CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI NHÂN KHẨU HỌC

                                                                                                ĐINH CÔNG THOAN*

 

I. Sự chuyển đổi nhân khẩu học và những thách thức

            Trong hiện tại và tương lai, dân số nước ta bước vào “giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học” – giai đoạn chưa từng có trong lịch sử dân số Việt Nam.

1. Từ giai đoạn mức sinh cao chuyển sang mức sinh thấp, nhưng mức sinh thấp là chưa vững chắc và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khách quan và chủ quan làm tăng mức sinh cao trở lại

Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) đạt mức cực đại là 6,39 con vào năm 1960, giảm xuống 5,25 con năm 1975 và 3,8 con theo tổng điều tra dân số 1/4/1989. Giai đoạn 1993-2000 là giai đoạn thành công nhất của chương trình DS-KHHGĐ, tổng tỷ suất sinh giảm rất nhanh từ 3,74 con năm 1992 xuống 2,33 con 1/4/1999 và 2,07 con 1/4/2007. Từ năm 2005, mức sinh xuống thấp 2,11 con và đang tiệm cận mức sinh thay thế.

 

Năm

Tổng tỷ suất (con)

Tỷ suất sinh thô (‰)

Tỷ lệ tăng dân số (%)

1960

6,39

43,90

3,93

1975

5,25

33,20

2,57

1985

3,98

31,00

2,08

1989

3,80*

30,10*

2,10

1992

3,74*

30,04*

1,80

1995

2,78*

23,90*

1,65

1999

2,33*

19,89*

1,51

2003

2,12*

17,50*

1,47

2004

2,23*

19,20*

1,40

2005

2,11*

18,60*

1,31

2006

2,09*

17,40*

1,24

2007

2,07*

16,90*

1,21

Nguồn: Tổng cục Thống kê; * là số liệu tính theo thời điểm điều tra 1/4 hàng năm.

Kết quả đạt được về mức sinh là chưa vững chắc, vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khách quan và chủ quan làm tăng mức sinh cao trở lại. Từ sau năm 2000 đến nay, mức sinh có sự giao động “lên, xuống” qua các năm, giữa các khu vực, vùng đại lý kinh tế và các địa phương.

- Tâm lý, tập quán của người dân trong xã hội nông nghiệp, lại chịu ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng nho giáo về việc sinh con, muốn có đông con và phải có con trai để nối dõi tông đường còn rất nặng nề.

- Điều kiện thấp kém của nền kinh tế, đời sống nhân dân còn khó khăn và các dịch vụ xã hội chưa đảm bảo cho việc chấp nhận và thực hiện quy mô gia đình có một hoặc hai con. Dân số nông thôn chiếm tỷ lệ cao tới 73%, đa số người dân chưa có bảo hiểm tuổi già. Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi còn cao, tình trạng dịch bệnh, tai nạn giao thông và các tai nạn khác vẫn chưa đảm bảo độ an toàn để chấp nhận một hoặc hai con. Dịch vụ chăm sóc người già, người tàn tật, trẻ thơ vẫn chủ yếu dựa vào gia đình.

- Số phụ nữ bước vào tuổi sinh đẻ hàng năm lớn gấp 2 lần số ra khỏi độ tuổi này. Tổng số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng nhanh từ 21,5 triệu người năm 2000 lên 24,2 triệu người năm 2005 và đạt mức cực đại là 27,1 triệu người vào năm 2020. Đáng chú ý là số phụ nữ trong nhóm tuổi mắn đẻ nhất (nhóm 20-29) tăng từ 7,0 triệu người năm 2000 lên 7,9 triệu người năm 2005 và đạt mức cực đại là 8,71 triệu người năm 2010 và 8,73 triệu người năn 2015.

 

 

Năm

Số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (1000 người)

Tỷ lệ nữ trong độ tuổi sinh đẻ so số nữ (%)

Số nữ bước vào tuổi sinh đẻ so số ra tuổi sinh đẻ (%)

Số phụ nữ 15-49 tuổi

Số phụ nữ 20-29 tuổi

Nữ 15-49 so tổng số nữ

Nữ  20-29 so số nữ 15-49

1990

16.278

6.127

48,1

37,6

331

2000

21.476

6.985

54,4

32,5

237

2010

26.029

8.712

57,9

33,5

145

2020

27.084

7.970

54,1

29,4

102

2030

26.774

6.781

49,8

25,3

84

2040

25.154

7.109

44,7

28,3

82

2050

23.259

6.560

40,7

28,2

89

Nguồn: Tổng cục Thống kê và dự báo dân số của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.

- Mức sinh có sự khác biệt giữa các khu vực và các vùng: khu vực thành thị đã tiệm cận mức sinh thay thế từ năm 1999, nhưng có sự giao động “lên, xuống” qua các năm khá lớn; khu vực nông thôn chưa đạt mức sinh thay thế và tiếp tục giảm sinh, nhưng mức giảm rất chậm; có 3 vùng là đạt hoặc thấp hơn mức sinh thay thế và còn 5 vùng chưa đạt mức sinh thay thế, trong đó mức sinh của Tây Nguyên, Tây Bắc và Bắc Trung bộ còn cao.

2. Quy mô dân số lớn sẽ đạt cực đại là 115-120 triệu người vào giữa thế kỷ 21 và sau đó sẽ ổn định ở mức này, nếu duy trì được mức sinh thay thế

            Năm 1960, dân số nước ta chỉ có 30,2 triệu người, sau 30 năm, quy mô dân số đã lớn gấp gần 2,2 lần so với năm 1960 (tức là 66,0 triệu người năm 1990); sau 30 năm tiếp theo, quy mô dân số sẽ lớn gấp 3,3 lần so với năm 1960 (tức là 99,2 triệu người vào năm 2020) và 30 năm tiếp theo, quy mô dân số sẽ lớn gấp 3,8 lần so với năm 1960 (tức là 115,7 triệu người vào năm 2050).

 

Năm

Dân số

(triệu người)

Dân số tăng thêm sau 15 năm

(triệu người)

Tốc độ phát triển so với năm 1960 (%)

Mật độ dân số (người/Km2)

1960

30,2

 

100

91

1975

47,6

17,5

158

144

1990

66,0

18,4

219

199

2005

83,1

17,1

275

252

2020

99,2

15,6

327

398

2035

109,2

10,5

362

330

2050

115,7

6,5

383

350

Nguồn: Tổng cục Thống kê và dự báo dân số của Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em.

Đến năm 2007, quy mô dân số là 18,2 triệu người, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực ASEAN (sau Indonesia và Philippine). Quy mô dân số tiếp tục tăng bình quân hơn 1 triệu người trong giai đoạn 2005-2020 và sẽ đạt cực đại ở mức 115-120 triệu người vào giữa thế kỷ 21, và sau đó sẽ ổn định ở mức này nếu duy trì vững chắc mức sinh thay thế. Mật độ dân số tăng rất nhanh từ 91 người/km2 năm 1960 lên 199 người/km2 năm 1990 và 287 người/km2 năm 2007. Dự báo mật độ dân số sẽ tăng lên 298 người/km2 năm 2020 và ổn định ở mức 350 người/km2 từ năm 2050 trở về sau.

3. Kết thúc giai đoạn “cơ cấu dân số trẻ” từ năm 2005, bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” trong giai đoạn rất ngắn 2007-2022 và dự báo sẽ bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số già” từ năm 2017

Trong suốt thời gian dài của lịch sử, dân số nước ta luôn được gọi  là “cơ cấu dân số trẻ”. Tuổi trung vị của dân số có chiều hướng tăng từ 18,3 tuổi năm 1979, lên 20,2 tuổi năm 1989, lên 23,2 tuổi năm 2000. Đến năm 2005, dân số nước ta kết thúc giai đoạn cơ cấu dân số trẻ với trung vị là 25,5 tuổi (nhưng đến nay, nhiều người vẫn gọi hoặc viết theo thói quen là dân số trẻ).

            Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động vượt mức 50% năm 1979 và tiếp tục tăng nhanh, đạt cực đại vào năm 2015 và sau đó sẽ giảm dần. Cơ cấu dân số nước ta bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” trong giai đoạn rất ngắn (từ năm 2007 đến năm 2022) với tỷ lệ dân số phụ thuộc chiếm dưới 50%.

Dân số nước ta sẽ bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số già” từ năm 2017 với tỷ lệ người già tăng rất nhanh từ 11,2% năm 2020 lên tới 28,5% năm 2050. Tuy nhiên, tốc độ già hoá của dân số nước ta là chậm, khoảng 35 năm (tỷ lệ người già từ 7% năm 1990 tăng lên 14% năm 2025).

4. Chênh lệch giới tính khi sinh bước vào mức cao

Tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam có xu hướng tăng nhẹ từ 105 năm 1979 lên 106 năm 1989 và 107 năm 1999, nhưng tỷ số này đã tăng mạnh trong giai đạon 2000-2006 và bước vào mức cao là 112 năm 2007, tương đương với số liệu của Trung Quốc trong những năm 1988-1990, khi nước này bước vào giai đoạn mất cân bằng giới tính. Đặc biệt, tỷ số này ở 9 tỉnh, thành phố đã tăng rất cao từ 115-128. Thêm vào đó, tình hình phụ nữ di cư, lấy chồng nước ngoài có xu hướng tăng ở một số địa phương, sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề mất cân bằng giới tính theo hướng thừa nam, thiếu nữ ở nước ta trong những năm tới.

5. Cường độ di dân tăng nhanh, dân số lưu động ngày càng lớn và diễn biến phức tạp trong khi công tác quản lý dân số phân tán, thiếu thống nhất.

Tác động của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã tạo ra cường độ di dân tăng nhanh và diễn biến phức tạp về mục đích, thời gian, địa điểm, hướng di chuyển, nhất là di dân từ khu vực nông thôn vào đô thị, khu công nghiệp và di cư tự do đến một số vùng miền núi và Tây Nguyên. Việc quản lý dân số lưu động gặp khó khăn, người di cư nói chung gặp rất nhiều khó khăn về nhà ở (70-80% ở nhà tạm) và khó tiếp cận các dịch vụ xã hội, đặc biệt là dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, kể cả dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ.

Việc quản lý dân số phân tán, lạc hậu, thiếu thống nhất ở nhiều bộ, ngành đã làm hạn chế đến hiệu quả của việc hoạch định chính sách và việc lồng ghép dân số với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Mỗi cơ quan, tổ chức đều lập cơ sở dữ liệu riêng về dân số, nên bị trùng lặp gây lãng phí; phương thức quản lý dân số chủ yếu dựa trên các loại sổ sách, thẻ, phiếu và xử lý, khai thác các nguồn thông tin số liệu bằng thủ công; thông tin cá nhân chỉ xác định tại một thời điểm, chưa cập nhật sự biến động thường xuyên, bị gián đoạn theo nội dung quản lý và không liên tục từ khi sinh đến khi chết; hình thức quản lý dân số còn mang tính chất hành chính, giấy tờ, chưa gắn với người thực tế thường trú.

6. Chất lượng dân số thấp về cả thể lực, trí tuệ và tinh thần

Chỉ số phát triển con người của nước ta tuy từng bước cải thiện, nhưng vẫn ở mức thấp so với nhiều nước trong khu vực và thấp xa so với các nước công nghiệp (giá trị chỉ số HDI là 0,733 điểm và xếp thứ 105/177).

Một số chỉ tiêu phản ánh về sức khoẻ bà mẹ, trẻ em còn ở mức kém: Năm 2005, tỷ suất tử vong mẹ còn ở mức cao tới 115/100.000 trẻ sinh ra sống; tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi của cả nước là 16‰ nhưng ở một số vùng còn rất cao tới 25-34‰o; tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân của trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 20,2%, ở một số vùng còn cao tới 30-35%.

Số lượng người tàn tật của cả nước khá lớn khoảng 5,3 triệu người, chiếm gần 6,3% dân số, trong đó tỷ lệ tàn tật do nguyên nhân chiến tranh thấp hơn so với tỷ lệ tàn tật do các nguyên nhân mắc phải bởi tai nạn giao thông, tai nạn lao động và dị tật bẩm sinh. Trong số khoảng 1 triệu trẻ em tàn tật thì các nguyên nhân về dị tật bẩm sinh, tai nạn thương tích chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ dân số bị thiểu năng thể lực và tí tuệ chiếm tới 1,5% dân số và hàng năm vẫn tiếp tục tăng thêm do số trẻ em sinh ra bị dị tật và các bệnh bẩm sinh.

Tình trạng bệnh tật, nhất là bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục HIV/AIDS là rất đáng lo ngại. Mặc dù tuổi thọ bình quân của nước ta đạt khá cao là 71,3 tuổi so với mức thu nhập, nhưng theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2002 thì tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại rất thấp, chỉ đạt 58,2 tuổi và xếp thứ 116 so với 174 nước trên thế giới.

Vị thành niên và thanh niên Việt Nam không chỉ thấp bé, nhẹ cân mà yếu cả về sức mạnh cơ bắp, sức dẻo dai và sự bền bỉ: Quan hệ tình dục, nhất là tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, tình trạng mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai ở vị thành niên và thanh niên có xu hướng gia tăng; Việc làm đang là mối quan tâm của vị thành niên và thanh niên, nhưng đa số họ cho rằng kiếm được việc làm không phải là đơn giản; Sự lạm sụng và sử dụng chất gây nghiệm như thuốc lá, rượu bia có xu hướng gia tăng, có tới 69% vị thành niên và thanh niên đã từng uống rượu hoặc bia và 58% trong số đó đã từng say; Những vấn đề căng thẳng về tâm lý bao gồm cả hiện tượng tự tử, gây thương tích, vi phạm pháp luật ngày càng trở nên nghiêm trọng đối vói giới trẻ. Rối loạn tâm trí ở trẻ em chiếm tỷ lệ cao tới 20%.

Các tố chất về tầm vóc thể lực của người Việt nam còn nhiều hạn chế, đặc biệt là chiều cao, cân nặng và sức bền còn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề nghiệp, chuyên môn, kỹ thuật thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

II. Biện pháp thực hiện chính sách dân số

1.        Nỗ lực duy trì vững chắc mức sinh thay thế

1.1. Mục đích

Kiên định thực hiện mục tiêu gia đình ít con, mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con để duy trì vững chắc mức sinh thay thế và quy mô dân số nước ta không quá 100 triệu người vào năm 2020, tạo cơ sở vững chắc để ổn định quy mô dân số ở mức 115-120 triệu người từ giữa thế kỷ 21.

1.2. Phương thức thực hiện

Việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế trong hoàn cảnh kinh tế – xã hội nước ta chưa phát triển là hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài. Hoàn cảnh đó là do tâm lý, tập quán, tư tưởng nho giáo của đa số nhân dân muốn có đông con, phải có con trai còn rất nặng nề và điều kiện thấp kém của nền kinh tế chưa đủ đảm bảo độ tin cậy cho người dân thực hiện gia đình có 1-2 con.

Trong mọi chính sách kinh tế xã hội và hành động của mọi cơ quan đơn vị, tổ chức xã hội phải luôn quán triệt tư tưởng chống chủ quan, thoả mãn và buông lỏng công tác dân số khi thấy mức sinh thấp, kiên trì thực hiện mục tiêu gia đình ít con, mỗi cặp vợ chồng có một hoặc hai con để duy trì vững chắc mức sinh thay thế.

-          Phân nhóm các tỉnh theo mức sinh

+ Nhóm 1 là nhóm các tỉnh có mức sinh thấp. Nhóm này bao gồm 23 tỉnh, thành phố đã đạt tổng tỷ suất sinh dưới 2,0 con liên tục từ năm 2005 đến nay.

+ Nhóm 2 là nhóm các tỉnh có mức sinh chưa ổn định. Nhóm này bao gồm 18 tỉnh, thành phố có mức sinh từ 2,0 con đến dưới 2,3 con, nhưng có sự giao động lên xuống trong những năm qua.

+ Nhóm 3 là nhóm các tỉnh có mức sinh cao. Nhóm này bao gồm 23 tỉnh, thành phố có mức sinh từ 2,3 con trở lên tính từ năm 2005 (mặc dù mức sinh của một số tỉnh này có thể giảm xuống dưới 2,3 con trong những năm qua).

-          Giải quyết đồng bộ các vấn đề dân số

-          Kết hợp giữa chính sách, pháp luật và tuyên truyền giáo dục

Tuyên truyền, vận động và giáo dục là giải pháp cơ bản của công tác dân số. Nhận định này xuất phát từ bản chất của công tác dân số là nhằm làm chuyển biến nhận thức, thái độ và chuyển đổi hành vi của người dân trong việc thực hiện quy mô gia đình ít con. Tuy nhiên, chính sách, pháp luật là sự thể hiện đường lối, chủ trương chiến lược lâu dài và các quy tắc xử sự chung trong toàn xã hội, nên chính sách, pháp luật tạo ra hành lang pháp lý cho các chủ thể trong xã hội để tổ chức thực hiện thống nhất các biện pháp và hoạt động cụ thể. Sự kết hợp giữa chính sách, pháp luật và tuyên truyền giáo dục tạo điều kiện cần thiết cho việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế.

-          Kết hợp giữa biện pháp vĩ mô và biện pháp vi mô

Quy mô và tốc độ gia tăng dân số tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì vậy, việc kiểm soát quy mô dân số không chỉ được thực hiện bởi các biện pháp vi mô trực tiếp của các chủ thể mà phải được thực hiện bởi các biện pháp gián tiếp thông qua việc lồng ghép vấn đề dân số vào các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của cả đất nước, các Bộ, ngành và địa phương. Đồng thời, các cấp, các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội phải đưa công tác dân số thành một nội dung quan trọng trong chương trình công tác thường kỳ và lấy kết quả thực hiện công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình là một tiêu chuẩn để đánh giá mức đo hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, đơn vị.

1.2. Các biện pháp thường xuyên

- Tuyên truyền, vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo dư luận xã hội ủng hộ, chấp nhận và thực hiện quy mô gia đình ít con.

- Tổ chức thực hiện các mô hình truyền thông phù hợp với tính chất, đặc điểm và điều kiện của mỗi ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội.

- Thực hiện giáo dục dân số, giới và giới tính, SKSS/KHHGĐ phù hợp với các lớp học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân.

- Cung cấp phương tiện tránh thai và dịch vụ KHHGĐ, đảm bảo số lượng, chất lượng, thuận tiện, kịp thời thông qua nhiều kênh cung cấp có hiệu quả đến mọi đối tượng sử dụng.

- Nâng cao trình độ kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ cung cấp phương tiện tránh thai, dịch vụ KHHGĐ và nâng cao năng lực của các cơ sở dịch vụ KHHGĐ, bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn quốc gia và thực hiện an toàn các dịch vụ KHHGĐ

- Tổ chức thực hiện tốt chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần đối với người chấp hành nghiêm mục tiêu quy mô gia đình ít con, người tích cực tham gia công tác dân số. Các chính sách khuyến khích hiện hành bao gồm chính sách khuyến khích cộng đồng, chính sách đối với người triệt sản, chính sách đối với người tuyên tuyền và người làm dịch vụ KHHGĐ.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện một số chính sách mới nhằm khuyến khích lợi ích kinh tế đối với tập thể, gia đình và cá nhân.

- Hỗ trợ và tạo điều kiện để mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện chính sách dân số trong cơ quan, đơn vị; để mọi cộng đồng đưa chính sách dân số vào trong hương ước, quy ước của cộng đồng.

- Bảo đảm cho các chính sách kinh tế – xã hội phải thống nhất hướng tới mục tiêu và dựa trên cơ sở của mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế.

1.4. Biện pháp cụ thể đối với mỗi nhóm

Đối với nhóm tỉnh có mức sinh thấp (nhóm1)

- Nâng cao chất lượng tư vấn trực tiếp, tư vấn gián tiếp trên các phương tiện thông tin đại chúng bao gồm cả các phương tiện hiện đại và tư vấn tại trung tâm, tư vấn tại cộng đồng.

- Chuyển đổi nhanh việc cung cấp sản phẩm truyền thông, phương tiện tránh thai và dịch vụ KHHGĐ từ miễn phí sang tiếp thị xã hội và thị trường tự do, đảm bảo sau năm 2020 thì kênh thị trường tự do chiếm thị phần chủ yếu.

- Mở rộng và nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc SKSS.

- Tập trung mở rộng các mô hình, giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng dân số để đảm bảo cho việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế.

Đối với nhóm tỉnh có mức sinh chưua ổn định (nhóm 2)

- Mở rộng hoạt động tư vấn trực tiếp, tư vấn gián tiếp và tư vấn cộng đồng.

- Tổ chức thực hiện chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ KHHGĐ đối với một số địa bàn có kết quả giảm sinh giảm sút.

- Mở rộng tiếp thị xã hội các sản phẩm truyền thông, phương tiện tránh thai và dịch vụ KHHGĐ để chuyển từ kênh miễn phí sang tiếp thị xã hội, đảm bảo sau năm 2020 thì kênh tiếp thị xã hội chiếm thị phần chủ yếu.

- Thử nghiệm, mở rộng một số mô hình, giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng dân số để đảm bảo cho việc chấp nhận và thực hiện quy mô gia đình ít con.

Đối với nhóm tỉnh có mức sinh cao (nhóm 3)

- Tập trung việc tuyên truyền vận động trực tiếp của các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, đặc biệt là tuyên truyền, vận động trực tiếp của đội ngũ cộng tác viên dân số.

- Cung cấp các sản phẩm truyền thông phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể.

- Tập trung tổ chức thực hiện chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ KHHGĐ ở đại đa số địa bàn các xã, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện KHHGĐ.

- Mở rộng việc cung cấp phương tiện tránh thai dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ KHHGĐ của hệ thống dịch vụ công, tăng cường đội dịch vụ lưu động để cung cấp dịch vụ KHHGĐ.

- Mở rộng tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai phi lâm sàng, thí điểm việc tiếp thị xã hội các sản phẩm truyền thông, phương tiện tránh thai lâm sàng và dịch vụ KHHGĐ.

2. Chú trọng nâng cao chất lượng dân số

2.1. Mục đích

Nâng cao toàn diện các thành tố của chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, chú trọng giảm tỷ lệ dân số bị thiểu năng về thể lực, trí tuệ, dị tật bẩm sinh và cải thiện chất lượng giống nòi.

2.2. Phương thức thực hiện

- Phân nhóm địa bàn có nguy cơ làm suy giảm chất lượng giống nòi

Căn cứ tính chất, mức độ tác động của các yếu tố làm suy giảm chất lượng giống nòi và khả năng can thiệp để phân nhóm các địa bàn theo các nhóm có nguy cơ cao. Các nguy cơ do di truyền, điều kiện sống, môi trường độc hại, do lối sống hoặc phong tục tập quán lạc hậu để lại.

- Lồng ghép với các chương trình kinh tế – xã hội

Chất lượng dân số có phạm vi rộng, toàn diện các yếu tố về thể chất, trí tuệ, tinh thần và do nhiều bộ, ngành, địa phương giải quyết theo từng lĩnh vực cụ thể. Vì vậy, cần xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số trong một chương trình tổng thể nâng cao chất lượng dân số để làm cơ sở và tiền đề cho việc lồng ghép với các chương trình kinh tế – xã hội.

2.3. Các biện pháp nâng cao chất lượng dân số

- Tuyên truyền, vận động, giáo dục trên các kênh truyền thông, chú trọng việc tuyên truyền tư vấn trực tiếp và cung cấp các tài liệu cụ thể đối với các nhóm đối tượng có nguy cơ cao làm suy giảm chất lượng giống nòi.

- Nghiên cứu, thử nghiệm và mở rộng một số mô hình can thiệp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội đối với với mỗi nhóm có nguy cơ cao. Hoàn thiện và mở rộng các mô hình đã và đang được thử nghiệm bao gồm: kiểm tra sức khoẻ tiền hôn nhân, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, chống lạm dụng bia thuốc lá thuốc lào, giảm phong tục kết hôn gần dòng máu, khắc phục tập quán sử  dụng các loại thực phẩm có ảnh hưởng, giảm thiểu tác hại của môi trường. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và thử nghiệm một số mô hình mới nhằm giảm thiểu các yếu tố gây ảnh hưởng, làm suy giảm chất lượng giống nòi.

- Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ nhằm mở rộng dịch vụ sàng lọc trước sinh, sau sinh và điều trị các bệnh khuyết tật về gen, bệnh hiểm nghèo. Các Viện đầu ngành như Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Bệnh viện Từ Dũ đã hoàn thiện quy trình kỹ thuật sàng lọc trước sinh và Bệnh viện Nhi Trung ương đã hoàn thiện quy trình kỹ thuật trong việc điều trị một số khuyết tật về gen, bệnh hiểm nghèo. Để mở rộng việc ứng dụng các kỹ thuật này cho các ngành địa phương thì phải hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ thông qua việc đào tạo, tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật.

- Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các chương trình kinh tế – xã hội trong việc nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Đặc biệt là chương trình bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, dinh dưỡng, tiêm chủng mở rộng, phòng chống dịch bệnh, giáo dục thể chất trong trường học, phát hiện và điều trị sớm một số bệnh, tật của trẻ em và các chương trình giáo dục, đào tạo nâng cao trình độ học vấn và trình độ dân trí, kỹ năng sống của người dân.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chính sách khuyến khích các cơ quan, đơn vị tích cực tham gia tổ chức thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số, chính sách hỗ trợ các đối tượng có điều kiện khó khăn trong việc thực hiện các can thiệp nhằm nâng cao chất lượng dân số.

3. Giải quyết các vấn đề của cơ cấu dân số

3.1. Mục đích

Chủ động kiểm soát và hạn chế mất cân bằng giới tính khi sinh; phát triển kinh tế – xã hội thích ứng với sự chuyển đổi nhân khẩu học để phát triển nhanh, bền vững và ổn định xã hội.

3.2. Phương thức thực hiện

- Thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội

Để thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về sự bình đẳng nam và nữ là một quá trình hết sức gay go, phức tạp bởi tâm lý, tập quán trọng nam hơn nữ còn rất nặng nề, bởi trong sinh hoạt thường ngày thì mỗi gia đình vẫn luôn đòi hỏi đến vai trò của nam giới.

- Kết hợp giữa chính sách, pháp luật và tuyên truyền giáo dục

Tuyên truyền, giáo dục là biện pháp cơ bản và chính sách, pháp luật là hành lang pháp lý để thực hiện các biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề của cơ cấu dân số. Sự kết hợp giữa chính sách, pháp luật và tuyên truyền giáo dục nhằm đẩy nhanh tiến trình nhận thức và chuyển đổi hành vi trong việc thực hiện bình đẳng giới, phát triển kinh tế – xã hội thích ứng với sự chuyển đổi nhân khẩu học để phát triển nhanh, bền vững và ổn định xã hội.

- Lồng ghép với các chương trình kinh tế – xã hội

Để giải quyết nguyên nhân sâu xa làm mất cân bằng giới tính khi sinh và phát triển kinh tế – xã hội thích ứng với sự chuyển đổi nhân khẩu học thì phải lồng ghép với các chương trình kinh tế – xã hội nhằm xây dựng nền tảng vật chất của xã hội đảm bảo cho bình đẳng giới và đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của người dân theo giới tính, nhóm tuổi. Trong đó vấn đề bình đẳng giới và các biến động dân số về giới tính, độ tuổi vừa là mục tiêu, vừa là yếu tố tác động đối với sự phát triển nhanh, bền vững.

3.3. Biện pháp hạn chế mất cân bằng giới tính khi sinh

- Tuyên truyền, vận động và giáo dục về bình đẳng giới và vị trí, vai trò của nữ giới trong sự phát triển bền vững đối với xã hội và gia đình.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn các hành vi tuyên truyền, phổ biến phương pháp sinh con theo ý muốn, phương pháp xác định giới tính thai nhi và phương pháp loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.

- Xử lý nghiêm các hành vi lựa chọn giới tính khi sinh

3.4. Phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với sự biến đổi cơ cấu dân số

- Sự chuyển đổi từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già đòi hỏi phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ phục vụ dân số trẻ (chăm sóc sức khoẻ trẻ em, vị thành niên, phát triển giáo dục mầm non, phổ thông, hàng hoá dịch vụ tiêu dùng của nhóm trẻ) sang phục vụ dân số già (chăm sóc sức khoẻ người già, chế độ an sinh tuổi già, hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng của nhóm người già). Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, chi phí phục vụ dân số già lớn hơn nhiều lần chi phí phục vụ dân số trẻ,

- Chuyển sang giai đoạn cơ cấu dân số vàng, với nguồn lao động dồi dào nhất trong lịch sử và số người bước vào tuổi lao động hàng năm lớn tới 1,4 triệu người trong giai đoạn 2010-2020 là lợi thế về nguồn nhân lực và là thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Vì vậy, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế phải đặt mục tiêu sử dụng lợi thế của nguồn lao động dồi dào để phát triển kinh tế thông qua các chương trình việc làm và đào tạo nghề nhằm tăng tỷ lệ việc làm, giải quyết tình trạng thất nghiệp ở thành thị, nâng số ngày công lao động có thu nhập ở nông thôn.

4. Chủ động quản lý dân số

4.1. Mục đích

Chủ động quản lý dân số và đáp ứng nhu cầu thông tin, kiến thức, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, nâng cao chất lượng dân số đối với người mới nhập cư, dân số lưu động ở nơi đến, góp phần hoạch định chính sách, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm cho người nhập cư được thực hiện quyền, nghĩa vụ bình đẳng như dân số thường trú.

4.2. Phương thức thực hiện

Cải tiến công tác quản lý dân số theo hướng hiện đại, thống nhất trong phạm vi toàn quốc, đáp ứng nhu cầu sử dụng của các Bộ, ngành và các cơ quan, tổ chức trong toàn xã hội và đảm bảo sự thuận tiện, văn minh đối với người dân trong xã hội phát triển và yêu cầu cải cách nền hành chính quốc gia.

4.3. Biện pháp

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác đăng ký dân số và xây dựng hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để dùng chung, đảm nhận vai trò nòng cốt trong trao đổi thông tin, dữ liệu với các hệ cơ sở dữ liệu khác, góp phần phục vụ hoạch định chính sách, lập kế hoạch phát triển, quản lý xã hội, quản lý hành chính nhà nước và nhu cầu của người dân trong xã hội phát triển.

- Đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ sinh sản, nâng cao chất lượng dân số đối với người mới nhập cư, dân số lưu động ở nơi đến thông qua việc cung cấp thông tin, kiến thức và dịch vụ phù hợp với đặc điểm, tính chất của người nhập cư. Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để giải quyết các khó khăn thực tế của dân số lưu động về định cư, việc làm, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, bảo hiểm và an sinh xã hội nhằm bảo đảm cho người nhập cư được thực hiện quyền, nghĩa vụ tại nơi cư trú.

- Bảo vệ và phát triển một số dân tộc thiểu số đang có nguy cơ suy giảm dân số và nâng cao chất lượng dân số của các dân tộc thiểu số.



* V trưởng V Kế hoch Tài chính, Tng cc Dân s – KHHGĐ, B Y tế.