ƯA THÍCH CON TRAI VÀ GIỚI TÍNH KHI SINH CỦA ẤN ĐỘ QUA
ĐIỀU TRA SỨC KHỎE GIA ĐÌNH QUỐC GIA
LƯƠNG QUANG ĐẢNG[*]


 

Hầu hết các nghiên cứu về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh (số trẻ nam sinh ra trên 100 trẻ nữ - GTKS) trên thế giới đều chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân căn bản của tình trạng mất cân bằng này là sự ưa thích con trai. Ấn Độ - một quốc gia rộng lớn ở Nam Á và đa dạng về tôn giáo, sắc tộc cũng không là ngoại lệ. Quốc gia Nam Á này cùng với số ít các quốc gia khác trên thế giới đang phải đối mặt với vấn đề mất cân bằng GTKS. Điều tra Sức khoẻ Gia đình Quốc gia (NFHS) 1987-1991 cho thấy tỷ số GTKS của Ấn Độ là 106,3. Tỷ số này tăng lên 108,8 trong các năm 2000-2004, vượt ngưỡng an toàn (103-107) và rơi vào tình trạng mất cân bằng.
            Tỷ số GTKS theo bang
Điều tra NFHS 2000-2004 của Ấn Độ cho thấy, 18 trong tổng số 29 bang có tỷ số GTKS cao hơn mức 106 như các bang: Maharashtra, Rajasthan, Andhra Pradesh, Gujarat, Uttar Pradesh,… Trong đó tại một số bang tỷ số này rất cao như: Punjab: 137,4; Haryana: 132,3. 11 bang còn lại, tỷ số GTKS dưới 106, chủ yếu tại vùng Đông Bắc và miền Trung Ấn Độ như các bang: Sikkim, Assam, Arunachal Pradesh, Manipur, Nagaland, Jharkhand, Madhya Pradesh.


 

Hình 1. Bản đồ GTKS các bang Ấn Độ, 2000-2004

 

Từ 111 trở lên

Từ 106 đến dưới 111
Từ 103 đến dưới 106
Dưới 103
 
 

 

Nguồn: Sunita Kishor, Kamla Gupta (2009), Gender Equality and Women’s Empowerment in India; Ingrid Waldron, Factors determining the sex ratio at birth.

Tỷ số GTKS theo thứ tự lần sinh
            Xu hướng giảm sinh đã tác động đến GTKS của Ấn Độ. Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ) của Ấn Độ đã giảm từ 3,2 (Tổng điều tra năm 1991) xuống còn 2,7 (Tổng điều tra 2001). Tỷ số GTKS theo các lần sinh qua các kỳ điều tra NFHS như sau:

 
Hình 2. Tỷ số GTKS theo số lần sinh, 1987-2004
Nguồn: Sunita Kishor, Kamla Gupta (2009), Gender Equality and Women’s Empowerment in India; Ingrid Waldron, Factors determining the sex ratio at birth.

            Hình 2 cho thấy, tỷ số GTKS ở các lần sinh 1,2,3 khác hẳn so với GTKS ở các lần sinh từ lần thứ 4 trở đi, (số con trung bình của một phụ nữ Ấn Độ năm 2001 là 2,7). Tỷ số GTKS ở các lần sinh từ lần thứ 4 đến lần thứ 7 trở lên dao động trong khoảng 91,4 đến 108,8 và số lần sinh càng lớn thì chỉ số này càng giảm. Tuy nhiên, GTKS ở các lần từ 1 đến 3 lại tăng lên và luôn ở mức mất cân bằng. Tỷ số GTKS ở lần 2 luôn cao hơn lần thứ nhất và lần thứ 3. Điều này cho thấy việc lựa chọn giới tính đã được thực hiện sau lần sinh thứ nhất.
            Tỷ số GTKS theo tình trạng kinh tế và siêu âm
            Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng mạnh đến tỷ số GTKS là sử dụng công nghệ xác định giới tính thai nhi, trong đó chủ yếu là siêu âm.

Hình 3. Tỷ số GTKS theo tình trạng kinh tế và siêu âm, 2000-2004
Nguồn: Sunita Kishor, Kamla Gupta (2009), Gender Equality and Women’s Empowerment in India; Ingrid Waldron, Factors determining the sex ratio at birth.

            Có thể thấy tỷ số GTKS ở những trường hợp không siêu âm trong thời kỳ mang thai thấp hơn rất nhiều so với những trường hợp có siêu âm dù là người “rất nghèo” hay là người “rất giàu” (tỷ số GTKS của tổng các trường hợp (không phân biệt hoàn cảnh kinh tế) không siêu âm là 106,9 và có siêu âm là 116). Như vậy, Tỷ số GTKS của các trường hợp không siêu âm vẫn ở mức bình thường (104-107), trong khi tỷ số này của các trường hợp có siêu âm thì rất cao.
            Tại Ấn Độ, 24% tổng số phụ nữ mang thai trong điều tra NFHS 2000-2007 đã siêu âm khi mang thai (IIPS and Macro International, 2007). Điều tra cũng chỉ ra rằng những phụ nữ có điều kiện kinh tế tốt hơn thì tỷ lệ sử dụng siêu âm cũng cao hơn. Tỷ lệ này tăng từ 4% và 10% ở nhóm phụ nữ có hoàn cảnh kinh tế “rất nghèo” và “nghèo” lên 21% và 38% ở nhóm phụ nữ có hoàn cảnh kinh tế “trung bình” và “khá”. Ở nhóm “rất giàu” thì tỷ lệ này cũng cao nhất là 62%. Tỷ lệ siêu âm càng cao thì tỷ lệ biết được giới tính của thai nhi càng cao và tỷ lệ lựa chọn giới tính khi sinh cũng cao. Tỷ số GTKS của nhóm “rất giàu” và “khá” cao hơn hẳn so với các nhóm khác. Do điều kiện kinh tế ở 2 nhóm này cao hơn những nhóm khác nên cơ hội để nhóm này tiếp cận và sử dụng dịch vụ siêu âm cũng cao hơn. Chính vì thế, ở nhóm “rất giàu” có tới 62% các bà mẹ đi siêu âm trong thời kỳ mang thai và tỷ số GTKS của nhóm này cũng cao nhất: 122,2.

Bảng 1. Tỷ số GTKS phân theo tình trạng kinh tế của người mẹ, 2000-2004
Tình trạng kinh tế
Tỷ số GTKS
Trung bình
Trong đó
 
 
Siêu âm
Không siêu âm
Rất giàu
114,6
122,2
107,0
Khá
113,4
117,1
109,8
Trung bình
109,4
110,5
108,3
Nghèo
109,2
113,5
104,8
Rất nghèo
110,6
116,4
104,7
Nguồn: Sunita Kishor, Kamla Gupta (2009), Gender Equality and Women’s Empowerment in India; Ingrid Waldron, Factors determining the sex ratio at birth.

            Tỷ số GTKS theo trình độ học vấn của người mẹ
            Không chỉ có tình trạng kinh tế mà trình độ học vấn của người mẹ cũng liên quan chặt chẽ tới việc sử dụng dịch vụ siêu âm và tác động tới GTKS hay đó chính là kết quả của sự ưa thích con trai. Tỷ lệ siêu âm tăng theo trình độ học vấn của người mẹ: nếu chỉ có 9% phụ nữ mang thai thất học sử dụng dịch vụ siêu âm thì có tới 58% phụ nữ mang thai có trình độ học vấn từ lớp 10 trở lên sử dụng dịch vụ này.

Hình 4. Tỷ số GTKS theo trình độ học vấn của người mẹ, 2000-2004
Nguồn: Sunita Kishor, Kamla Gupta (2009), Gender Equality and Women’s Empowerment in India; Ingrid Waldron, Factors determining the sex ratio at birth.

            Tỷ số GTKS ở những trường hợp người mẹ sử dụng siêu âm cao hơn rất nhiều và luôn ở mức mất cân bằng so với người không sử dụng siêu âm mà không phụ thuộc vào trình độ học vấn. Tuy nhiên, đối với trường hợp không sử dụng dịch vụ siêu âm thì tỷ số GTKS của những người mẹ có trình độ học vấn cao (từ lớp 10+) lại luôn cao hơn những người trình độ hoặc vấn thấp hơn và ở mức mất cân bằng (115).
            Như vậy, tỷ số GTKS tăng cao ở những đối tượng có điều kiện kinh tế khá giả và trình độ học vấn cao và đặc biệt là ở những người có sử dụng siêu âm trong thời kỳ mang thai. Mặc dù, Ấn Độ cũng là quốc gia nghiêm cấm việc sử dụng siêu âm để xác định giới tính thai nhi, nghiêm cấm việc nạo phá thai để lựa chọn giới tính nhưng với sự ưa thích con trai hay bất bình đẳng giới còn cao trong xã hội và với việc sử dụng các kỹ thuật hiện đại để xác định giới tính thai nhi đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng GTKS ngày càng tăng hiện nay ở Ấn Độ. Tình trạng này sẽ dẫn đến những tác động khôn lường cho xã hội.


[*] Văn phòng Tổng cục Dân số - KHHGĐ, Bộ Y tế

 

 

Liên kết