ĐIỀU TRA DI CƯ VIỆT NAM NĂM 2004:

những kết quả chủ yếu

 

Cuộc điều tra di cư năm 2004 là một cuộc điều tra mẫu về tình hình di dân trong nước đến một số khu vực trọng điểm tiêu biểu cho ba luồng di cư chính đến các thành phố lớn, khu công nghiệp và khu vực nông thôn. Cuộc điều tra đã được tiến hành ở 11 tỉnh/thành phố và được xếp đại diện cho 5 khu vực. Đó là: Khu vực 1: Hà Nội; Khu vực 2: Khu kinh tế Đông Bắc, bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng và Hải Dương; Khu vực 3: Tây Nguyên, bao gồm Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông là Lâm Đồng; Khu vực 4: Thành phố Hồ Chí Minh; và khu vực 5: Khu công nghiệp Đông Nam bộ, gồm Bình Dương và Đồng Nai.

Mẫu của cuộc điều tra gồm 10.000 cuộc phỏng vấn, gồm 5.000 phỏng vấn người di cư và 5.000 phỏng vấn người không di cư, được chia đều cho các khu vực trên, tức là mỗi khu vực có 1.000 phỏng vấn đối với người di cư và 1.000 phỏng vấn đối với người không di cư.

Mục đích của cuộc điều tra là góp phần cải thiện sự hiểu biết về các lĩnh vực: Quá trình di cư, bao gồm quyết định di cư, các bước di chuyển và hoà nhập ở nơi đến; Các yếu tố kinh tế-xã hội, nhân khẩu học và các yếu tố thuận lợi đối với di cư; Kết quả di chuyển đối với người di cư và gia đình, gồm: thu nhập và việc làm, điều kiện sống và nhà ở, gửi tiền cho gia đình. Tiếp cận dịch vụ xã hội và y tế, sinh hoạt và giải trí, thích nghi và thay đổi lối sống; So sánh tình trạng người di cư và không di cư tại nơi chuyển đến.

Kết quả mong muốn của sự hiểu biết được nâng cao là các chính sách tốt hơn nhằm tác động đến các quyết định di cư. Thông tin thu được từ cuộc điều tra cũng sẽ giúp đưa ra các khuyến nghị về chính sách phát triển nông thôn để giảm bớt xuất cư, về kế hoạch phát triển vùng có thể ảnh hưởng đến quá trình di cư, và về việc làm thế nào để cải thiện điều kiện sống của người di cư ở nơi đến.

Nói chung người di cư có điều kiện nhà ở kém hơn so với người không di cư. Phần lớn người di cư sống trong những ngôi nhà khiêm tốn, hoặc do chưa có nhà riêng phải sống trong nhà thuê thiếu các tiện nghi cơ bản và quyền sở hữu với mức tiêu dùng thấp. Người di cư cũng thường sống theo loại hộ hạt nhân với chủ hộ là người di cư nhiều hơn so với người không di cư. Ngoại trừ Tây Nguyên, nhà ở của người di cư đều có chất lượng thấp hơn so với người không di cư.

Người di cư trẻ hơn nhiều so với người không di cư. Khoảng 60% người di cư nam là 66% người di cư nữ ở độ tuổi 15-29. Tỷ trọng tương ứng của người không di cư độ tuổi đó là 25% nam và 29% nữ. Như có thể dự đoán theo phân bố tuổi này, người di cư có tỷ trọng chưa từng kết hôn cao hơn so với người không di cư. Tỷ trọng chưa từng kết hôn của người di cư đến Khu kinh tế Đông Bắc và Khu công nghiệp Đông Nam bộ cao một cách cá biệt. Hai khu vực này cũng có tỷ trọng người di cư thuộc độ tuổi trẻ cũng như tỷ trọng nữ cao. Ví dụ, 56% người di cư nữ đến Khu Công nghiệp Đông Nam bộ thuộc nhóm tuổi 15-24 và chỉ có 65 người di cư nam trên 100 người di cư nữ. Chính vì trẻ, chưa từng kết hôn, người di cư nữ quyết định chuyển đến những đô thị lớn và khu công nghiệp. Ngược lại, di cư đến Tây Nguyên được đặc trưng bởi sự di chuyển theo gia đình, với tuổi của người di cư đến khu vực này có xu hướng cao hơn tuổi của người di cư đến các khu vực khác và phần lớn có vợ có chồng.

Hầu hết người không di cư có nhà riêng, trong khi phần lớn người di cư thuê nhà để ở. Tình trạng này thể hiện rõ nhất đối với người di cư đến các đô thị lớn và khu công nghiệp. Sự khác nhau về tình trạng và nhà ở giữa người di cư và người không di cư ở khu vực Tây Nguyên là không đáng kể. Sự khác biệt về tình trạng nhà ở giữa người di cư và người không di cư có thể là do tuổi của người di cư trẻ hơn so với tuổi của người không di cư, với mức sở hữu nhà ở tăng nhanh cùng với tuổi. Loại hình đăng ký hộ khẩu cũng liên quan một cách rõ rệt đến tình trạng nhà ở, với người di cư có hộ khẩu tạm trú thuê nhà để ở nhiều hơn so với người di cư có loại hình đăng ký hộ khẩu khác.

Người di cư thường là người có học và chỉ có sự khác biệt tương đối nhỏ về trình độ học vấn đạt được giữa người di cư và người không di cư. Khoảng 33% người di cư và 34%người không di cư đã học xong lớp 10 hoặc cao hơn. Trình độ học vấn của người di cư đến Hà Nội cao nhất, còn của người di cư đến Tây Nguyên thấp nhất. Người di cư là nam nói chung có trình độ học vấn cao hơn so với người di cư là nữ.

Có hai xu hướng liên quan rất rõ đến nơi cư trú của người di cư. Thứ nhất, người di cư đến Hà Nội và Khu Kinh tế Đông Bắc chủ yếu từ các tỉnh phía Bắc, nhất là Đồng bằng Sông Hồng, do sự gần gũi về mặt địa lý. Thứ hai, người di cư đến Tây Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam bộ lại từ rất nhiều vùng khác nhau mà không có vùng nào nổi trội. Ví dụ, Đồng bằng Sông Hồng cung cấp 19% số người di cư đến Tây Nguyên, 18% đến Thành phố Hồ Chí Minh và 17% đến Khu Công nghiệp Đông Nam bộ. Mỗi khu vực đến có ít nhất bốn vùng đóng góp 10% số người di cư hoặc nhiều hơn, và không có vùng nào đóng góp trên 30% người di cư đến ba khu vực nói trên. Điều này có thể do nền kinh tế năng động của các tỉnh phía Nam và mạng lưới giao thông được xây dựng sau giải phóng góp phần làm cho Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ trở lên hấp dẫn đối với người di cư trên phạm vi cả nước.

Có sự khác nhau đáng kể về tình trạng đăng ký hộ khẩu của người di cư. Ở Tây Nguyên tỷ trọng người di cư có hộ khẩu KT1 cao, hộ khẩu KT4 phổ biến hơn tại Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ, trong khi đó hộ khẩu KT3 và chưa đăng ký hộ khẩu lại thường thấy đối với người di cư đến Hà Nội và Khu Kinh tế Đông Bắc.

Trước khi di chuyển, người di cư chủ yếu có được thông tin về nơi đến từ người thân bạn bè. Rất ít người di cư nhận đuợc thông tin từ các nguồn chính thức như các cơ quan của nhà nước hoặc các cơ quan giới thiệu việc làm tư nhân. Mạng lưới không chính thức là nguồn quan trọng nhất cung cấp thông tin cho người di cư. Thậm chí sau khi giúp đỡ khi đến nơi ở mới. Hơn ba phần tư người di cư của tất cả các khu vực biết ít nhất một người thân hoặc một người bạn ở nơi chuyển đến.

Chỉ có một số ít người di cư quyết định một cách độc lập về sự di chuyển của mình. Nam giới tự quyết định di chuyển nhiều hơn nữ giới (32% so với 20%). Đa số người di cư cùng kết hợp với gia đình hoặc bạn bè trong việc quyết định di chuyển. Một tỷ trọng lớn người di cư đã di chuyển cùng gia đình, nhất là đối với những người chuyển đến Tây Nguyên. Dưới 40% người di cư di chuyển một mình, và một tỷ trọng tương tự người di cư di chuyển cùng thành viên gia đình hoặc kết hợp thành viên gia đình với những người khác.

Các nhân tố chính thúc đẩy di chuyển thuộc lĩnh vực kinh tế và thường liên quan đến tình trạng ở nơi đến hơn là ở nơi đi. Ví dụ, hơn 50% người di cư cho rằng nguyên nhân họ di chuyển là do tìm đuợc việc làm ở nơi cư trú hiện tại. Khoảng 47% trả lời cần cải thiện điều kiện sống và để gần người thân.

Khoảng một nửa số người di cư cho biết họ sẽ sống lâu dài ở nơi ở mới, còn 40% không biết chắc sẽ ở lại trong bao lâu. Gần 10% cho biết họ ở nơi cư trú hiện tại dưới 5 năm. Như có thể dự đoán, tỷ trọng người di cư đến Tây Nguyên trả lời rằng việc di chuyển của họ là lâu dài là cao nhất (88%), trong khi tỷ trọng đó của người di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh là thấp nhất (29%).

Lúc mới đến, chưa đến một nửa số người di cư không gặp phải bất kỳ khó khăn nào. Chỉ có ở Tây Nguyên, nơi có trên 80% người di cư trả lời rằng họ có gặp khó khăn, việc điều chỉnh để phù hợp với nơi ở mới sau di chuyển là quan tâm đến nhà ở. Đó là điều quan tâm ở tất cả các khu vực. Khó khăn trong tìm việc làm vào thời gian mới đến cũng được nhiều người di cư đề cập, nhất là người di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ. Hơn ba phần tư số người di cư nhận thức được về những khó khăn có thể gặp phải từ trước khi di chuyển. Trong số những người không biết trước những khó khăn có thể gặp phải vào thời gian mới đến, hơn hai phần ba khẳng định vẫn di chuyển ngay cả khi biết trước những khó khăn đó. Người thân và bạn bè là nguồn giúp đỡ chủ yếu để khắc phục khó khăn, trong khi chỉ có ít người di cư trả lời đã tìm kiếm sự hỗ trợ từ các nguồn chính thức.

Đa số người di cư cho biết họ được hưởng lợi từ sự di chuyển của họ. Hơn ba phần tư số người di cư khẳng định rằng tình trạng công việc  và thu nhập của họ tốt lên sau khi di chuyển. Rất ít người báo cáo tình trạng công việc và thu nhập xấu đi.

Nhà ở là lĩnh vực ít làm người ta hài lòng nhất, đặc biệt ở các thành phố lớn. Nói chung, khoảng 40% người di cư trả lời rằng điều kiện nhà ở sau khi di chuyển kém hơn so với trước khi di chuyển. Mức độ này của Thành phố Hồ Chí Minh là hơn 50%.

Dưới 5% người di cư chưa đăng ký hộ khẩu tại nơi chuyển đến. Trong số những người đã dăng ký, 80% người di cư được hỏi là đăng ký tạm trú. Tỷ trọng người đăng ký tạm trú cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ và thấp nhất ở Tây Nguyên.

Lý do chính không đăng ký hộ khẩu thường trú là người di cư không có giấy phép để đăng ký. Điều đó có ý nghĩa là người di cư không đáp ứng đầy đủ các điều kiện đối với việc đăng ký hộ khẩu. Trên 70% người di cư đến Thành phố Hồ Chí Minh không có hộ khẩu thường trú đã cho đó là lý do không tìm cách đăng ký. Nhưng không có hộ khẩu cũng không ảnh hướng gì đến cuộc sống của người di cư. Ảnh hưởng chủ yếu là khó khăn trong tiếp cận tín dụng, việc làm, nhà ở và đăng ký xe máy. Dường như không có hộ khẩu ít tác động đến việc tiếp cận các dịch vụ xã hội.

Hơn 50% số người di cư đã gửi tiền về cho gia đình ở nơi ở cũ trong 12 tháng trước điều tra. Trong số đó, hơn hai phần ba đã gửi trên 1 triệu đồng. Người di cư đến Tây Nguyên có mức tiền gửi thấp nhất. Tỷ trọng nữ gửi tiền về nhà cao hơn nam. Mặc dù, tổng số tiền gửi của nam cao hơn của nữ, song người di cư là nữ lại có tỷ trọng tiền gửi so với thu nhập cao hơn nam giới.

Khoảng hai phần ba số gia đình nhận tiền gửi của người di cư sử dụng khoản tiền đó cho chi phí hàng ngày. Hình thức sử dụng phổ biến thứ hai là chi phí cho sức khoẻ và thứ ba là chi phí cho giáo dục. Kết quả đó cho thấy tiền gửi cho gia đình đã đóng góp vào việc phát triển nguồn lực con người ở nơi người di cư ra đi.

Có sự khác nhau trong cơ cấu nghề nghiệp của người di cư và người không di cư, trừ Tây Nguyên, nơi có hơn 80% lực lượng lao động người di cư và không di cư làm các công việc giản đơn. Người di cư làm các nghề “Thợ thủ công có kỹ thuật” hoặc “thợ kỹ thuật vận hành lắp ráp máy móc thiết bị” nhiều hơn người không di cư. Nhìn chung, 38% người di cư và 25% người không di cư làm việc trong hai nhóm nghề nói trên. Hai nhóm nghề này có tính nổi trội đặc biệt trong phụ nữ. Người di cư, nhất là đối với phụ nữ ở Khu Công nghiệp Đông Nam bộ và Thành phố Hồ Chí Minh làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn so với người di cư, tức có nhiều người đang làm việc trong nhà máy. Người di cư là thành phần cơ bản của lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp ở Việt Nam.

Trong số nhưng người làm việc được trả lương trả công, khoảng 79% người di cư và 83% người không di cư có hợp đồng lao động. Lao động nữ có hợp đồng lao động nhiều hơn lao động nam, có thể vì họ phần đông làm việc ở các khu công nghiệp. Chỉ có hai phần ba số người di cư là nam với hộ khẩu KT4 và làm việc được trả lương trả công đã nhận được phụ cấp từ nơi làm việc. Loại hình phụ cấp chung nhất là tiền thưởng. Người di cư làm việc, nhất là ở các khu công nghiệp, hay nhận được tiền làm ngoài giờ và phụ cấp tiền ăn.

Mức thu nhập trung bình  của người di cư thấp hơn nhiều so với người không di cư. Bình quân, người di cư thu được 957.000 đồng một tháng, trong khi con số đó của người không di cư là 1.212.000 đồng, Khác biệt về thu nhập giữa người di cư và người không di cư cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ. Mặc dù thu nhập của người di cư thấp hơn của người không di cư , 80% người di cư cho rằng thu nhập hiện nay của họ cao hơn so với mức thu nhập trước khi di chuyển. Mức thu nhập cao hơn là động lực chính thức thúc đẩy di cư ở Việt Nam.

Người di cư ít có khoản dành hơn so với người không di cư. Điều này làm cho người di cư dễ gặp khó khăn bởi các đột biến về kinh tế. Mức tiếp cận tín dụng của người không di cư rõ ràng là lớn hơn so với người di cư. Ở tất cả các khu vực, tỷ trọng người không di cư nợ tín dụng cao hơn so với người di cư. Người không di cư có xu hướng vay từ các nguồn chính thức, ví dụ như ngân hàng, thì người di cư sử dụng các nguồn không chính thức như người thân, bạn bè nhiều hơn. Đối với người di cư, tiếp cận tín dụng từ các nguồn chính thức trước hết dành cho những có hộ khẩu thường trú. Hình thức trợ giúp chủ yếu mà người di cư và người không di cư mong muốn là tiếp cận vốn. Một tỷ trọng đáng kể người di cư cũng mong muốn được giúp đỡ về đăng ký hộ khẩu.

Phần lớn người di cư và không di cư trả lời rằng sức khoẻ của họ bình thường. Tỷ trọng người di cư cho rằng họ khoẻ hoặc rất khoẻ cao hơn chút ít so với người không di cư. Tỷ trọng này cao nhất là của những người di cư đến Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và thấp nhất là của người di cư đến Tây Nguyên. Căn cứ vào kết quả tự đánh giá tình trạng sức khoẻ, rõ ràng người di cư đến các đô thị có sức khoẻ tốt, còn người di cư đến Tây Nguyên kém hơn nhiều. Hơn nữa, việc di cư đến các thành phố lớn có xu hướng kéo theo sự cải thiện sức khoẻ nhiều hơn so với di cư đến Tây Nguyên. Gần 20% người di cư đến Tây Nguyên cho biết sức khoẻ của họ giảm sút sau khi di chuyển. Tỷ trọng trả lời sức khoẻ bị giảm của nữ cao hơn so với nam.

Có bảo hiểm y tế liên quan chặt chẽ với việc làm. Phần lớn người có bảo hiểm y tế đã ký hợp đồng lao động, còn phần lớn người không có bảo hiểm y tế không ký hợp đồng lao động. Nói chung, khoảng 36% người di cư và 35% người không di cư  có bảo hiểm y tế. Bảo hiểm y tế thường thấy nhiều nhất là những người làm việc trong khu vực kinh tế kết cấu và ít nhất là thuộc những người làm việc trong loại hình kinh tế cá thể. Ở Tây Nguyên, nơi phần lớn người lao động làm nông nghiệp cá thể, chỉ có một tỷ trọng nhỏ có bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, ở những khu vực mà sản xuất công nghiệp là phổ biến, tỷ trọng có bảo hiểm y tế tương đối cao. Đối với những người không có bảo hiểm y tế, người di cư trả lời nhiều hơn người không di cư rằng nguyên nhân không có bảo hiểm là do người sử dụng lao động không mua cho họ. Tuy vậy, sau khi di chuyển, người di cư chuyển từ công việc thuộc khu vực kinh tế phi kết cấu trong thời gian trước khi di chuyển sang khu vực kết cấu sau khi di chuyển, ngoại trừ những người chuyển đến Tây Nguyên.

Một tỷ trọng tương đương người di cư (30%) và người không di cư (29%) cho biết lần cuối cùng bị ốm là trong năm vừa qua. Chỉ ở Tây Nguyên mức bị ốm được khai báo là tương đối cao. Người di cư tự chữa bệnh cho mình nhiều hơn và tiếp cận cơ sở y tế để chữa bệnh ít hơn so với người không di cư. Trong số những người được cán bộ y tế điều trị cho lần bị ốm cuối cùng, người di cư sử dụng dịch vụ y tế tư nhân nhiều hơn và sử dụng dịch vụ y tế nhà nước ít hơn so với người không di cư. Dù vậy, hơn 80% người di cư và không di cư sử dụng dịch vụ y tế nhà nước. Người di cư chưa đăng ký hộ khẩu, hoặc có hộ khẩu tạm thời, sử dụng dịch vụ y tế tư nhân nhiều hơn so với người di cư có hộ khẩu, hoặc có hộ khẩu tạm thời. Hơn ba phần tư số người di cư đóng góp những khoản tối thiểu nào đó cho chi phí chữa bệnh khi bị ốm lần cuối. Mặc dù khoảng 90% số người không điều trị tại các cơ sở y tế cho biết lý do là bị ốm chưa đủ nặng cần phải điều trị, một tỷ trọng đáng kể người di cư và không di cư ở Tây Nguyên khai lý do không điều trị là vì chi phí chữa bệnh quá đắt hoặc cơ sở y tế quá xa.

Hành vi có hại cho sức khoẻ, được đo bằng mức tiêu dùng các sản phẩm thuốc lá hoặc rượu bia, không khác nhau nhiều giữa người di cư và không di cư. Người không di cư hút thuốc lá và uống rượu bia nhiều hơn chút ít so với người di cư. Tần suất sử dụng rượu bia của người không di cư cao hơn đáng kể so với người di cư.

Sự hiểu biết về các bệnh lây qua đường tình dục (STIs) ở mức cao, với trên 80% người di cư và không di cư cho biết họ có nghe về bệnh lậu, giang mai và viêm gan B. Mức độ nhận thức về STIs của nam cao hơn của nữ và của người không di cư cao hơn người di cư . Nhóm có nhận thức thấp nhất là phụ nữ di cư. Người di cư đến Khu Công nghiệp Đông Nam bộ, và cả người di cư và người không di cư ở Tây Nguyên, có mức độ hiểu biết về STIs tương đối thấp. Mặc dù hiểu biết đúng về sự lây truyền của STIs ở mức độ cao, song vẫn còn nhiều người hiểu sai. Có tới 25% người di cư tin rằng dùng chung bàn chải đánh răng hoặc khăn mặt có thể làm lây truyền STIs.

Mức độ hiểu biết về HIV/AIDS thậm chí còn cao hơn so với những gì quan sát được đối với STIs, với 97% người di cư và không di cư trả lời rằng họ biết về HIV/AIDS. Chỉ ở Tây Nguyên mức hiểu biết là dưới 90%. HIV/AIDS được nhiều người Việt Nam biết đến, và 95% người di cư lần đầu nghe về bệnh này trước khi di chuyển. Phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là ti-vi, là nguồn thông tin về HIV/AIDS được chỉ ra nhiều nhất. So với người không di cư, người di cư nhận được thông tin về HIV/AIDS nhiều hơn từ nguồn không chính thức như bạn bè và người thân, còn người không di cư tiếp cận thông tin từ nguồn chính thức nhiều hơn. Đại đa số đối tượng điều tra biết về các đường lây truyền HIV. Tuy nhiên, khoảng một phần năm số đối tượng điều tra tin rằng muỗi đốt cũng có thể lây. Người không di cư có mức hiểu biết đúng cao hơn chút ít và có mức hiểu biết sai về cách thức lây truyền thấp hơn chút ít, song nói chung ở đây các câu trả lời của người không di cư và người di cư và giữa nam và nữ là tương đương và ở mức độ cao. Gần một nửa số đối tượng điều tra đồng ý với ý kiến cho rằng người di cư có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn so với người không di cư.

Người không di cư hiện đang sử dụng biện pháp tránh thai nhiều hơn so với người di cư. Khoảng 66% người di cư là nữ hiện đang có chồng ở tuổi 15-49 sử dụng biện pháp tránh thai vào thời gian điều tra, trong khi con số đó của người không di cư là 71%. Sự khác nhau lớn nhất về sử dụng biện pháp tránh thai giữa người di cư và người không di cư thuộc về Tây Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ. Khi xem xét theo nhóm tuổi, thấy rằng mức độ và mô hình sử dụng biện pháp tránh thai là tương tự nhau đối với người di cư và không di cư độ tuổi 25-39 và 40-49, song với phụ nữ 15-24, mức độ sử dụng biện pháp tránh thai của người di cư cao hơn 10 điểm phần trăm so với người không di cư. Những người di cư trẻ, nhất là đối với những người đến Thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công nghiệp Đông Nam bộ có tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai tương đối thấp.<

Nguồn: Tổng cục Thống kê - Quỹ dân số LHQ “Điều tra di cư Việt Nam năm 2004:Những kết quả chủ yếu” - NXB Thống kê 2005