KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DÂN SỐ, GIA ĐÌNH VÀ TRẺ EM

 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2005 TẠI 5 XÃ CÓ TỶ LỆ SINH CON THỨ 3

CAO NHẤT TỈNH HẢI DƯƠNG

TÔ THỊ BÍCH DUNG*


*I. Địa bàn và phương pháp, đối tượng tiến hành khảo sát đánh giá

1. Địa bàn

Trong số trên 10 xã có mức sinh tương đối cao và tỷ lệ sinh con thứ 3 cao nhất toàn tỉnh tại thời điểm 30/6/2005, tiến hành lựa chọn ra 5 xã có tỷ lệ này cao nhất từ trên xuống là các xã Phạm Kha huyện Thanh Miện, xã An Đức huyện Ninh Giang, xã Lê Hồng huyện Thanh Miện, xã Quyết Thắng huyện Thanh Hà và xã Cẩm Vũ huyện Cẩm Giàng.

2. Phương pháp, đối tượng nghiên cứu

a. Nguồn số liệu: Tiến hành thu thập số liệu trên sổ theo dõi Hộ gia đình, báo cáo thống kê của Phó ban chuyên trách, cộng tác viên DS,GĐ&TE, sổ theo dõi sinh của Trạm Y tế xã.

Khảo sát, phỏng vấn trực tiếp cộng tác viên (CTV), một số đối tượng sinh con thứ 3 tại cơ sở.

b. Tổ chức hội thảo

II. Đánh giá các hoạt động

Qua khảo sát thực tế tại 5 xã trên, đoàn khảo sát tổng hợp một số chỉ tiêu tính đến thời điểm 30/6/2005 như sau:

 a.      Mức sinh


Số hộ

Dân số

Tổng số sinh (Người)

Số sinh con thứ 3+ (Người)

Tỷ lệ sinh con thứ 3+ (%)

Dự kiến đến hết năm 2005

Số sinh (Người)

sinh con thứ 3+ (Người)

Tỷ suất sinh thô (‰)

Tỷ lệ sinh con 3+ (%)

Phạm Kha

1.691

7.124

51

18

35,2

114

36

16

31,5

An Đức

1.318

5.136

31

08

25,8

57

10

11,1

17,5

Lê Hồng

2.045

7.658

35

10

28,6

97

18

12,7

18,5

Quyết Thắng

2.396

9.626

51

08

15,6

99

16

10,3

16,2

Cẩm Vũ

1.927

7.578

50

12

24,0

98

15

13,0

15,3

Nhận xét: căn cứ vào những kết quả khảo sát đánh giá tại 5 xã mặc dù tỷ suất sinh không cao nhưng tỷ lệ sinh con thứ 3 cao và cao hơn nhiều so với mức chung của toàn tỉnh, dự kiến đến hết năm 2005 tỷ lệ này vẫn tiếp tục tăng cao.

 b. Thực hiện KHHGĐ

 

 

DCTC

Đình sản

Thuốc uống TT

Thuốc tiêm TT

Bao cao su

TH

%KH

TH

%KH

TH

%KH

TH

%KH

TH

%KH

Phạm Kha

145/170

85,3

1/6

16,6

35/35

100

2/4

50

10/10

100

An Đức

75/84

89,2

0/4

0

73/24

304

0

0

61/24

254

Lê Hồng

102/200

51

0/5

0

70/45

155

5/5

100

13/30

66,6

Quyết Thắng

123/226

54,4

4/6

66,6

72/64

112

3/9

33,3

76/68

111

Cẩm Vũ

81/175

46,3

0/4

0

41/40

102

0/13

0

25/25

100

Nhận xét: Tiến độ thực hiện chỉ tiêu kế hoạch năm, hầu hết các xã đều chú trọng phấn đấu, 6 tháng đầu năm các chỉ tiêu đều đạt ở mức khoảng trên 70%. Dự kiến đến hết năm 2005 các chỉ tiêu sẽ đạt và vượt kế hoạch ở các biện pháp như đặt  DCTC, thuốc uống tránh thai và bao cao su, còn đình sản thì khó có khả năng hoàn thành kế hoạch, chỉ có 1 xã/5 xã (xã Quyết Thắng) chỉ tiêu này đã đạt 66,6% kế hoạch năm.


c. Công tác bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em

- Nhìn chung công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em khá tốt. Tất cả 5 xã đều có điểm vui chơi cho trẻ em tại các thôn, đạt 70% địa bàn thôn, tuy nhiên những điểm vui chơi này chưa được huy động đầu tư trang thiết bị vui chơi cho trẻ em.

- Chỉ có 1/5 xã có Quỹ bảo trợ trẻ em, nhìn chung việc huy động quỹ này chưa có nhiều, nguồn huy động của Quỹ từ cộng đồng, thu bao nhiêu thì chi hết bấy nhiêu, 4 xã còn lại không có Quỹ bảo trợ trẻ em.

d. Công tác tổ chức, tham mưu, phối hợp thực hiện của Ban DS,GĐ&TE

- Tổ chức bộ máy của Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em:

+ Đội ngũ Phó ban chuyên trách (PBCT): 100% PBCT được bố trí chuyên trách, thời gian từ 4 đến 7 năm. Qua khảo sát tại các xã này cho thấy PBCT còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ sổ sách. Nhìn chung cán bộ chuyên trách có tuổi đời khá trẻ, tuổi từ 23 đến 40, trình độ văn hoá đều học hết phổ thông.

+ Đội ngũ CTV: số lượng được bố trí đủ theo chỉ tiêu và địa bàn quản lý, gần 100% CTV được bố trí là nữ, chỉ có 01 CTV là nam nhưng là trạm trưởng y tế. Số cộng tác viên mới thay thế ít chiếm khoảng dưới 10%, hầu hết số CTV có thời gian làm công tác này khá lâu từ 5-10 năm, nên có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này tại địa phương. Số CTV mới chưa được tham dự lớp tập huấn nghiệp vụ trong năm.

- Công tác phối hợp, tổ chức thực hiện với các ban ngành đoàn thể còn hạn chế, thiếu sự phối hợp trong công tác tuyên truyền vận động, hầu như chỉ có sự phối hợp của hội phụ nữ do CTV đa số là hội viên của hội phụ nữ, xã Cẩm Vũ (Cẩm Giàng) 100% CTV là cán bộ chi hội trưởng phụ nữ thôn đội.

- Kinh phí chi cho hoạt động dân số, gia đình và trẻ em: 100% các xã đều chi đúng kinh phí cho chương trình mục tiêu phân về cơ sở. Còn nguồn kinh phí đầu tư bổ xung của cơ sở, tại các xã đều không có kế hoạch chi kinh phí cho hoạt động này từ đầu năm. Số kinh phí đầu tư bổ xung thêm chỉ chi vào các hoạt động cho chiến dịch truyền thông với khoản tiền trong khoảng 300.000 đồng, còn các khoản hỗ trợ thêm cho CTV, đối tượng thực hiện KHHGĐ thì hầu như không có và chưa huy động được từ cộng đồng.

Kết luận: Tồn tại nổi bật của các xã được khảo sát đánh giá là mặc dù tỷ suất sinh thô, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở mức thấp, nhưng tỷ lệ sinh con thứ 3 cao và cao hơn so với mức chung của toàn huyện và của tỉnh.

III. Những nguyên nhân

Thứ nhất: Sự lãnh đạo chỉ đạo của cấp Uỷ Đảng, chính quyền cơ sở:

Tuy không phải cả 5 xã sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền thiếu sự quan tâm nhưng có biểu hiện lơi lỏng đối với công tác này và bằng lòng với những kết quả đạt được biểu hiện ở chỗ:

- Mặc dù có Nghị quyết giao chỉ tiêu phấn đấu giảm sinh, giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của HĐND, UBND xã ngay từ đầu năm nhưng thiếu sự chỉ đạo thường xuyên cụ thể, không có sự kiểm tra đôn đốc, chưa có kế hoạch triển khai những nội dung cần làm và chưa giao được chỉ tiêu phấn đấu cho từng ngành đoàn thể, chưa gắn nội dung của công tác này vào các hoạt động cụ thể và đưa chỉ tiêu này vào công tác thi đua khen thưởng của các đoàn thể, thôn, xóm dân cư.

- Việc giao ban chỉ thực hiện đều đặn hàng tháng với CTV, còn hàng quý và 6 tháng không có họp giao ban với các thành viên trong ban chỉ đạo DS, GĐ&TE của cơ sở, chưa làm được việc sơ kết đánh giá để rút kinh nghiệm chỉ đạo và giám sát tiến độ việc thực hiện các chỉ tiêu giảm sinh con thứ 3.

- Nhận thức của cấp Uỷ đảng, chính quyền, các đoàn thể còn bàng quan với tình trạng tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 của địa phương mình, do vậy thiếu sự quan tâm chỉ đạo kịp thời tại địa phương này.

Thứ hai: Nguyên nhân về nhận thức

- Có tới khoảng 60% ý kiến cho rằng một bộ phận dân cư hiểu chưa đầy đủ về Pháp lệnh dân số (PLDS) và khoảng trên 25% các ý kiến cho rằng cố tình hiểu sai lệch về PLDS để cho phép mình được quyền sinh con thứ 3.

- Tâm lý ưa thích con trai vẫn còn rất nặng nề trong nhân dân. Trong các trường hợp sinh con thứ 3 trở lên có khoảng trên 60% đã có 2 con một bề là gái, 10% là sinh con một bề là trai, số còn lại có cả trai lẫn gái.

- Mặt khác tư tưởng trọng nam kinh nữ, bất bình đẳng về giới vẫn còn tồn tại, đặc biệt ở nông thôn và chủ yếu ở nam giới làm chủ gia đình, đây cũng là một trong những yếu tố cản trở tới việc thực hiện KHHGĐ và việc xây dựng quy mô gia đình ít con, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững.

- Một nguyên nhân cũng thuộc về nhận thức của nhân dân; số gia đình sinh thêm con thứ 3 có kinh tế hộ khá giả chiếm tới 50%, trong đó có cả những cặp vợ chồng đã có cả con trai lẫn con gái song vẫn muốn sinh thêm con thứ 3 vì cho rằng có điều kiện nuôi dạy con tốt, không nghĩ tới lợi ích của cộng đồng. Đồng thời, còn có tư tưởng sinh thêm con để đề phòng rủi ro trong cuộc sống như tai nạn giao thông, bệnh tật.

Thứ ba: Tổ chức bộ máy

Khảo sát cho thấy kết quả của công tác này phụ thuộc rất nhiều ở năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách, sự tham mưu của Phó ban chuyên trách với cấp uỷ Đảng chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ với các ban ngành đoàn thể triển khai có hiệu quả mục tiêu chương trình tại địa phương.

Thứ tư: Công tác truyền thông:

- Công tác tuyên truyền vận động chưa thường xuyên, còn nặng về hình thức, chưa phân nhóm đối tượng cụ thể, chưa có kế hoạch phối hợp các ngành đoàn thể tuyên truyền vận động nhằm chuyển đổi hành vi sinh đẻ một cách bền vững.

- Thực tế khảo sát cho thấy việc xây dựng và duy trì các mô hình câu lạc bộ như phụ nữ sinh con một bề, mô hình câu lạc bộ phụ nữ không sinh con thứ 3 có đóng góp rất lớn vào việc giảm và hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại cơ sở nhưng mô hình này còn rất hạn chế, chỉ 1 xã xây ddựng và duy trì mô hình sinh hoạt tương đối thường xuyên.

- Đối tượng truyền thông chủ yếu vẫn tập trung vào nhóm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, còn các nhóm đối tượng khác có ảnh hưởng lớn đến hành vi sinh sản của các cặp vợ chồng đó là nam giới chủ trong gia đình, người cao tuổi thì ít và không được truyền thông một cách đầy đủ.

- Tại các xã được khảo sát, việc phổ biến tuyên truyền PLDS, NĐ 104 của Chính phủ chưa được thường xuyên liên tục, chưa phát huy một cách tích cực kênh truyền thông đại chúng như đài truyền thanh của xã để nhiều người được nghe.

Thứ năm: Cơ chế chính sách

Nghị định 104 của Chính phủ ban hành đã bãi bỏ Quyết định 162 HĐBT năm 1988 về chính sách dân số-KHHGĐ cũng không còn hiệu lực thi hành. Vì vậy các địa phương đã lúng túng khi xử lý các trường hợp vi phạm cụ thể, không biết căn cứ vào đâu để xử lý cho đúng với luật pháp.

- Nguồn kinh phí của địa phương hạn hẹp, không có khoản chi cho mục dân số, nên cũng khó và chưa động viên khen thưởng kịp thời cho đội ngũ CTV, tuyên truyền viên tích cực vận động các đối tượng thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ.

- Công tác DS,GĐ&TE tại cơ sở phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ CTV, song chế độ thù lao còn ít chưa tương xứng với công việc giao, mặt khác xã cũng không có phụ cấp gì thêm.

IV. Các giải pháp

1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền tại cơ sở

- Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền tại cơ sở, công tác dân số phải được coi là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động lãnh đạo, quản lý tại địa phương.

- Tăng cường vai trò của các tổ chức xã hội trong việc nâng cao nhận thức của người dân nhằm thực hiện tốt việc giảm tỷ lệ sinh con thứ 3, đặc biệt là đối với Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân.

- Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra giám sát, rút kinh nghiệm để có phương hướng chỉ đạo kịp thời.

Đưa chỉ tiêu dân số -KHHGĐ là chỉ tiêu phấn đấu thi đua bình xét cuối năm của các ngành, đoàn thể, làng văn hoá, cơ sở Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh.

2. Ổn định tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách tại cơ sở

Địa phương sớm kiện toàn Ban chỉ đạo Dân số, Gia đình và Trẻ em có đủ thành phần cơ cấu các ngành thành viên các đoàn thể của xã để công tác này tại địa phương được chỉ đạo toàn diện hơn và có sự phối hợp tích cực của các ban ngành đoàn thể (trên thực tế khảo sát có xã thành phần tham gia ban chỉ đạo dân số, gia đình và trẻ em thiếu một số ngành như Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên…).

3. Đẩy mạnh và duy trì các hoạt động truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người dân

- Cần tiếp tục đẩy mạnh triển khai công tác truyền thông vận động, tư vấn KHHGĐ thường xuyên, có trọng điểm. Phân nhóm đối tượng cụ thể, ngoài ra cũng cần tập trung vào nhóm những người có uy tín trong gia đình như người cao tuổi và nam giới làm chủ gia đình để tạo ra nhận thức nhằm chuyển đổi hành vi sinh sản một cách bền vững.

- Xây dựng và duy trì mô hình sinh hoạt câu lạc bộ phụ nữ không sinh con thứ 3, câu lạc bộ những người sinh con một bề, mở rộng công tác truyền thông tới các đối tượng người cao tuổi trong gia đình, đặc biệt nam giới làm chủ gia đình là những người có quyền quyết định tới số con của các cặp vợ chồng nhất là các cặp vợ chồng đã có 2 con gái.

- Tăng cường truyền thông trên đài truyền thanh của xã về các nội dung Pháp lệnh dân số, Nghị định 104 của Chính phủ, nêu gương người tốt việc tốt, tập thể tại địa phương làm tốt công tác này tại địa phương, hoặc những việc chưa làm được của địa phương.

4. Cơ chế chính sách

- Nhà nước sớm ban hành các quy định cụ thể về những trường hợp sinh con thứ 3 để địa phương có căn cứ xử lý.

- Có biện pháp xử lý thật kiên quyết đối với những người sinh con thứ 3 là cán bộ, công chức, bộ đội và đảng viên đi công tác xa nhưng có vợ ở nông thôn và có thông báo cụ thể về địa phương.

- Cần đưa việc sinh con thứ 3 thành tiêu chí cơ bản trong xem xét, đánh giá tư cách Đảng viên, tiêu chuẩn bình xét tổ chức Đảng, cấp uỷ Đảng trong sạch vững mạnh và coi đây là một trong những chỉ tiêu xét thi đua của các ngành, các đoàn thể, các thôn, khu văn hoá.

V. Kiến nghị

- Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em TW tăng cường tổ chức chiến dịch truyền thông vận động lồng ghép dịch vụ-KHHGĐ tới vùng sâu, vùng xa, những xã có mức sinh cao, đặc biệt tỷ lệ sinh con thứ 3 cao.

- Đề nghị Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh quan tâm đến công tác đào tạo, bối dưỡng và nâng cao nghiệp vụ thường xuyên cho đội ngũ phó chuyên trách và cộng tác viên.

- Cung cấp tài liệu, sách vở, báo chí chuyên ngành cho các mô hình sinh hoạt câu lạc bộ tại các cơ sở và tăng cường cung cấp, cải thiện chất lượng bao cao su trong hệ thống cung cấp PTTT miễn phí.

- Tăng thù lao hàng tháng cho đội ngũ những người là CTV và có chế độ khen thưởng kịp thời.

- Các cấp có thẩm quyền sửa đổi lại điều 10 của Pháp lệnh Dân số.




* Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Hải Dương