MỘT VÀI NÉT VỀ AN SINH XÃ HỘI CỦA

NGƯỜI CAO TUỔI TẠI NHẬT BẢN

                                                               NGUYỄN TRUNG KIÊN1

 

   Nhật Bản là một trong 10 nước có quy mô dân số lớn nhất thế giới. Năm 2003, dân số Nhật Bản là 127,6 triệu người trong đó có 24,3 triệu người từ 65 tuổi trở lên, chiếm 19,0% tổng dân số và dự báo sẽ đạt 20% vào năm 2006. Về hộ gia đình cao tuổi ở Nhật Bản, năm 2003, là 7,25 triệu hộ  cùng 3,41 triệu hộ gia đình chỉ có 1 người cao tuổi. Số hộ gia đình cao tuổi chỉ có hai vợ chồng cao tuổi là 3,59 triệu hộ[2].

Dân số Nhật Bản đang già đi một cách nhanh chóng. Nguyên nhân chính là do cả tỷ suất sinh lẫn tỷ suất chết đều giảm, trong đó tỷ suất sinh giảm nhanh là nguyên nhân chủ yếu. Tổng tỷ suất sinh của Nhật Bản đã giảm từ 2,13 năm 1970 xuống còn 1,3 năm 2003. Do vậy, Nhật Bản đang phải đối mặt với những thách thức to lớn trong việc giải quyết vấn đề già hoá dân số. Khi số lượng người cao tuổi tăng lên, các khoản chi phí về phúc lợi xã hội, chăm sóc y tế và lương hưu cũng sẽ tăng lên và đây thực sự là gánh nặng về tài chính đối với ngân sách của chính phủ.

Về phúc lợi xã hội, tỷ lệ phúc lợi tuổi già của người cao tuổi Nhật Bản trong chi phí phúc lợi xã hội nói chung đã tăng lên. Năm 1985, Nhật Bản dành 18,828.7 tỷ yên cho phúc lợi xã hội trong đó phúc lợi tuổi già chiếm 52,8%. 10 năm sau, chi phí cho phúc lợi xã hội tăng lên đạt 40,710.9 tỷ yên, phúc lợi tuổi già chiếm 62,9%. Nói cách khác, trong vòng 10 năm, chi phí an sinh xã hội tăng 216% thì phúc lợi tuổi già tăng 119%. Năm 2003, chi phí an sinh xã hội của Nhật Bản đạt 50,951.7 tỷ yên với tỷ lệ tăng tương đương của phúc lợi tuổi già đạt 68,7% với các mức tăng tương ứng so với năm 1995, sau 8 năm, là 125% và 109%. Tương tự như chi phí phúc lợi tuổi già, chi phí dành cho chăm sóc y tế cho người cao tuổi tăng đều qua

 

Bảng 1: Tỷ lệ phúc lợi tuổi già trong chi phí an sinh xã hội của Nhật Bản 1985-2001[3]

 

Năm

Tổng số

(100 triệu Yên)

Tỷ lệ chi phí phúc lợi tuổi già (%)

1985

188.287

52,8

1986

211.040

54,7

1987

225.997

55,5

1988

240.282

56,6

1989

259.962

57,9

1990

279.262

59,1

1991

300.437

59,9

1992

323.869

60,2

1993

345.764

60,9

1994

373.118

61,7

1995

407.109

62,9

1996

430.785

63,8

1997

451.401

65,0

1998

478.041

66,3

1999

503.564

67,1

2000

531.982

68,1

2001

559.517

68,7

các năm. Năm 1982, chi phí chăm sóc y tế cho người cao tuổi của Nhật Bản là 2,748.7 tỷ yên, chiếm 19,8% trong tổng chi phí về chăm sóc y tế, đã thực hiện khám chữa bệnh cho 6,465 triệu người cao tuổi với mức chi phí trung bình là 425 nghìn yên/người. 10 năm sau, chi phí chăm sóc y tế cho người cao tuổi đã tăng lên 6,937.2 tỷ yên, chiếm 29,5% tổng chi phí chăm sóc y tế quốc gia với chi phí trung bình/người đạt 661 nghìn yên, tăng 155% so với năm 1982. Năm 2003, chi phí chăm sóc y tế cho người cao tuổi đã đạt mức 11,199.7 tỷ yên, chiếm 36,9% tổng chi phí y tế quốc gia với mức chi phí trung bình/người cao tuổi 758 nghìn yên, tăng 114% so với năm 1992.

Đối với người cao tuổi, lương hưu là nguồn thu nhập chính. Số liệu do Viện nghiên cứu Dân số và An sinh xã hội quốc gia công bố chính thức năm 2003 cho thấy quỹ lương hưu dành cho người cao tuổi trong tổng chi phí an sinh xã hội của Nhật Bản. Năm 1985, chi phí an sinh xã hội của Nhật Bản là 35.779,8 tỷ yên, chiếm 13,71% thu nhập quốc dân trong đó chi phí về lương hưu cho người cao tuổi chiếm 6,49%. (16.892,3 tỷ yên). Năm 1995, chi phí an sinh xã hội tăng lên đạt 64.731,4 tỷ yên, chiếm 17,09% thu nhập quốc gia, chi phí lương hưu đạt 33.498,6 tỷ yên ( chiếm 8,84% trong chi phí an sinh xã hội), tăng 136% so với năm 1985. Năm 2001, Nhật Bản dành 81,400.8 tỷ yên cho chi phí an sinh xã hội, chiếm 22,0% trong thu nhập quốc dân thì chi phí về lương hưu đạt 42.571,4 tỷ yên, chiếm 11,50% trong chi phí an sinh xã hội, tăng 130% so với năm 1995.

So sánh mức lương hưu của Nhật Bản với mức lương hưu của một số nước phát triển khác trên thế giới cho thấy sự chênh lệch khá rõ nét. Tại thời điểm tháng 3 năm 1998, mức lương hưu trung bình của những người được hưởng lương hưu tại Nhật là 172.200 yên/người, cao hơn so với mức lương hưu trung bình ở Mỹ, đối với cả diện sống độc thân (92.600 yên Nhật tương đương với 765 dola Mỹ) lẫn người cao tuổi sống thành cặp vợ chồng (138.800 yên Nhật tương đương với 1.148 đôla Mỹ). So sánh với mức lương hưu của người cao tuổi tại Anh, Đức và Thuỵ Điển, cũng trong năm 1996,1997, lương hưu trung bình cho tất cả người hưởng lương hưu tại Nhật cao hơn nhiều. Mức lương hưu trung bình cho tất cả những người hưởng lương hưu tại Nhật năm 1998 cao hơn gấp 3,55 lần so với mức lương hưu của người cao tuổi

Bảng 2: Chi phí chăm sóc y tế cho người cao tuổi tại Nhật Bản 1982-2000[4]

 

Năm

Số người được chăm sóc y tế dành cho người cao tuổi (1.000 người)

Chi phí chăm sóc y tế cho người cao tuổi

(100 triệu Yên)

Chi phí

/người (1.000 Yên)

1982

6.465

27.487

425

1983

7.491

33.185

443

1984

7.823

36.098

461

1985

8.157

40.673

499

1986

8.484

44.377

523

1987

8.805

48.309

549

1988

9.084

51.593

568

1989

9.363

55.578

594

1990

9.732

59.269

609

1991

10.112

64.095

634

1992

10.488

69.372

661

1993

10.884

74.511

685

1994

11.345

81.596

719

1995

11.853

89.152

752

1996

12.440

97.232

782

1997

13.013

102.786

790

1998

13.605

108.932

801

1999

14.186

118.040

832

2000

14.778

111.997

758

 


Bảng 3: So sánh  lương hưu tuổi già của Nhật Bản với một số nước phát triển5

 

Nhật Bản

3/1998

Mức lương hưu trung bình cho tất cả  người nhận

172.200 Yên

 

 

Mỹ

 

12/1997

 

Mức lương hưu trung bình cho tất cả  người nhận

Độc thân

92.600 Yên (765 US dola)

Cặp vợ chồng

138.800 Yên (1.148 US dola)

 

 

 

Đức

 

 

 

7/1997

Mức trung bình đối với lương hưu của công nhân và viên chức

 

88.600 Yên (1.270 Mác)

Lương hưu của công nhân

73.600 Yên (1.055 Mác)

 

 

Lương hưu của viên chức

104.000 Yên (1.491 Mác)

 

 

 

Anh

 

 

9/1996

Lương hưu cơ bản

(Mức trung bình cho tất cả người nhận)

Độc thân

48.500 Yên (286 Bảng Anh)

Cặp vợ chồng

77.500 Yên (457 Bảng Anh)

 

Lương hưu phụ thêm

(Mức trung bình cho tất cả người nhận)

 

14.200 Yên (84 Bảng Anh)

 

 

Thuỵ Điển

 

1/1995

 

Lương hưu cơ bản

Độc thân

36.900 Yên (2.799 cua-ron)

Cặp vợ chồng

60.400 Yên (4.577 cua-ron)

 

12/1995

Lương hưu phụ thêm

(Mức trung bình cho tất cả người nhận)

 

68.900 Yên (5.225 cua-ron)

 

 

 

 


sống độc thân tại Anh năm 1996 và gấp 2,22 lần [5]so với lương hưu của người cao tuổi sống thành cặp vợ chồng (không kể  lương hưu phụ thêm). Mức lương hưu chung cho cả công nhân viên chức nghỉ hưu của Đức năm 1997 chỉ bằng 51,45% so với mức lương hưu chung của người cao tuổi nhận lương hưu tại Nhật trong đó lương hưu của công nhân nghỉ hưu chỉ bằng 42,74% và 60,39% đối với lương hưu của viên chức. Lương hưu cơ bản của người cao tuổi ở Thuỵ Điển tại thời điểm 1 năm 1995 chỉ bằng 21,43% đối với người cao tuổi sống độc thân và 35,07% đối với người cao tuổi sống thành cặp vợ chồng (không tính khoản lương hưu phụ thêm) so với mức lương hưu chung của người cao tuổi Nhật Bản.

Như vậy, quá trình già hoá nhanh đã gây ra những khó khăn cho Chính phủ nói riêng và xã hội Nhật Bản nói chung. Trong một tương lai không xa, những nguy cơ như thị trường thu hẹp, thiếu hụt lực lượng lao động, khả năng chi trả thuế và các khoản bảo hiểm giảm... sẽ là những thách thức lớn cần phải giải quyết khong phải chỉ riêng của Nhật Bản mà còn cả đối với những quốc gia có tốc độ già hoá dân số nhanh trên thế giới. n


[1] Trung tâm nghiên cứu Dân số và Phát triển, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam

[2] Cục Thống kê Nhật Bản 2004.

[3] Chi phí an sinh xã hội tại Nhật Bản, Viện Dân số và An sinh xã hội quốc gia, 24/12/2003.

[4] : Báo cáo hàng năm về thống kê An ninh xã hội, Viện nghiên cứu Dân số và An ninh Quốc gia, 31/3/2003.

 

5 : Báo cáo hàng năm về Y tế và Phúc lợi, Bộ Y tế và Phúc lợi, 19/7/2000.