Theo báo cáo của Vụ DS-KHHGĐ (Tổng cục DS-KHHGĐ), số lượng cung cấp MultiLoad Cu375(ML Cu375) giảm. Năm 2009, 11 Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh/thành phố không cấp phát loại DCTC này. Bài viết này mô tả thực trạng sử dụng và cung cấp DCTC, và phân tích các yếu tố tác động tới sự giảm sử dụng ML Cu375 và đề xuất giải pháp.
1. Kiến thức, hành vi sử dụng hai loại dụng cụ tử cung phổ biến
Nhu cầu sử dụng DCTC tránh thai
Thông thường người phụ nữ sử dụng BPTT để giãn khoảng cách sinh hoặc không muốn sinh thêm con. Trong tổng số 798 đối tượng khảo sát, gần 1/3 (29,9%) sử dụng DCTC để giãn khoảng cách sinh, và khoảng 2/3 (68,7%) không muốn sinh thêm con. Nhóm sử dụng ML Cu375 để giãn khoảng cách sinh là 37,8%, cao hơn nhiều so với 25,8% cuar nhóm T Cu380A.
Tiếp cận nguồn thông tin về DCTC
Phụ nữ có nhu cầu sử dụng PTTT được thông tin trực tiếp từ mạng lưới cộng tác viên dân số hoặc y tế thôn bản. Khoảng 2/3 phụ nữ được hỏi tiếp nhận thông tin về DCTC từ cộng tác viên dân số/y tế, và 1/3 từ gia đình, bạn bè người thân. 57,3% đối tượng sử dụng T Cu380A tiếp nhận thông tin từ cán bộ truyền thông dân số và 27,3% từ gia đình bạn bè, so với tỷ lệ tương ứng 51,8% và 30,6% đối tượng sử dụng ML Cu375.
Địa điểm đặt DCTC
Nơi cung cấp dịch vụ DCTC chủ yếu là các trạm y tế xã, bệnh viện đa khoa huyện/khu vực. Trong số đối tượng khảo sát, khoảng 4/5 (80,3%) phụ nữ được đặt DCTC tại Trạm y tế, 1/6 (14,4%) tại bệnh viện đa khoa cấp huyện. Tỷ lệ đặt DCTC tại y tế tư nhân và cơ sở y tế khác chỉ chiếm 4,6%. Có khác biệt đáng kể giữa tỷ lệ đặt DCTC tại cơ sở y tế tư nhân với 7,2% phụ nữ sử dụng ML Cu375, so với 3,3% ở nhóm phụ nữ sử dụng T Cu380A.
Theo một số nghiên cứu thực nghiệm, một số tác dụng phụ thường gặp sau khi đặt DCTC là đau lưng đau bụng, rong kinh rong huyết, ra nhiều khí hư, nhiễm trùng. Trong 5 tuần đầu sử dụng DCTC, khoảng 2/5 (39,2%) bị “đau lưng đau bụng”, khoảng 1/6 (15,4%) bị “rong kinh, rong huyết”. Tỷ lệ phụ nữ “ra khí hư nhiều” trong 5 tuần đầu ở nhóm sử dụng ML Cu375 (12,6%) cao hơn so với nhóm sử dụng T Cu380A (8,3%). Tỷ lệ gặp các tác dụng phụ của DCTC là trên dưới 5% sau 3 tháng và thấp hơn 3% sau 6 tháng.


Bảng 1. Các tác dụng phụ gặp phải trong 5 tuần đầu sử dụng DCTC
Các tác dụng phụ trong 5 tuần đầu
T Cu380A
(n=520)
(%)
ML Cu375
(n=278)
(%)
Đau lưng, đau bụng
38,7
40,3
Rong kinh, rong huyết
12,1
21,6
Ra khí hư nhiều
8,3
12,6
Nhiễm trùng
0,4
0
 
 
 


Cung cấp DCTC của cán bộ y tế
Theo điều tra hộ gia đình, Trạm y tế là đơn vị cung cấp trực tiếp DCTC cho hơn 4/5 người sử dụng, và các đơn vị y tế tuyến huyện cung cấp khoảng hơn 1/10. Các cán bộ y tế có chuyên môn chăm sóc SKSS được đào tạo theo Chuẩn quốc gia trước khi được cấp chứng chỉ cho phép làm dịch vụ cung cấp DCTC.
Đối với T Cu380A, quy trình lâu hơn do khâu lắp vòng vào ống đặt và thao tác đẩy vòng vào tử cung. Với ML Cu375, thao tác gọn hơn, chỉ việc đưa DCTC vào ống rồi đặt và rút ống đặt. Ngoài ra, ML Cu375 chỉ định cho chiều sâu tử cung nhỏ hơn 7cm. Về tác dụng phụ thì không có khác biệt lớn, các hiện tượng đau bụng, rong kinh, ra huyết đều có thể khám, cấp thuốc điều trị trong thời gian đầu sau khi đặt DCTC.
2. Những nguyên nhân tác động đến sử dụng DCTC Multiload
Các yếu tố tác động tới lựa chọn sử dụng T Cu380A/ML Cu375 từ phía người sử dụng được phân thành 2 nhóm chính: (1) nhân khẩu học xã hội; (2) hiểu biết và lựa chọn DCTC. Các biến liên quan được kiểm tra bảng chéo với biến phụ thuộc “sử dụng T Cu380A/ML Cu375”, chỉ có những biến có khác biệt tại độ tin cậy trên 90% được đưa vào phân tích hồi quy lôgistic đa biến.


Bảng 2. Các yếu tố tác động tới lựa chọn DCTC
Nhóm yếu tố
T Cu380A
(%)
ML Cu375
(%)
Nhóm tuổi
 
 
 
<30 tuổi
23,1
38,1
 
30-39 tuổi
44,8
42,0
 
>40 tuổi
32,1
19,8
Kinh tế hộ gia đình
 
 
 
Nghèo
18,8
15,1
 
Trung bình
21,2
16,2
 
Khá giả
37,1
35,6
 
Giàu có
22,9
33,1
Số con hiện có
 
 
 
Một con
18,3
39,6
 
Hai con trở lên
81,7
60,8
Mục đích sử dụng DCTC
 
 
 
Giãn khoảng cách sinh
25,8
37,8
 
Không sinh thêm
72,7
61,2
 
Khác
1,5
1,1
Địa điểm đặt DCTC
 
 
 
Trạm Y tế
81,5
78,1
 
BV huyện/y tế khác
15,2
14,7
 
Y tế tư nhân
3,3
7,2
Chi phí cho đặt DCTC
 
 
 
24,6
46,4
 
Không
75,4
53,6
Loại DCTC tử cung sử dụng trước đây
 
 
 
Không sử dụng
40
39,2
 
Tính vòng kinh
8,1
5,4
 
Bao cao su
10,4
16,2
 
Thuốc/khác
13,3
19,8
 
DCTC
28,3
19,4
Đối tượng ảnh hưởng tới quyết định đặt DCTC
 
 
 
Gia đình, bạn bè
32,1
39,9
 
Cán bộ y tế, dân số
25
17,6
 
Tự quyết định
42,9
42,4
Hiểu biết về loại DCTC
 
 
 
Biết 2 loại DCTC
18,5
43,6
 
Biết 1 loại DCTC
81,5
56,4
Người quyết định đặt loại DCTC
 
 
 
Khác/cán bộ y tế
43,1
52,5
 
Bản thân người sử dụng
56,9
47,5
(Ghi chú: nhóm sử dụng T Cu380A là nhóm đối chứng)


Kết quả phân tích hồi quy cho thấy, có 3 biến ảnh hưởng đáng kể tới việc sử dụng T Cu380A/ML Cu375 là: (1) số con hiện có, (2) hiểu biết về các loại DCTC, và (3) người quyết định loại DCTC. Như vậy, phụ nữ có 1 con có tỷ lệ sử dụng ML Cu375 nhiều hơn 277% số phụ nữ có 2 con trở lên. Tại địa điểm đặt DCTC, cán bộ y tế chỉ định sử dụng ML Cu375 nhiều hơn 49% so với nhóm bản thân tự quyết định. Người đang sử dụng ML Cu375 có kiến thức tốt hơn 166% về các loại DCTC khi so với nhóm sử dụng T Cu380A. Các biến khác như kinh tế hộ gia đình, độ tuổi, địa điểm đặt DCTC… không thể hiện tương quan rõ ràng với việc sử dụng DCTC.
Kiến thức, kỹ năng đặt DCTC
Công tác cung cấp dịch vụ đặt DCTC cho phụ nữ được cung cấp chủ yếu ở các cơ sở y tế tuyến huyện và tuyến xã, chiếm khoảng 95% tổng số ca đặt DCTC. Có 192 cán bộ y tế thuộc 12 khoa sản - bệnh viện đa khoa huyện và Đội CSSKSS/KHHGĐ – Trung tâm Y tế huyện và 24 Trạm y tế xã có kinh nghiệm đặt DCTC tham gia.


Bảng 3. Đánh giá kiến thức, kỹ năng kỹ thuật đặt DCTC của cán bộ y tế
Kiến thức, kỹ năng đặt DCTC
T Cu380A
ML Cu375
(SL)
(%)
(SL)
(%)
Nhóm chỉ định đối tượng đặt DCTC
100
100
 
Kém
5,2
9,4
 
Trung Bình
40,6
42,2
 
Khá
45,8
40,6
 
Tốt
8,3
7,8
Điểm bình quân
13,63 (SD=2,15)
13,36 (SD=2,36)
Nhóm tác dụng của DCTC
  
  
 
Kém
15,6
21,9
 
Trung Bình
16,7
17,2
 
Tốt
67,7
60,9
Điểm bình quân
4,6 (SD=0,13)
4,3 (SD=0,14)
Nhóm tai biến DCTC
  
  
 
Kém
22,4
25,5
 
Trung Bình
39,6
40,6
 
Tốt
38,0
33,9
Điểm bình quân
6,42 (SD=0,19)
6,14 (SD=0,2)
 


Kết quả cho thấy kiến thức và kỹ năng về ML Cu375 thấp hơn đáng kể so với T Cu380A, tại độ tin cậy 99%. Hiểu biết về nhóm tai biến DCTC có mức đánh giá “kém” cao nhất với 22,4% về T Cu380A và 25,5% về ML Cu375. Kiến thức về nhóm chỉ định đặt DCTC có mức “trung bình”, “khá” cao nhất, khoảng 80%, và kiến thức về tác dụng của DCTC có mức “tốt” cao nhất, trên 60%.
Tâm lý của cán bộ y tế
Với đặc tính phù hợp với chiều sâu tử cung dưới 7cm, trước khi quyết định đặt ML Cu375 cán bộ y tế thông thường sẽ đo chiều sâu tử cung người phụ nữ và quyết định loại DCTC phù hợp. Chính việc chỉ định sử dụng DCTC mang tính “chủ quan” của cán bộ y tế nên số lượng T Cu380A hay ML Cu375 sử dụng ít hay nhiều phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ y tế kỹ thuật. Nhiều cán bộ y tế làm công tác quản lý DCTC cấp xã/huyện có tâm lý “e dè, ngại” khi đặt ML Cu375 vì sợ chảy máu khi đặt, tháo và xử lý tai biến có thể xảy ra, đặc biệt đối với các cán bộ y tế trẻ, ít kinh nghiệm.
Trong quá trình đặt vòng em thấy vòng Multiload khi đặt hay bị vướng, đặt vô thấy nặng còn vòng TCu thao tác nhiều hơn là phải lắp vòng, khi đặt vô cũng có vài thao tác nhỏ nữa nên nó lâu hơn... Em mong ở trên sẽ tổ chức một lớp tập huấn về DCTC cũng như Multiload 375 để chúng em có kinh nghiệm, không e ngại khi đặt loại vòng này cho khách hàng. (Thảo luận nhóm cấp xã)
Bình thường chúng tôi hay đặt (TCu) 380 vì khi đặt cũng dễ và khi tháo ra cũng dễ nên cũng rất ưu ái đối với vòng (TCu) 380. Và khi đặt dây vòng (TCu) 380 cũng dễ gấp vào hơn dây vòng (ML Cu) 375, dây (TCu) 380 cứng hơn nhưng dễ gấp, dây (ML Cu) 375 nhỏ hơn, mềm hơn nhưng khó gấp. (Cán bộ y tế tuyến huyện)
3. Khuyến nghị
1.        Tiếp tục cung cấp ML Cu375 trong Chương trình quốc gia, đáp ứng nhu cầu sử dụng loại DCTC này cho các đối tượng là phụ nữ 1 con, có số đo tử cụng thấp (<7 cm) và có nhu cầu giãn khoảng cách sinh;
2.        Xây dựng kế hoạch đạo tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng đặt DCTC, đặc biệt với ML Cu375 cho cán bộ cung cấp dịch vụ KHHGĐ tuyến huyện và xã. Để làm tốt công tác đạo tạo, đơn vị quản lý cần xây dựng và quy chuẩn hóa quy trình kỹ thuật dịch vụ đặt, tháo DCTC, quy trình tư vấn, theo dõi, quản lý đối tượng sử dụng DCTC và hệ thống giám sát kỹ thuật.
3.        Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ đảm bảo các điều kiện thiết yếu cho việc cung cấp dịch vụ đặt, tháo DCTC tại các cơ sở y tế tuyến xã, nơi cung cấp trên 4/5 tổng số DCTC.
4.        Tăng cường tuyên truyền vận động nâng cao hiểu biết về các ưu nhược điểm riêng của từng chủng loại DCTC trên cơ sở nâng cao kiến thức, hiểu biết về các biện pháp tránh thai nói chung cho tất cả các đối tượng của chương trình KHHGĐ.

Cần có một nghiên cứu riêng về đặc tính số đo chiều sâu tử cung nhằm tìm hiểu tỷ lệ phụ nữ có số đo chiều sâu tử cung thấp. Đây là một chỉ số cần thiết cho việc xây dựng kế hoạch đáp ứng nhu cầu về DCTC.



* Vụ trưởng, Vụ Dân số, Tổng cục Dân só – KHHGĐ.
** Viện Chiến lược và Chính sách Y tế.
 

Liên kết