GIẢM SINH:

QUÁ TRÌNH PHỨC TẠP VÀ KHÓ DỰ BÁO


 


Những thay đổi về tổng tỷ suất sinh (TFR) - số con trung bình trong suốt cuộc đời của một phụ nữ - tác động mạnh tới quy mô dân số và vì thế, đây là trọng tâm của nhiều nghiên cứu, phân tích và tranh luận của các nhà nhân khẩu học. Bản chất phức tạp và khó đoán trước của mức sinh làm cho những cuộc tranh luận này vượt khỏi khuôn khổ học thuật. Các chương trình và chính sách quốc gia và quốc tế về sức khoẻ và kinh tế có thể dựa trên dự báo những thay đổi về quy mô dân số.

Khi các nhà nhân khẩu học thiét lập các dự báo dân số cho các nước đang phát triển, họ thường giả định rằng mức sinh sẽ giảm như đã từng xảy ra ở những quốc gia này trong các thập kỷ trước. Nhưng mức sinh giảm đi bao nhiêu và mức độ như thế nào thì vẫn chưa được khẳng định. Trước đây, nhiều dự báo thường cho rằng mức sinh sẽ đạt "mức thay thế" là 2 con một phụ nữ. Với mức sinh này, quy mô dân số cuối cùng sẽ ổn định.

Tại nhiều nước công nghiệp và một số nước đang phát triển nhu Trung Quốc và Thái Lan, mức sinh trung bình đã thấp hơn mức trung bình 2 con/phụ nữ. Bởi sớm hoặc muộn các mức sinh thấp này sẽ dẫn đến giảm dân số, một số báo cáo đã cảnh báo về khả năng "giảm sinh" trên toàn thế giới. Tuy nhiên, hầu hết các nước trên thế giới đang có mức sinh cao hơn mức trung bình 2 con và số lượng lớn phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ do mức sinh cao trong quá khứ.  Vì thế, gia tăng dân số toàn cầu chắc chắn sẽ còn tiếp diễn trong nhiều thập kỷ nữa.

Dự báo dân số của Liên hợp quốc thường coi phương án "trung bình" là có khả năng nhất, mức sinh của các nước đang phát triẻn sẽ dừng ở mức 2,1 con/phụ nữ vào năm 2050 và cuối cùng sẽ là 1,85. Với bất kỳ một dự báo nào, các giả thiết như vậy có thể đúng cho một số nước, nhưng không chính xác cho một số nước khác. Mặc dù thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ 20 đã chứng kiến sự giảm sinh nhanh tại nhiều quốc gia, mức sinh hiện nay là khoảng 3,0 con/phụ nữ  tại các nước đang phát triển và tốc độ giảm sinh có xu hướng chậm lại khi mức sinh đạt ở mức thấp hơn.

Trong một phân tích mới đây về các số liệu điều tra những năm 1990-2000 ở các nước đang phát triển, nhà nhân khẩu học John Bongaarts của Hội đồng Dân số phát hiện rằng trong khi một số nước chưa giảm sinh thì một số nước khác đã "ngừng lại" trong thời kỳ quá độ từ mức sinh cao xuống mức sinh thấp. Các nước như Buốc-ki-na Pha-sô, Mali, Môdămbích, Nigiê và Uganđa là những nước rất nghèo nhưng có mức sinh cao, gần như không thay đổi từ cuộc điều tra lần đầu cho tới các điều tra tiếp theo vào  những năm 1990. Tại các nước ''ngừng giảm sinh"  như Cộng hoà Đô-mi-ních, Gana, Kênia, và Thổ Nhĩ Kỳ, các mức sinh dao động trong phạm vi từ 2,5 con/phụ nữ (Thổ Nhĩ Kỳ) đến 4,7 con/phụ nữ (Kênia) sau khi mức sinh giảm đáng kể trước đó. Biểu đồ dưới đây minh hoạ các mô hình giảm sinh ít hay không giảm tại Uganđa, giảm nhanh tại Iran, ngừng giảm sinh ở Kênia và ngừng giảm sinh sau khi mức sinh tiếp tục giảm ở Bănglađét.

Bongaarts nhận thấy các yếu tố liên quan tới giảm sinh - sử dụng tránh thai và mong muốn có ít con - cũng gần như không thay đổi tại các nước ngừng giảm sinh. Tương tự, việc sinh con không theo ý muốn và nhu cầu tránh thai chưa được đáp ứng vẫn cao ở các nước này (nhu cầu tránh thai chưa được đáp ứng là tỷ trọng phụ nữ mong muốn tránh thai nhưng không sử dụng biện pháp tránh thai). Ở Gana, Kênia và CH Đôminích, những cải thiện về kinh tế-xã hội như tăng thu nhập bình quân đầu người và giáo dục cũng chậm lại.

Các phát hiện này cho thấy tại các nước ngừng giảm sinh, cần đầu tư nhiều hơn vào phát triển kinh tế-xã hội, cũng như cải thiện tiếp cận và cung cấp tránh thai để giảm mang thai không chủ định và tiếp tục giảm sinh. Tại châu Phi đại dịch HIV/AIDS cũng có thể làm chậm lại tiến bộ phát triển kinh tế-xã hội và tăng số cặp vợ chồng mong muốn có nhiều con. Tại một số nước, việc ngừng giảm sinh có thể là tạm thời, trong khi lại tiếp tục nhiều năm tại một số nước khác, điều này phụ thuộc vào các xu hướng của các yếu tố tác động đến sinh đẻ.<

THU HƯƠNG

Nguồn: Population Reference Bureau. 2005 World Population Data Sheet.