng cách chênh lệch về mức sống, phân hóa giàu nghèo. Bên cạnh đó, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ trong thời gian tới cần ưu tiên đối với những vùng khó khăn để từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển không đồng đều giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn. “Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững” nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.



* Hc vin Chnh tr Hành chnh Quc gia H Ch Minh.

(1) Đỗ Thiên Kính, Phân hóa giàu nghèo và tác động ca yếu t hc vn đến nâng cao mc sng cho người dân Vit Nam, Nxb Khoa hc xã hi, Hà Ni, 2003, tr 77.

* Những hộ không làm việc ở đây là những chủ hộ tuổi cao và không trực tiếp tham gia lao động, nhưng có thể vẫn có thu nhập từ các nguồn khác như: lương hưu, trợ cấp, ưu đãi...