LỰA CHỌN CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI:

NĂM BIỆN PHÁP THẾ HỆ TIẾP THEO

                                                                                                KARIN RINGHEM, JAMES GRIBLE

Biện pháp tránh thai là “sự lựa chọn tốt nhất” cho phát triển. Với việc giúp các cá nhân lựa chọn khi nào có con, kế hoạch hóa gia đình cứu được nhiều cuộc sống; giúp ngăn ngừa nhiều trường hợp có thai ngoài ý muốn, chết mẹ và trẻ em cũng như hạn chế nạo phá thai. Kế hoạch hóa gia đình cũng tiết kiệm được nguồn lực công; với mỗi đôla Mỹ mà chính phủ chi tiêu cho cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, có thể tiết kiệm được từ 2 đến 6 đôla Mỹ cho việc cung cấp các can thiệp khác bao gồm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục cơ bản cho ít trẻ em hơn, dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và nâng cao chất lượng nước sinh hoạt và cải thiện điều kiện vệ sinh.

Một nửa số phụ nữ có chồng trên thế giới hiện nay đang sử dụng một biện pháp tránh thai hiện đại, nhưng 200 triệu phụ nữ trên toàn cầu vẫn còn “nhu cầu chưa được đáp ứng” – những người này hoặc là muốn ngừng có con hoặc trì hoãn việc sinh con trong ít nhất 2 năm, nhưng lại không sử dụng một biện pháp tránh thai có hiệu quả. Nhu cầu chưa được đáp ứng còn bị trầm trọng thêm bởi việc thiếu thông tin, sợ không được xã hội chấp nhận hoặc sự phản đối của người chồng cũng như băn khoăn về tác dụng phụ của biện pháp tránh thai hoặc tác động đến sức khỏe. Nhu cầu chưa được đáp ứng có thể giảm đi một cách đáng kể thông qua việc mở rộng tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện chưa được sử dụng đúng mức và đảm bảo với khách hàng rằng có đủ các loại biện pháp tránh thai hiện đại đáp ứng nhu cầu đa dạng của họ. Nhu cầu chưa được đáp ứng cũng cần được đánh giá thông qua các nghiên cứu hiện nay về các biện pháp tránh thai nhằm mục đích nâng cao khả năng chấp nhận và dễ sử dụng và cung cấp cho người sử dụng những lựa chọn mà họ có thể kiểm soát tốt hơn. Bài phân tích chính sách này giới thiệu năm biện pháp tránh thai “thế hệ mới”, mỗi biện pháp đều có một hoặc nhiều ưu điểm so với các biện pháp trước đó. Những biện pháp mới này nằm trong số những biện pháp được mong đợi sẽ đưa ra thị trường trong 5 năm tới và có thể hỗ trợ các chương trình quốc gia trong việc làm cho các biện pháp tránh thai trở nên dễ tiếp cận và thu hút đối với phụ nữ và các cặp vợ chồng.

 Một số biện pháp tránh thai thế hệ tiếp theo

Sản phẩm

Loại biện pháp

Cải tiến

Tiến độ

Thuốc cấy tránh thai Sino (II)

Hooc môn

Giá thấp hơn rất nhiều so với các loại thuốc cấy trước đó

Được sử dụng rộng rãi tại Trung Quốc và Indonexia. Hiện nay được đăng ký tại Kenya và Siera Leon; đang trong quá trình xem xét của hội đồng danh mục thuốc quốc gia tại 8 quốc gia khác và dự kiến đến giữa năm 20010 sẽ có thêm 10 quốc gia nữa xem xét.

Thuốc tiêm tránh thai một liều duy nhất Depo-SubQ Provera 104

Hooc môn

Công thức mới dành cho tiêm dưới da chứ không phải tiêm bắp; được đóng gói trong ống tiêm sử dụng một lần để cho phép tiếp cận rộng rãi hơn

Depo-SQ được Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) thông qua; dự kiến sẽ được thông qua bởi Cơ quan Y tế châu Âu (EMEA) vào giữa năm 2010. Dự kiến giới thiệu vào năm 2011-2012.

Vòng âm đạo NES-EE

Hooc môn

Thời gian bảo vệ dài hơn (12 tháng so với 1 tháng như hiện nay). Không cần bảo quản lạnh trước khi đặt. Có khả năng sử dụng như là biện pháp tránh thai khẩn cấp

Dự kiến giới thiệu vào năm 2011-2012, đang chờ sự thông qua của FDA

Màng ngăn SILCS

Ngăn cách

Không cần đặt bởi người cung cấp dịch vụ; thiết kế thân thiện cho người sử dụng dễ dàng đặt và lấy ra

Dự kiến giới thiệu vào năm 2011, đang chờ sự thông qua của FDA

Biện pháp tránh những ngày nguy hiểm bằng thông báo qua điện thoại

Nhận thức về sinh sản

Khách hàng được nhắc nhở về giai đoạn dễ thụ thai và cần kiêng giao hợp hoặc dùng biện pháp màng ngăn âm đạo thông qua dịch vụ tin nhắn điện thoại di động (SMS)

Đang được thử nghiệm tại ấn Độ (2009)

 

Thuốc cấy tránh thai Sino (II): Loại thuốc cấy có chi phí thấp

Thuốc cấy tránh thai khá linh hoạt, ống giải phóng hooc môn được làm bằng silicon tiêu chuẩn dùng trong y tế. Những chiếc ống có kích thước bằng que diêm được cấy dưới da bắp tay trên của người phụ nữ, có thể cấy và sau đó lấy ra một cách nhanh chóng bằng một quy trình tiểu phẫu do nhân viên y tế thực hiện. Tùy thuộc vào loại sản phẩm, thuốc cấy tránh thai có thể ngừa thai từ 3 tháng đến 5 năm. Mặc dù thuốc cấy tránh thai đã được phát triển từ 25 năm trước, đây vẫn là loại biện pháp ít sẵn có nhất; có nhiều phụ nữ mong muốn sử dụng thuốc cấy tránh thai nhiều hơn số có thể có được chúng. Tại Kenya, nơi thuốc cấy tránh thai là một trong những biện pháp vĩnh viễn và có tác dụng lâu dài được sử dụng rộng rãi nhất, cầu vẫn tiếp tục vượt quá cung.

Thông thường chỉ bác sĩ được phép cấy và lấy thuốc cấy ra – một yêu cầu góp phần làm tăng chi phí và làm giảm cơ hội tiếp cận. Tuy nhiên, ở một số khu vực thì y tá và các nhân viên y tế khác cũng được đào tạo về cấy và lấy thuốc cấy ra. Thuốc cấy tránh thai có hiệu quả cao với tỷ lệ có thai dưới 1 phần trăm và tỷ lệ tiếp tục sử dụng cao hơn so với bất cứ biện pháp tránh thai nào khác, ngoài biện pháp đình sản. Các ống thuốc cấy tránh thai chứa một loại hooc môn có tác dụng làm đặc dịch tử cung và ngăn cản sự rụng trứng. Thuốc cấy không chứa nội tiết tố nên chúng an toàn cho phụ nữ đang cho con bú (cấy 6 tuần sau khi sinh) và có thể sử dụng bởi những phụ nữ đang hút thuốc. Đối với những phụ nữ mong muốn có thai, thuốc cấy tránh thai có ưu điểm là có thể ngừng tác dụng tránh thai ngay lập tức sau khi lấy ra.

Thuốc cấy Sino (II), loại thuốc có hai ống được sản xuất từ năm 1994 bởi Công ty dược phẩm Dahua Thượng Hải, có tác dụng tránh thai trong 4 năm với chi phí chỉ bằng 30% đến 40% chi phí của các thuốc cấy hiện đang sử dụng (căn cứ trên việc so sánh sản phẩm và số lượng do các nhà tài trợ quốc tế mua). Chi phí thấp hơn giúp chương trình có thể cung cấp cho nhiều khách hàng hơn. Tính đến nay, 7 triệu đơn vị thuốc cấy Sino (II) đã được phân phát ở Trung Quốc và Indonesia. Gần đây nhất, sản phẩm đã được đăng ký ở Kenya và Siera Leon với thương hiệu là Zarin. Hiện nay, biện pháp này đang trong quá trình xem xét bởi hội đồng thuốc quốc gia tại 8 quốc gia và dự kiến đến tháng 6/2010 sẽ có 10 nước nữa đưa vào xem xét. Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc tế (FHI) dành ngân sách đến năm 2013 để đảm bảo chất lượng sản phẩm và hỗ trợ các đối tác địa phương trong quá trình đăng ký sản phẩm.

Depo-SubQ Provera 104: Nâng cao khả năng tiếp cận và khả năng tự kiểm soát của người dùng

Thuốc tiêm tránh thai có chứa hooc môn DMPA lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1971 ở Thái Lan và hiện nay được đăng ký tại 179 nước. Tùy thuộc vào loại sản phẩm cụ thể, thuốc tiêm tránh thai có tác dụng tránh thai từ một đến ba tháng bằng cách ngăn cản sự rụng trứng. Thuốc tiêm tránh thai có hiệu quả cao; nếu tuân thủ đúng thời gian tiêm thuốc, không đến 3 trong số 1.000 phụ nữ sẽ có thai. Trong thực tế sử dụng, tỷ lệ thất bại của thuốc tiêm tránh thai là khoảng 3%, không bằng một nửa tỷ lệ của thuốc uống tránh thai.

DMPA không đắt và có thể được sử dụng bởi phụ nữ đang cho con bú từ 6 tháng sau khi sinh. Trong những năm gần đây, thuốc tiêm tránh thai là biện pháp được sử dụng rộng rãi nhất ở nhiều nước khu vực cận Sahara ở châu Phi. Các cuộc điều tra cho thấy từ 6% đến 20% người sử dụng biện pháp này hoàn toàn không biết về các biện pháp tránh thai khác. Một thế hệ thuốc tiêm tránh thai DMPA mới – Depo-SubQ Provera 104 ba tháng (Depo-SQ) đã được đưa vào sử dụng ở Mỹ và nhiều nước châu Âu. Nó được điều chỉnh công thức để tiêm dưới da bằng cách sử dụng kim tiêm ngắn hơn nhiều so với kim tiêm dùng để tiêm bắp. Điều này giúp các dược sỹ và nhân viên y tế cộng đồng được đào tạo có thể tiêm dễ dàng hơn.

Một cải tiến nữa hiện đang được PATH đánh giá là nạp sẵn Depo-SQ vào ống tiêm sử dụng một lần một liều duy nhất. Loại hình mới này sẽ giúp nâng cao khả năng tiếp cận dựa vào cộng đồng một cách đáng kể và mở ra cơ hội lớn cho việc sử dụng tại nhà hay thậm chí tự sử dụng. Từ các điều tra do FHI thực hiện trong số những người sử dụng mới và đã sử dụng Depo lâu, một phần tư nói rằng họ muốn được tiêm tại nhà, trong khi đó một tỷ lệ tương tự muốn được tiêm bởi các nhân viên y tế cộng đồng. PATH mong muốn triển khai các nghiên cứu đánh giá trước khi giới thiệu Depo-SQ một liều duy nhất vào năm 2010, và sẽ bắt đầu sử dụng vào năm 2011-2012. Khi được sử dụng rộng rãi, Depo-SQ một liều duy nhất trong ống tiêm sử dụng một lần sẽ giúp phụ nữ có được biện pháp tránh thai hoàn toàn do người sử dụng kiểm soát và giúp đảm bảo tính riêng tư và mức độ bảo vệ cao với chi phí hợp lý so với sản phẩm đang có hiện nay.

NES-EE: Vòng âm đạo có tác dụng lâu dài

Vòng tránh thai có tác dụng 1 năm NES-EE được phát triển bởi Hội đồng Dân số là một biện pháp do người sử dụng kiểm soát và được cung cấp theo đơn của bác sĩ. Một vòng silicon có chu vi khoảng 2 inch (5 cm) được người phụ nữ tự đặt vào âm đạo của mình. Do vị trí chính xác của chiếc vòng không phải là vấn đề quan trọng, vòng âm đạo không cần phải đặt bởi nhân viên y tế. Vòng âm đạo liên tục giải phóng ra hoạt chất kết hợp giữa hai loại hooc môn liều thấp có tác dụng ngăn cản sự rụng trứng. Sau 3 tuần, người dùng sẽ lấy vòng ra trong thời gian có kinh và sau đó đặt lại vào âm đạo. Một vòng NES-EE có thể đặt lại hàng tháng trong thời gian một năm. Vòng âm đạo không phù hợp cho phụ nữ đang cho con bú hoặc phụ nữ trên 35 tuổi hút thuốc.

Hội đồng Dân số và Viện Y tế quốc gia Mỹ gần đây đã hoàn thành các nghiên cứu trên thế giới về hiệu quả tránh thai và sự chấp nhận của vòng NES-EE. Các kết quả ban đầu cho thấy phụ nữ rất thỏa mãn với biện pháp này và sẵn sàng giới thiệu cho những người khác. Phụ nữ thấy rằng vòng rất dễ sử dụng và không quan tâm đến việc phải sử dụng lại một vòng duy nhất trong suốt một năm. Nghiên cứu cũng cho thấy vòng âm đạo ở mức độ nào đó có thể hiệu quả trong sử dụng thực tế so với thuốc uống với tỷ lệ thất bại chỉ là 7%. Vòng NES-EE cũng cho thấy tiềm năng sử dụng như là biện pháp tránh thai khẩn cấp khi được đặt vào ngay sau khi có quan hệ tình dục không bảo vệ.

Hội đồng Dân số ước tính sau khi được Hội đồng thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) thông qua, vòng NES-EE sẽ được đưa ra thị trường vào năm 2012. Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) dự đoán chi phí của vòng âm đạo có tác dụng lâu dài này ở khu vực y tế công sẽ dưới 10 đôla Mỹ cho 1 năm tác dụng tránh thai. Không giống như vòng Nuva – loại vòng dùng  hàng tháng hiện không có trong khu vực y tế công tại các nước đang phát triển, vòng NES-EE có tác dụng 12 tháng không yêu cầu phải bảo quản lạnh trước khi sử dụng và thuận tiện cho những phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận các cơ sở y tế.

Màng ngăn SILCS: Một cỡ đáp ứng cho tất cả

Màng ngăn, một loại dụng cụ ngăn cách đặt ở cổ tử cung làm bằng cao su hoặc silicon để ngừa thai bằng cách không cho tinh trùng vào trong tử cung, là loại biện pháp tránh thai dùng cho phụ nữ lâu đời nhất. Màng ngăn chỉ sử dụng trong khi giao hợp, không có tác dụng phụ và có thể được người nữ sử dụng mà người nam không hề biết. Màng ngăn có thể được đặt nhiều giờ trước khi giao hợp vì vậy không làm gián đoạn quá trình giao hợp và có thể tiếp tục để trong người từ 6 đến 8 giờ sau giao hợp. Màng ngăn phù hợp cho phụ nữ đang cho con bú. Màng ngăn tương đối rẻ khi sản xuất và chi phí có thể san ra cho nhiều năm sử dụng. Tuy nhiên, các loại màng ngăn hiện nay có nhiều cỡ và do bởi nhân viên y tế đặt nên đã làm tăng đáng kể chi phí.

Màng ngăn SILCS do PATH thiết kế với sự tham gia của phụ nữ ở nhiều khu vực khác nhau, được chế tạo bằng silicon loại bền có khả năng chịu được nhiệt độ bình thường và trong điều kiện bảo quản không được tốt tại các nước đang phát triển. Chỉ có một cỡ duy nhất cho phần lớn phụ nữ, không cần phải đặt bởi nhân viên y tế. Các đặc điểm thiết kế đặc biệt khác bao gồm có thể kéo dài được giúp có thể gấp làm đôi màng ngăn khi đặt, thiết kế hình vòm giúp lấy ra dễ dàng và những chỗ trũng “silicon” giúp có thể giữ chặt màng ngăn. Với những đặc điểm này, màng ngăn SILCS cần ít hơn sự giúp đỡ của nhân viên y tế so với màng ngăn thông thường.

Một nghiên cứu về tính hiệu quả của biện pháp tránh thai đang được thực hiện để làm căn cứ cho cơ quan Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xem xét. PATH dự kiến sẽ đưa ra thị trường nước Mỹ và quốc tế sớm nhất vào năm 2011 và tìm kiếm các đối tác khu vực. PATH tiếp tục khảo sát khả năng của màng ngăn SILCS có thể chứa hoạt chất khử vi trùng được giải phóng một cách có kiểm soát để ngăn ngừa HIV. Biện pháp ngăn ngừa kết hợp tính chất hóa lý này sẽ là một lựa chọn mới quan trọng để đáp ứng nhu cầu sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của phụ nữ.

Biện pháp tránh những ngày nguy cơ cao thông qua tin nhắn điện thoại

Biện pháp tránh những ngày nguy cơ cao (SDM) là biện pháp KHHGĐ dựa trên cơ sở nhận thức về sinh sản được đưa ra bởi Viện Sức khỏe sinh sản (IRH), đại học Georgetown. Phân tích khoa học của IRH về giai đoạn có khả năng sinh sản cho thấy hơn 80% phụ nữ có chu kỳ kinh là từ 26 đến 32 ngày và phụ nữ có khả năng thụ thai cao trong giai đoạn từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 19 của vòng kinh. Các nghiên cứu hiệu quả cho thấy đối với những phụ nữ có vòng kinh từ 26 đến 32 ngày thì xác suất tránh thai có thể lên đến 95% nếu tránh giao hợp không có bảo vệ trong giai đoạn từ ngày 8 đến ngày 19.

Biện pháp tránh những ngày nguy cơ cao (SDM) được lồng ghép vào chương trình KHHGĐ tại hơn 25 nước. Phần lớn người sử dụng SDM dựa vào biểu đồ chu kỳ - một chuỗi hạt đánh dấu theo mầu để giúp người sử dụng theo dõi xem họ đang ở vào ngày nào của chu kỳ và những ngày này họ rất dễ thụ thai. Với mỗi ngày của chu kỳ, một vòng cao su sẽ được dịch chuyển để đánh dấu. Khi vòng cao su ở những hạt mầu trắng thì người phụ nữ biết rằng họ đang trong giai đoạn dễ thụ thai và phải tránh quan hệ tình dục không có bảo vệ. Để sử dụng SDM, cần có sự phối hợp của đối tác nam, có sự trao đổi thông tin với nhau và khuyến khích người nam suy nghĩ về KHHGĐ như là một trách nhiệm. Một số cặp lựa chọn tránh quan hệ trong những ngày dễ thụ thai trong khi một số khác thì lại lựa chọn sử dụng bao cao su. Vì biện pháp này không yêu cầu phải cung cấp lại và chi phí duy nhất phải chi một lần là mua biểu đồ chu kỳ (có giá là 1 đôla Mỹ trong khu vực công), phương pháp SDM giúp làm giảm nhu cầu chưa được đáp ứng và cải thiện an ninh hàng hóa phương tiện tránh thai. Ngoài việc có chi phí thấp và không có tác dụng phụ, phương pháp SDM trở nên phổ biến nhờ sự tiện lợi và dễ dàng khi lồng ghép vào các chương trình đa biện pháp khác. Đối với hơn một nửa số người sử dụng trong một số nghiên cứu, SDM là biện pháp được lựa chọn đầu tiên. Nhiều phụ nữ  đã sử dụng biện pháp này đầu tiên sau đó mới chuyển sang biện pháp hiện đại khác, điều này cho thấy rằng SDM có thể lôi kéo những người mới cho KHHGĐ.

Theo khuynh hướng chung trên toàn cầu, Viện Sức khỏe sinh sản (IRH) hiện nay đang thử nghiệm việc sử dụng công nghệ điện thoại di động để nhắc nhở phụ nữ và các cặp vợ chồng về giai đoạn dễ thụ thai và yêu cầu tránh giao hợp hoặc sử dụng biện pháp ngăn chặn trong thời gian đó. Hơn 2/3 trong số 4,1 tỷ người sử dụng điện thoại trên toàn cầu sống ở các nước đang phát triển và phần lớn trong số này sử dụng cách thức nhắn tin để gửi và nhận tin nhắn. IRH đã phát triển ra CycleTel, một ứng dụng sử dụng tin nhắn có tiềm năng giúp phương pháp SDM trở nên sẵn có trên toàn cầu. Hiện nay, IRH đang thử nghiệm tại Ấn Độ, nơi có nhu cầu cao về phương pháp SDM. Ấn Độ cũng là một trong những thị trường viễn thông tăng trưởng cao nhất thế giới và đứng thứ hai thế giới, chỉ sau Trung Quốc về số lượng người sử dụng điện thoại di động. Kết quả thử nghiệm, sẽ được công bố trong 6 đến 9 tháng tới, sẽ cho thấy liệu CycleTel có tiềm năng nâng cao nhận thức và sử dụng một cách liên tục SDM, hỗ trợ cho phụ nữ và cặp vợ chồng việc tiếp cận liên tục với biện pháp có thể ngăn ngừa việc có thai không mong muốn.

Các biện pháp tránh thai “thế hệ tiếp theo”

Với các đặc điểm về kiểm soát bởi người sử dụng, dựa trên cộng đồng và tính sẵn có, các biện pháp tránh thai thế hệ mới đưa lại rất nhiều ưu điểm cho người phụ nữ. Đối với những biện pháp không yêu cầu sàng lọc và theo dõi bởi nhân viên y tế, phụ nữ sẽ trở nên phụ thuộc hơn vào các hiệu thuốc và chương trình dựa trên cộng đồng để đáp ứng nhu cầu thông tin của họ chẳng hạn như liệu các biện pháp có thể bảo vệ khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc HIV. Mức độ chăm sóc cao hơn dẫn tới việc sử dụng một cách liên tục hơn, tin tưởng vào việc sử dụng hơn, thỏa mãn và tỷ lệ tiếp tục sử dụng cao hơn. Do vậy, phải có sự quan tâm để đảm bảo rằng:

·         Các nhân viên y tế dự phòng được đào tạo đầy đủ để cung cấp thông tin, sàng lọc, tư vấn và, khi cần thiết, giới thiệu đến bác sĩ.

·         Thông tin sản phẩm, bao gồm cả hướng dẫn sử dụng và bộ dụng cụ, để cả những phụ nữ có trình độ văn hóa thấp cũng có thể hiểu được.

·         Khách hàng được khuyên sử dụng bao cao su cho nam hoặc nữ để bảo vệ chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV.

Các nhu cầu về chính sách và chương trình

Các biện pháp tránh thai thế hệ mới giúp mở rộng sự lựa chọn sẵn có hiện nay và làm giảm nhu cầu không được đáp ứng. Để đưa vào sử dụng và kết hợp các ưu điểm của các biện pháp tránh thai mới này, các chương trình y tế quốc gia và cộng đồng cần:

·         Ủng hộ và lập kế hoạch mang tính chiến lược để đảm bảo việc đưa vào sử dụng và tăng cường quá trình đáp ứng nhu cầu của phụ nữ.

·         Có hướng dẫn về quản lý các quá trình hành chính liên quan đến việc đưa vào sử dụng biện pháp tránh thai mới. Ví dụ, thuốc cấy Sino (II) hiện mới chỉ được cấp phép tại vài nước và các chính phủ có rất ít kinh nghiệm trong việc mua loại thuốc này.

·         Có được sự cho phép của các cơ quan quản lý thuốc và bộ y tế để mở rộng chủng loại các biện pháp tránh thai được cung cấp và, ví dụ, cho phép sử dụng các loại thuốc tiêm tại cộng đồng hoặc tại nhà.

·         Mở rộng tiếp cận thông qua việc đào tạo các y tá và nhân viên y tế khác, chẳng hạn để cấy và lấy thuốc cấy ra.

·         Loại bỏ các biện pháp tương tự nhưng có ít ưu điểm để tránh quá tải và lẫn lộn giữa các loại biện pháp trong hệ thống cung cấp.

·         Giám sát và đánh giá chặt chẽ quá trình lồng ghép các biện pháp tránh thai thế hệ mới vào hệ thống hiện hành (như đào tạo, giám sát và mua sắm).

·         Đảm bảo các biện pháp có thể được cung cấp với giá thấp ở khu vực công.

Kết luận

Gần như tất cả các nước đều nhất trí về các quyền của phụ nữ và cặp vợ chồng được quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh, nhưng đặc biệt ở khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa tại rất nhiều nước, có rất ít biện pháp tránh thai để có thể biến các quyền này thành hiện thực. Đa dạng hóa chủng loại các biện pháp tránh thai giúp làm tăng cơ hội có được sản phẩm phù hợp đáp ứng nhu cầu và hoàn cảnh của người sử dụng. Trong khi có nhu cầu rõ ràng về các biện pháp tránh thai mới, đặc biệt các biện pháp phi lâm sàng cho đình sản nam và nữ và một biện pháp có thể cung cấp sự bảo vệ gấp đôi gồm cả ngừa thai và phòng chống HIV, vẫn còn một vấn đề là các biện pháp tránh thai hiện nay vẫn chưa được sử dụng đúng mức. Còn nhiều việc phải làm để chỉ ra các yếu tố tác động đến thực trạng này, bao gồm cả các chính sách hạn chế, thuế quan và thành kiến của người cung cấp. Tuy nhiên các chương trình cũng có thể tận dụng lợi thế các tiến bộ của công nghệ tránh thai để đa dạng hóa chương trình, tăng người  sử dụng mới, giảm bớt các khó khăn về hậu cần và giảm chi phí. Bằng cách làm đó, các nước có thể hưởng lợi nhiều hơn từ chương trình dân số-KHHGĐ như một “lựa chọn tốt nhất” cho phát triển kinh tế và xã hội./.