XU HƯỚNG CHUYỂN TỪ GIA ĐÌNH NHIỀU THẾ HỆ

SANG GIA ĐÌNH HẠT NHÂN VÀ CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI

CAO TUỔI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

GS. LÊ THI

 


Tuổi thọ của người Việt Nam đang tăng lên

Năm 1999 có 6,1 triệu người cao tuổi (60 tuổi trở lên) thì 2,5 triệu là nam, chiếm 48,83% và 3,6 triệu nữ chiếm 58,8%. Tỷ lệ goá là 40,8%, trong đó nữ goá chồng cao tuổi cao với tỷ lệ nam goá vợ 15,8% so với 16,1%1.

Thu xếp cuộc sống của người cao tuổi

Theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu Gia đình và phụ nữ tiến hành năm 2001 ở 3 vùng thành phố, đồng bằng, Trung du miền núi thì2:

Sống 2 thế hệ ở thành phố là 65%,đồng bằng là 81,7%, trung du miền núi 80,6%, chung là 78%.

Sống 3 thế hệ ở thành phố là 31,3%, đồng bằng là 13,3%, trung du miền núi 18,26%, chung là 18,2%.

Sống 4 thế hệ ở thành phố là 0,3%, đồng bằng là 0,7%, trung du miền núi 0,4%, chung là 0,5%.

Như vậy, nhìn chung nhiều người cao tuổi không sống cùng nhà với con cháu.

Ở Việt Nam, việc ông bà già vào nhà dưỡng lão sinh sống rất hiếm. Ta còn rất ít nhà dưỡng lão, ông bà cũng không thích ở vì xa con cháu, xóm làng. Gần đây có thành lập một nhà dưỡng lão tư nhân ở gần Hà Nội, nhưng giá tiền rất đắt từ 800.000đ thấp nhất, đến 1 triệu đồng, 1,5 triệu đồng, tuỳ trường hợp người già cần hoặc không cần có người chăm sóc thường xuyên.

Về tiềm năng lao động của người cao tuổi và mức sống vật chất của họ

Trong 8 triệu người cao tuổi (trên 60 tuổi chỉ có khoảng 2 triệu người có lương hưu, nhưng rất thấp, không đủ sống. Có người chỉ có 200.000đ  - 300.000đ/tháng. Các nhân viên làm ở các cơ sở tư nhân không đóng bảo hiểm xã hội nên không có lương hưu.

Lương hưu không đủ sống, trừ một số cán bộ cao cấp về hưu, khiến nhiều người cao tuổi phải tiếp tục kiếm thêm việc làm để tăng thu nhập; Còn đại bộ phận người cao tuổi ở nông thôn không có lương hưu, vẫn tiếp tục làm nông nghiệp, chăm nuôi dù đã lớn tuổi.

Tỷ lệ tham gia lao động của người cao tuổi trong tổng số những người 60 tuổi trở lên năm 1999 là 23,3%. Tỷ lệ người cao tuổi tham gia lao động ở nông thôn là 28%, cao hơn ở khu vực thành thị (25,5%); 61,5% người lao động cao tuổi làm kinh tế hộ và 36,4% thuộc thành phần kinh tế tập thể1.

Trách nhiệm con cái là nuôi dưỡng cha mẹ già, nhưng nhiều ông bà già vẫn tiếp tục tự kiếm sống, làm được tiền còn giúp đỡ lại con cháu. Nói như vậy khi còn 2 ông bà, họ có nên không sống chung với con cái không? Cuộc điều tra 7 tỉnh đồng bằng sông Hồng năm 1997 của Viện Xã hội học cho thấy: nguyện vọng của người cao tuổi thích sống chung và ăn chung với một gia đình con là 47,4%, sống riêng biệt nhưng ở gần con là 30,5%. Nhưng nếu người cao tuổi, goá vợ hay goá chồng thì 61,1% muốn sống với gia đình con.

Với sự thay đổi nếp sống, lối sống của tuổi trẻ ngày nay, cảnh ở chung người già, người trẻ sẽ có những va chạm, mâu thuẫn. Khi có điều kiện nên tách hộ cho ông bà ở riêng, con cái ở gần đi lại chăm sóc. Nếu không có khả năng tách hộ riêng thì cố thu xếp một căn phòng, một nhà riêng cho ông bà sinh hoạt và cảm thấy thoải mái. Nhưng đây là nói về chỗ ở, nhưng vấn đề rất lớn là cuộc sống tình cảm của người già trong gia đình.

Cuộc sống tình cảm của người già trong gia đình

Gia đình, đó là hệ thống bảo trợ tốt nhất, đảm bảo sự an toàn cho trẻ thơ phát triển, người lao động lấy lại sự cân bằng về sức khoẻ và tâm lý, sau những giờ lao động mệt mỏi, người già có nơi nương tựa, khi sứ yếu, ốm đau bệnh tật, không bị bỏ rơi cô quạnh. không khí đầm ấm trong gia đình là điều kiện hết sức quan trọng đối với người cao tuổi để sống khoẻ, được vui vẻ và không cảm thấy là gánh nặng cho gia đình. Lòng hiếu thảo, kính trọng của con cháu đối với họ là liều thuốc bổ vô cùng quý giá. Tuy điều kiện gia đình còn thiếu thốn, tịên nghi chưa đày đủ nhưng thái độ ân cần, chăm sóc tình cảm yêu thương của con cháu có giá trị hơn nhiều các điều kiện vật chất đơn thuần. Với việc chăm sóc sức khoẻ, bệhh tật, cơ quan y tế có thể đảm nhiệm một phần. Nhưng việc thăm hỏi, an ủi về tinh thần, tâm lý thì chỉ có người thân, con cháu làm được một cách tốt nhất với người già.

Trả lời câu hỏi về vai trò ông bà với việc giáo dục trẻ em thì có 45,9% người ở thành phố, 52,2% người trng du và miền núi 40,9%, người đồng bằng đánh giá vai trò người già quan trọng. Số đánh giá rất quan trọng tương ứng ở 3 vùng là 39,0%, 34,5% và 39,8%1.

Người già cần thiết và thích sống trong không khí đầm ấm của gia đình, có già, có trẻ. Con cháu lại cần sự hỗ trợ của cha mẹ già trong sinh hoạt hàng ngày. Ông bà sống với con cháu, dù không còn khả năng đóng góp về kinh tế, nhưng họ vẫn có thể giúp đỡ một số công việc: truyền đạt kinh nghiệm làm ăn, ứng xử và chăm sóc trẻ nhỏ. Đặc biệt phụ nữ cao tuổi từ 55 đến ngoài 70 còn có khả năng giúp đỡ con cháu rất nhiều.

Rõ ràng là gia đình với những mối quan hệ tình cảm thân thiết là một cơ sở vững chắc cho việc bảo đảm xã hội đối với người cao tuổi. Nhưng cuộc sống chung nhiều thế hệ không tránh khỏi va chạm, giữa già và trẻ. Bởi vậy để người già sống gần con cháu thì phải giải quyết vấn đề nhà ở. Trong gia đình đôi vợ chồng phải luôn chủ động táo ự thông cảm giữa người già và lớp trẻ bằng chính thái độ, việc làm của bản thân để giáo dục con cái mình lòng kính trọng và biết ơn ông bà.

Người cao tuổi và hoạt động của họ trong cộng đồng

Chăm sóc người cao tuổi là trách nhiệm không chỉ của gia đình mà của cả xã hội, cũng chính vì lợi ích chung của cộgn đồng. Sự chăm sóc này là bồi dưỡng một nhóm người không được xếp vào dân số hoạt động kinh tế, nhưng vẫn là một lực lượng hữu ích cho xã hội. Họ đang đóng góp tích cực vào những hoạt động công ích, từ thiện ở cả thành phố và nông thôn.

Họ là lực lượng tham gia đông đảo không chỉ ở Hội người cao tuổi mà các Hội cựu chiến bình, Hội chữ thập đỏ, Hội từ thiện, như cứu giúp trẻ mồ côi, tàn tật, người gặp tai nạn, xây dựng quỹ tài trợ học sinh nghèo, các hội hoà giải mâu thuẫn gia đình, xây dựng gia đình văn hoá, giữ gìn môi trường sạch đẹp v.v...

Chính sách của Nhà nước, sự giúp đỡ của cộng đồng đối với người cao tuổi như thế nào?

       Với số lượng người cao tuổi đang tăng lên ở nước ta, người cao tuổi goá bụa, đặc biệt là phụ nữ ngày càng đông. Nhà nước nên có chính sách thích đáng, cộng đồng cần có sự quan tâm chăm sóc kịp thời và hỗ trợ tích cực gia đình có người già đang sinh sống.

Trước hết cần có chế độ bảo hiểm xã hội cho người già. Đến nay chế độ này mới giành cho công chức nhà nước và cán bộ quân đội. Cần phát triển chế độ bảo hiểm xã hội tự do cho tất cả mọi người, kể cả người già. Chế độ trợ cấp cho người già cô đơn, khó khăn với mức chi phù hợp với giá sinh hoạt hiện nay. Chế độ bảo hiểm y tế đối với người già chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh kịp thời v,v...

Quỹ Thọ được phát triển nhiều năm nay trong hàng ngũ người cao tuổi cần chuyển thành quỹtoàn dân chăm sóc người già. Có sự đóng góp của cả cộgn đồng, nhà nước nên dành cho quỹ này lãi suất ưu tiên để tạo thêm điều kiện tài chính, giúp đỡ người già.

Hội người cao tuổi cần ở rộng hàng ngũ người tham gai Hội, không chỉ người già mà các cá nhân khác, các nhà nghiên cứu, quản lý, truyền thông và hoạt động xã hội liên quan đến người già. Cần phát triển công tác xã hội, thành lập các trung tâm làm công tác dịch vụ và tư vấn phục vụ người cao tuổi. Các phương tiện thông tin, đài báo, tivi lưu ý đưa tin về cuộc sống người cao tuổi, cùng với các hoạt động từ thiện, nhân đạo của các tổ chức và cá nhân đối với người cao tuổi.

Chăm sóc người cao tuổi là trách nhiệm lớn của gia đình và xã hội họ xứng đáng được sự quan tâm, săn sóc của con cháu, sự giúp đỡ của cộng đồng và nhà nước.n




1 Bài đăng trên Gia đình Xã hội, số 16/3/2004.

2 Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời kỳ CNH, HĐH. Nxb Khoa học xã hội năm 2002, tr.55.

 

 

1 Sách Gia đình Việt Nam kể trên, tr.108.