NGĂN CHẶN NGUY CƠ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH Ở VIỆT NAM

                                                                                                             NGUYỄN THÁI HÀ[*]

Những thông tin về việc Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị mất cân bằng giới tính đã được Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em cảnh báo từ cuối năm 2005'. Đặc biệt trong hai năm gần đây, vấn đề mất cân bằng giới tính ở Việt Nam đã và đang thu hút sự quan tâm của báo giới và các nhà nghiên cứu. Tâm lý thích con trai vẫn thể hiện rõ trong đời sống xã hội Việt Nam. Điều tra Biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) cho kết quả tỷ số giới tính khi sinh số trẻ sơ sinh nam/100 trẻ sơ sinh nữ năm 2006 là 110 và năm 2007 là 112 đã chứng tỏ nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam.

1.  Số liệu thống kê

Thực tế quan sát trong nhiều năm cho thấy tỷ số này ở châu Phi là 104, châu Mỹ la tinh là 105, châu Âu và châu Á là 106. Tỷ lệ giới tính của Việt Nam đang tăng nhanh, từ 110 (năm 2006) đã lên đến 111 (năm 2007) - tương đương với Trung Quốc 10 năm trước - khi nước này bước vào giai đoạn mất cân bằng giới tính. Số liệu về tỷ số giới tính khi sinh Việt nam qua các năm, từ năm 2001 đến 2007 được thể hiện trong bảng  số liệu dưới sau.

Tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam, 2001-2007

Năm

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Điều tra DS-KHHGĐ

109

107

104

108

106

110

111

Nguồn: Kết quả Điều tra Biến động DS-KHHGĐ

Tỷ số giới tính khi sinh theo số liệu tính toán từ số sinh năm 2007 của Bộ Y tế và Tổng cục thống kê thu thập tại các cơ sở y tế năm 2006 cho kết quả tương tự. Theo báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2006 trong số 64 tỉnh, thành phố chỉ có 19 tỉnh thành phố có tỷ số giới tính khi sinh từ 110 trở lên. Theo báo cáo của Bộ Y tế, con số này đã tăng lên 35 tỉnh vào năm 2007. Cần lưu ý là có 8 tỉnh có tỷ số giới tính khi sinh trong cả hai năm 2006 và 2007 đều ở mức cao (từ 110 trở lên). Đó là các tỉnh Điện Biên, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Đắc Lắc và Ninh Thuận.

 

Tỷ số giới tính khi sinh ở một số tỉnh/thành phố năm 2007

 

 

Thứ hạng

 

Tỷ số giới tính khi sinh

 

 

Cả nước

111

 

1

Bắc trung bộ

114

 

2

ĐB sông Hồng

113

 

3

Đông Bắc

112

 

4

Nam trung Bộ

111

 

5

Tây Nguyên

111

 

6

Đông Nam Bộ

110

 

7

ĐB Sông Cửu long

110

 

8

Tây Bắc

106

Thứ hạng

 

Tỷ số giới tính khi sinh

 

 

Các tỉnh có tỷ số giới tính cao

 

1

 Hư­ng Yên

129

 

2

 Thanh Hoá

122

 

2

 Bắc Ninh

122

 

4

 Hải Dư­ơng

120

 

5

 Kiên Giang

118

 

5

 Bắc Giang

118

 

7

 Quảng Ninh

117

 

8

 Tây  Ninh

116

 

9

 Hà Tây

115

 

10

 Tuyên Quang

114

 

11

 Quảng Trị

113

 

11

 Kon Tum

113

 

11

 Thái Bình

113

 

11

 Phú Thọ

113

 

11

 Quảng Nam

113

 

11

 Cà Mau

113

 

11

 Điện Biên

113

 

18

 Bình Định

112

 

18

 Phú Yên

112

 

18

 Đắk Lắk

112

 

18

 Lào Cai

112

 

    Nguồn: UNFPA Thực trạng dân số Việt Nam 2007.

Năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh của Việt nam ở mức cao thứ 4 trên thế giới (Armenia: 117; Georgia: 116, Trung quốc:112; Việt Nam, Albania và Đài Loan đều đạt: 110) và năm 2007 tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam đã là 112.

Tuy có nhiều bằng chứng để kết luận rằng, tỷ số giới tính của trẻ sơ sinh ở nước ta khá cao, nhưng nhiều chuyên gia trong lĩnh vực dân số vẫn “thận trọng khẳng định rằng chưa có dấu hiệu về mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam”.[2]

Qua trao đổi của ông Dương Quốc Trọng, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Dân số - Bộ Y tế với phóng viên Báo Công an nhân dân: “Tỉ lệ giới tính cân bằng khi sinh trong tự nhiên là 103-105 trẻ trai/100 trẻ gái. Theo kết quả ba cuộc Tổng điều tra dân số Việt Nam thì năm 1979, tỉ lệ này là 105/100, năm 1989 là 106/100, năm 1999 là 107/100. Hiện giờ, theo thống kê tại Tổng Cục dân số, năm 2006, tỉ lệ này là 110/100, năm 2007 là 111/100. Chúng ta đừng vội giật mình khi thấy mức chênh lệch giới tính cao qua điều tra chọn mẫu tại một số địa phương, vì đây không phải điều tra tổng hợp và chưa mang tính đại diện. Muốn có con số tin cậy cao nhất, chúng ta phải đợi kết quả Tổng điều tra dân số lần thứ tư vào năm 2009. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào kết quả ba cuộc tổng điều tra dân số trước đây, theo tôi, mức độ mất cân bằng giới tính đã là đáng báo động. Vì cứ sau 10 năm, tỉ lệ trẻ nam/trẻ nữ ở nước ta lại tăng lên”.[3]

Từ những số liệu trên và kết quả của nhiều cuộc điều tra khác nhau có thể nhận định rằng: Tỷ số giới tính khi sinh ở nước ta vào loại khá cao, trên mức bình thường và nguy cơ mất cân bằng giới tính đã hiện diện ở nước ta. 

2. Nguyên nhân mất cân bằng giới tính khi sinh

Về kinh tế, trong nền sản xuất nông nghiệp, thủ công, sự vượt trội về sức lao động của con trai trở thành một ưu điểm. Năng suất lao động thấp, cha mẹ thường không có tích luỹ để dành cho tuổi già nên khi hết khả năng lao động cuộc sống hoàn toàn phải dựa vào con, chủ yếu là con trai, vì con gái đã đi lấy chồng, còn bảo hiểm xã hội hầu như chưa có. 

Về văn hoá, sự ưa thích con trai, đặc biệt là những quan niệm “trọng nam, khinh nữ”, "nối dõi tông đường", “có người thờ cúng sau khi qua đời”, “muốn có người nuôi dưỡng khi về già” và nhiều phong tục tập quán khác thấm đẫm tư tưởng Nho giáo ở các nước châu Á làm cho tâm lý "nhất thiết phải có con trai" vẫn còn ngự trị ở số đông dân chúng. Hệ thống an sinh xã hội của chúng ta chưa tốt, nhiều người lo lắng cho cuộc sống khi về già nếu không có con trai.

Về kỹ thuật, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật cho phép cung cấp dịch vụ tư vấn và nhiều phương pháp kỹ thuật vừa rẻ tiền vừa sinh được con theo ý muốn. Siêu âm có thể chẩn đoán sớm giới tính thai nhi. Một số người sẽ lựa chọn phá thai nếu giới tính của đứa con tương lai không đáp ứng được mong muốn của cha mẹ, theo nhiều nhà nghiên cứu, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất cân bằng giới tính sơ sinh là do kỹ thuật. Ở Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ biết giới tính thai nhi trước khi sinh rất cao và ngày càng tăng: Năm 2003-2004 là 61%; Năm 2005-2006 tăng lên đến 66%.

Sự can thiệp bằng các biện pháp kỹ thuật để sinh con trai không còn là chuyện hiếm, kể cả các vùng nông thôn. Nhưng chưa có nơi nào bị  xử lý vì điều này.

“Theo mt nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Phát triển xã hội thì có, 2/3 số phụ nữ sinh con được điều tra biết giới tính của con trước khi sinh, 98% trong số đó là qua siêu âm. Vì vậy siêu âm và nạo thai được sử dụng như những phương tiện "hiệu quả" để đạt được nhu cầu lựa chọn giới tính”.

Về thống kê, cũng cần chú ý rằng, đăng ký dân số không đầy đủ, thống kê không chính xác cũng làm mất cân đối giới tính một cách giả tạo. Ví dụ như, do tâm lý “trọng nam, khinh nữ” nên nếu sinh được con trai, cha mẹ có thể "sốt sắng" đi khai sinh ngay, nhưng nếu sinh con gái, cha mẹ lại "lần lữa" làm việc này. Hoặc ngày nay tên đệm của nhiều em gái không còn chữ “Thị” nên có thể cán bộ thống kê nhầm thành con trai....Tất cả những trường hợp nói trên có thể dẫn đến tỷ số giới tính của trẻ em một cách giả tạo.

3. Các giải pháp

Do nguyên nhân chủ yếu của mất cân bằng giới tính là việc lựa chọn giới tính nên một số quốc gia đã đưa lựa chọn giới tính thành một tội danh trong Bộ luật Hình sự. Ấn Độ phạt tù và phạt tiền nặng nếu thông báo giới tính thai nhi. Trung Quốc đang có dự Luật phạt tù 3 năm và phạt tiền. Trong 2 năm 2004-2005 tỉnh Hồ Bắc đóng cửa 201 phòng khám có phá thai lựa chọn giới tính.

Theo Tổng Cục DS–KHHGĐMuốn giải quyết vấn đề một cách toàn diện, cần phải tăng cường tuyên truyền để người dân thay đổi quan niệm trọng nam khinh nữ, tăng cường vị thế của phụ nữ, chuyển đổi việc làm phù hợp cho một số làng nghề đặc thù cần nhiều con trai và cần phải có hệ thống chính sách, chế tài thực sự hiệu quả ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi”.

Việc tuyên truyền không chỉ đối với “khách hàng” là những cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh để mà cả những “nhà cung cấp dịch vụ y tế”. Cần vận động cả chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc quan tâm giám sát việc thực thi pháp luật.

“Có 3 vấn đề mà người dân cũng như các cấp chính quyền cần tập trung: Tiếp tục tạo chuyển biến thông qua vận động, tuyên truyền người dân thực hiện kế hoạch hoá gia đình, đổi mới cách thức tiếp cận, mục đích nhằm giảm tỉ lệ sinh, không để mất cân bằng giới tính, nâng cao chất lượng dân số...”[4]

Để ngăn chặn nguy cơ mất cân bằng giới tính ở Việt Nam, theo chúng tôi cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:

1. Tuyên truyền, vận động, giáo dục về bình đẳng giới và thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.

2. Lồng ghép giới vào quá trình xây dựng các chính sách kinh tế -xã hội - môi trường.

3. Có giải pháp đồng bộ nhằm phòng, chống nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em.

4. Phát triển hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt quan tâm đến chính sách chăm sóc người già.

5.  Xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm Pháp lệnh Dân số.



[*] Viện Khoa học Thống kê, Tổng cục Thống kê

' Cảnh báo về nguy cơ mất cân bằng giới tính tại Việt Nam

 

[2] Nguy cơ mt cân bng gii tính tr sơ sinh

[3] Tìm lời giải cho tình trạng mất cân bằng giới tính

 

[4] Phát biểu của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết tại buổi mít tinh nhân Ngày dân số Việt Nam do Uỷ ban Nhân dân TP.Hà Nội và Bộ Y tế tổ chức ngày 26/12/2007.