DÂN SỐ, MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

GS. LÊ THI


Ngày 14/9/2005 Hội nghị Thượng đỉnh của Đại Hội đồng Liên hợp quốc nói về dự án “Đối tác-Môi trường-đói nghèo” đã khẳng định rằng: quyết định đầu tư vào lĩnh vực môi trường là giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy nỗ lực xoá đói giảm nghèo1.

Sự phát triển bền vững của xã hội, của bản thân mỗi con gnười, mỗi gia đình gắn chặt với vấn đề bảo vệ, giữ gìn môi trường, tăng trưởng kinh tế (xoá đói giảm nghèo) và thực hiện công bằng, dân chủ. Cần tạo ra sự cân bằng giữa phát triển dân số với tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giữ gìn môi trường.

1. Trước hết chúng tôi muốn bàn về vấn đề dân số, nói rõ hơn là áp lực của việc gia tăng dân số nhanh ở Việt Nam đối với việc tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường. Làm thế nào đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước và cuộc sống ổn định của mỗi gia đình, mỗi cá nhân nam và nữ, các thế hệ già và trẻ?

Vấn đề dân số đang tiếp tục tăng nhanh đặt ra những thách thức gì cho sự phát triển bền vững của nước ta? Dân số Việt Nam trong thế kỷ 20 đã tăng liên tục. Năm 1921 là 15 triệu người, năm 1962 là 31 triệu người tăng gấp đôi (sau 40 năm). Năm 1939 là 19,6 triệu, năm 1969 là 39,5 triệu tăng gấp đôi (sau 30 năm). Năm 1962 có 32,7 triệu người, năm 1989 là 64,8 triệu (sau 27 năm). Tỷ lệ tăng dân số năm 1989 là 2,2%, nếu cứ tiếp tục như vậy thì năm 2021 dân số Việt Nam sẽ là 129,6 triệu người! Trong khi đó Thái Lan đã đạt mức sinh thay thế năm 1992 (khoảng 72 triệu người), Hàn Quốc năm 1985 đạt mức sinh thay thế (khoảng 50 triệu người).

Dân số tăng nhanh ảnh hưởng nhiều đến việc xoá đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mặc dù đã có nhiều cố gắng của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Theo Báo cáo phát triển con người năm 2005 của UNDP thì chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đứng thứ 108 trong 177 nước xếp hạng, tăng 4 bậc so với năm 2004. Tuy nhiên, dù có bước tiến nhanh, chúng ta vẫn còn đứng sau nhiều nước ở Đông Nam Á. Năm 2005 Singapore xếp thứ 25, Hàn Quốc thứ 28, Bru-nây thứ 33, Malaixia thứ 61, Thái Lan thứ 73, Philíppin thứ 842.

Dân số tăng nhanh nên mặc dù có sự tăng trưởng kinh tế đáng kể từ những năm 1990 đến nay, nhưng việc xoá đói giảm nghèo còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở những vùng miền núi, dân tộc ít người. Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam, năm 1993 là 58,1% đã giảm xuống 28,9% năm 2002. Những hộ xếp vào diện nghèo đói là những hộ không đảm bảo 2100 calo/ngày/người, gồm lương thực và phi lương thực3. 29% dân số còn nghèo, tức là gần 1/3 dân số năm 2002 (79,727.000 người) tương đương với gần 23 triệu người còn đói nghèo.

Tốc độ giảm tỷ lệ đói nghèo đang chậm lại, trong khi dân số tiếp tục tăng nhanh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm đi và ổn định hơn, thể hiện qua tỷ lệ tăng GDP, năm 1993 là 8,1% năm 2001 là 6,9% năm 2002 là 7,1%, năm 2003 là 7,3%4.

Năm 2003 GDP tính theo đầu người theo đô la (sức mua tương đương) thì Việt Nam là 2.240 và có 13,4% dân số sống dưới 1 đô la/ngày, trong khi Malaixia GDP 18.922 và có 2% dân số sống dưới 1 đô la/ngày. Thái Lan GDP là 6.788 có 2% dân số sống dưới 1 đô la/ngày5.

Về quy định chuẩn nghèo cho giai đoạn 2006-2010 theo quyết định số 170-2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống là hộ nghèo. Ở khu vực thành thị, các hộ có thu nhập bình quân từ 260.000đ/tháng/người trở xuống là hộ nghèo. Nhìn vào thực trạng thu nhập và mức sống của đa số nhân dân lao động hiện nay, đặc biệt ở nông thôn, miền núi, chúng ta thấy rằng công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam còn rất gian nan vất vả, nếu không hạ thấp và ổn định mức tăng dân số và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế tốt hơn, nhanh hơn.

Chất lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào sự chăm sóc y tế, giáo dục, văn hoá đối với con người, đặc biệt là lớp thanh niên. Năm 2003 tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi trong cả nước là 21%o. Tỷ lệ suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi có xu hướng giảm nhanh xuống còn 28,2% năm 2003.

Về giáo dục đào tạo. Năm 2002 có 92% dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ. Ở bậc tiểu học năm 2003-2004, tỷ lệ đi học của nữ là 102,6%, của nam là 107,4%. Ở cấp trung học cơ sở năm 2003-2004 nữ là 86,5%, nam là 90,2%6. Theo một điều tra quốc gia tỷ lệ đi học của thanh thiếu niên Việt Nam là 96% (điều tra ở 42 tỉnh, thành phố trong độ tuổi từ 14 đến 25). Trình độ học vấn phổ biến nhất là cấp trung học cơ sở với tỷ lệ 49,7%, trong đó thành thị là 38,7%, nông thôn là 53,7%. Tuy nhiên số học sinh bỏ học sau khi đã học xong lớp 5, chiếm tỷ lệ 30%7. Đồng thời dư luận công chúng được phản ánh trên các báo chí gần đây đã nói nhiều về chất lượng giáo dục đào tạo bị sa sút, chạy theo số lượng và hình thức chủ nghĩa. Các trạm y tế còn nghèo nàn, thiếu thuốc. Vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu để gấp rút hoàn thành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta đang đặt ra nhiều thách thức. Không phải cần đến số đông mà phải có dân số có chất lượng nắm bắt được nền kinh tế tri thức, giúp chúng ta vươn lên đuổi kịp các dân tộc khác trên thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, trước hết là các nước Đông Nam Á láng giềng.

2. Sự phát triển bền vững của nước ta đòi hỏi phải tạo ra sự cân bằng giữa phát triển dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng trưởng kinh tế, giữ gìn và bảo vệ môi trường.

Do cuộc sống thúc bách người dân ngày đêm phải tìm mọi cách khai thác thiên nhiên và đã dẫn đến sự phá hoại môi trường bừa  bãi một cách vô ý thức.

Độ che phủ rừng ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ còn khoảng 10%, thấp so với yêu cầu là 30%. Mất rừng, trong đó có cây tràm, gây tác hại rất lớn tới môi trường như không giữ được nước ngọt, mặn xâm nhập. Quy hoạch “lá phổi” cho đồng bằng sông Cửu Long là rất cần thiết. Vì vậy phải có chính sách cụ thể với người trồng tràm.

Không thể có sự phát triển kinh tế lâu dài, xoá đói giảm nghèo có kết quả vững vàng nếu không biết bảo vệ, giữ gìn môi trường tự nhiên mình đang sinh sống. Những người chỉ biết chạy cho lợi ích trước mắt, hạn hẹp đã không nhìn thấy tác hại lâu dài cho chính cuộc sống của cá nhân và gia đình mình, nói rộng ra là sự tồn vong của dân tộc, của cả loài người, nếu cứ tiếp tục phá hoại sự cân bằng của môi trường tự nhiên, khai thác bừa bãi rừng, biển, sông ngòi và các loại sinh vật. Ở đây cùng với việc nâng cao ý thức, sự hiểu biết của người dân và việc bảo vệ giữ gìn môi trường lại cần phải có những biện pháp hành chính để kịp thời trừng phạt những vi phạm, phá hoại môi trường.

3. Sự phát triển bền vững của nước ra dựa trên sự ổn định mức sinh, duy trì một dân số hợp lý, cùng với việc đẩy mạnh sự tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường lại gắn liền với việc thực hiện công bằng, dân chủ trong xã hội, mới tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhân dân tích cực hoàn thành các mục tiêu chiến lược nêu trên.

Sự bình đẳng về cơ hội cho mọi người, mọi tầng lớp xã hội về việc làm, về hưởng thụ các phúc lợi vật chất, tinh thần, từ sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Nói cụ thể là tạo sự bình đẳng về cơ hội trong tiếp cận với học vấn và giáo dục, trong việc làm, trong tăng trưởng kinh tế, kinh doanh và xoá đói giảm nghèo của mỗi cá nhân, trong tiếp cận vốn vay, trong chế độ lương bổng, hưu trí, trong y tế, chữa bệnh v.v…

Quốc hội, cơ quan lập pháp cao nhất, hiện nay đang thảo luận và sẽ thông qua các Sắc lệnh, luật pháp mới như Luật phòng chống tham những, Luật thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, Luật nhà ở, Luật Sở hữu trí tuệ v.v… chính là để có những văn bản chính thức giúp cho hoạt động của bộ máy Nhà nước-cơ quan hành pháp dễ dàng thực hiện quyền hạn và trách nhiệm của mình. Đồng thời quyền giám sát của Quốc hội của Viện Kiểm sát v.v… lại có trách nhiệm theo rõi việc thi hành các luật pháp, đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của người dân được tôn trọng, các chế tài của Nhà nước được thực thi đúng đắn.

Tóm lại, sự phát triển bền vững của nước ta chỉ có thể đạt được trong việc phối hợp chặt chẽ các mục tiêu sau đây: ổn định mức tăng dân số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tích cực tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ, giữ gìn môi trường tự nhiên, phát huy tiềm năng của quần chúng nhân dân trên cơ sở thực hiện công bằng, dân chủ trong môi trường xã hội. Từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa đất nước tiến kịp và hoà đồng vào bước đi của nhân loại tiên tiến trong thế kỷ 21 này.<




1 Báo phụ nữ Việt Nam 19/9/2005.

2 Báo Tuổi trẻ ngày 8/9/2005.

3 Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 “nghèo” trang 7 đến trang 16. Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam tháng 12/2003.

4 Báo cáo về bất bình đẳng của Việt Nam, 2005 trang 9. (Báoc áo tổng hợp của Mðkong Economic Itd DFID tài trợ.

5 Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 “nghèo” trang 7 đến trang 16. Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam tháng 12/2003.

6 Số liệu thống kê giới của Việt nam những năm đầu thế kỷ 21.

7 Điều tra do Bộ Y t ế, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Y tế thế giới, Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc, Báo sức khoẻ và đời sống ngày 11/10/2005.