PHÁT BIỂU CỦA TS. NGUYỄN BÁ THỦY, THỨ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
TẠI KỲ HỌP 64 CỦA ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC NĂM 2009
(12/10/2009)

Năm 1994, Việt Nam là một trong 179 quốc gia đã tham gia ký Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD POA) và khẳng định dân số và phát triển luôn liên kết mật thiết với nhau. Bằng việc phê chuẩn Chương trình hành động ICPD Cairo, chúng tôi nhận thức rằng trao quyền cho phụ nữ và đáp ứng nhu cầu của người dân về giáo dục và y tế, trong đó có sức khỏe sinh sản là cần thiết đối với cả sự tiến bộ của mỗi cá nhân và sự phát triển cân bằng chung. Mười lăm năm đã trôi qua, mặc dù Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu trong nỗ lực hướng tới mục tiêu đề ra nhưng vẫn còn những thách thức phía trước.
Nhân dịp kỷ niệm 15 năm Hội nghị ICPD, đoàn đại biểu của Việt Nam một lần nữa muốn khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ không chỉ đối với Chương trình hành động ICPD được thông qua tại Cairo năm 1994, mà còn đối với Phiên họp đặc biệt lần thứ 21 của Đại hội đồng LHQ (ICPD+5), với các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) được đưa ra năm 2000, các mục tiêu mở rộng của MDGs được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh của nguyên thủ quốc gia và các hiệp ước quan trọng khác như Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW).
Việt Nam coi dân số và sức khỏe sinh sản là cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội quốc gia và là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Trong những năm qua, Việt Nam đã thông qua nhiều luật, chính sách và hướng dẫn chỉ đạo về hai vấn đề quan trọng nêu trên. Hai chiến lược đã được xây dựng cho giai đoạn 2001-2010, đó là Chiến lược Dân số Việt Nam và Chiến lược Quốc gia về sức khỏe sinh sản. Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành xây dựng Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020. Các vấn đề lớn đang nổi lên trong lĩnh vực dân số - phát triển và sức khỏe sinh sản sẽ được xác định và đưa vào chiến lược chung này. Ngoài ra, năm 2005, Quốc hội cũng đã thông qua Luật Thanh niên và Kế hoạch hành động về sức khỏe sinh sản giai đoạn 2006-2010 của Đoàn thanh niên. Liên quan đến các chiến lược này có Chiến lược phòng chống HIV/AIDS đến năm 2010 và Tầm nhìn 2020 đã được xây dựng và đang được thực hiện nhằm đối phó tốt hơn với dịch bệnh HIV. Đến tháng 6 năm 2010, Việt Nam sẽ hoàn thành sửa đổi Chiến lược này.
Việt Nam cũng đã thể hiện cam kết của mình để tăng cường bình đẳng giới. Tháng 11 năm 2006. Quốc hội đã thông qua Luật Bình đẳng giới và tháng 11 năm 2007, Luật Phòng chống Bạo lực gia đình cũng đã được thông qua. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã thông qua Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2010. Mạng lưới các Ủy ban vì sự tiến bộ phụ nữ từ trung ương đến cơ sở được thành lập. Với cam kết mạnh mẽ và quyết tâm cao, Việt Nam đã đạt được những bước chuyển lớn về bình đẳng giới trong nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, lao động, việc làm, giáo dục - đào tạo và y tế.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng: Số con trung bình của mỗi phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ đã xuống dưới mức sinh thay thế và đạt 2,08 con. Điều này giúp giảm áp lực của gia tăng dân số đối với phát triển kinh tế-xã hội, cũng như đối với an sinh về chính trị và xã hội. Nó cũng góp phần để người dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em gái, tiếp cận một cách thuận tiện và hiệu quả hơn với chăm sóc y tế, giáo dục, việc làm và các dịch vụ xã hội khác.
Việt Nam được Liên hợp quốc công nhận là một trong những quốc gia đạt được nhiều tiến bộ trong việc thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), trong đó có Mục tiêu 5 (sức khỏe bà mẹ) – giảm tỷ lệ tử vong mẹ xuống 60/100.000 ca sinh sống vào năm 2010. Số ca đẻ được đỡ bởi cán bộ có kỹ năng tăng nhanh, đạt 94,8% vào năm 2007.
Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi (IMR), một chỉ báo phát triển quan trọng, đã giảm từ 16/1.000 ca sinh sống năm 2007 xuống 15/1.000 vào năm 2008. Tỷ lệ tử vong thấp trong những năm qua khẳng định sự tiến bộ trong nỗ lực đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ.
Chăm sóc trước sinh cũng đạt được cải thiện. Qua nhiều năm, tỷ lệ phụ nữ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, khám ít nhất 3 lần trong giai đoạn mang thai đạt 86,2% năm 2007 (HSB). Việt Nam cũng đã đạt kết quả nhất định trong giảm thiểu các biến chứng sản khoa, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và làm tăng việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại. Chất lượng chăm sóc sức khỏe sinh sản và các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình dần được cải thiện và nâng cao, bao gồm khám và điều trị các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục, nhiễm khuẩn đường sinh sản và công tác phòng chống HIV.
Hơn nữa, Việt Nam đang đạt được tiến bộ trong việc đảm bảo bình đẳng giới và nâng cao quyền năng cho phụ nữ. Số bé gái đi học tiểu học đã tăng lên đến 103% trên tổng số trẻ em ở tuổi đi học, trong khi vào năm 1995 con số này chỉ là 78,98%. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là nữ chiếm 27,3% (Báo cáo tổng quan 2002-2007). So với các nước khác trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, Việt Nam có tỷ lệ đại biểu Quốc hội là nữ cao nhất.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu như vậy, nhưng Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Tỷ lệ tử vong mẹ còn chênh lệch nhiều giữa các vùng miền, tỷ lệ này cao hơn ở các vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các vùng về mức sinh. Dịch vụ kế hoạch hóa gia đình vẫn chưa đáp ứng đủ so với nhu cầu, đặc biệt là cho thanh thiếu niên, đối tượng còn bị hạn chế trong tiếp cận thông tin về sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục, giáo dục kỹ năng sống và các dịch vụ thân thiện với thanh niên. Các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục có tỷ lệ cao và bệnh dịch HIV vẫn tiếp tục lan rộng trên cả nước. Phụ nữ càng dễ bị mắc HIV từ các bạn tình và có nguy cơ lây truyền từ chồng sang vợ. Do vậy, nhu cầu cấp bách là cần hỗ trợ để đảm bảo tiếp cận rộng rãi các thông tin, hàng hóa và dịch vụ sức khỏe sinh sản thông qua tăng cường hệ thống y tế và giải quyết các bất bình đẳng, chú ý nhiều hơn đến các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là dân tộc thiểu số, dân di cư và những người trẻ tuổi.
Mặc dù Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc thúc đẩy bình đẳng giới trong những năm qua, nhưng vẫn còn nhiều phụ nữ vẫn phải gánh chịu bạo lực gia đình. Số liệu về bạo lực gia đình, cưỡng hiếp, hành hung và quấy rối tình dục không đầy đủ. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy một phần năm số cặp vợ chồng có vấn đề bạo lực gia đình. Điều này là không thể chấp nhận vì chúng tôi cam kết không khoan dung với bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái. Những nỗ lực lớn hơn để tăng cường việc thực hiện Luật Bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình và để phát triển năng lực quốc gia sẽ góp phần đạt được mục đích của chúng tôi.
Nói về dân số, do sự giảm tỷ lệ tử vong và gia tăng tuổi thọ, dân số của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới, mặc dù tổng tỷ suất sinh đã thấp hơn mức sinh thay thế và tỷ lệ sinh đang giảm dần. Trong thực tế, Việt Nam đang bước vào giai đoạn  “cơ cấu dân số vàng” (dư lợi nhân khẩu học). Trong mười năm tới, 2010-2020, số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm sẽ tăng khoảng hơn 1 triệu. Điều này có nghĩa là sẽ có cơ hội đặc biệt nhờ lực lượng lao động lớn tham gia sản xuất góp phần vào sự phát triển kinh tế và tạo thêm cơ hội việc làm cho thanh niên tham gia vào thị trường việc làm. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra những thách thức về tạo việc làm, giáo dục và an sinh xã hội.
Trong khi chuẩn bị cho việc tận dụng “cơ cấu dân số vàng”, cũng cần có kế hoạch đối với vấn đề già hóa dân số. Ở Việt Nam, tỷ lệ người già (từ 60 trở lên) tăng nhanh và sẽ tăng lên 10% trên tổng số dân số từ năm 2010. Về mặt an sinh xã hội đây là một thách thức phải đối mặt.
Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) tăng nhanh bất thường tại Việt Nam trong vài năm qua cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ. Trong khi vào năm 2000, tỷ số giới tính khi sinh ở mức bình thường và ước tính khoảng 106,2/100 (nam/nữ) thì năm 2008 đã tăng lên 112,1/100. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc tiếp tục giám sát thực hiện Pháp lệnh Dân số và Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm tất cả mọi hình thức xác định và lựa chọn giới tính thai nhi. Hơn nữa, cần tiếp tục thực hiện các nỗ lực để tăng cường giáo dục người dân về quyền con người và để thúc đẩy bình đẳng giới nhằm đề cao vai trò quan trọng của phụ nữ cả trong gia đình và xã hội.
Di cư là một thách thức mới đang nổi lên, Việt Nam cũng đã có những đợt di cư trong nước ở vào các giai đoạn lịch sử khác nhau, kể cả trong những thập kỷ gần đây. Rõ ràng nguyên nhân chính của làn sóng di cư gần đây là sự phát triển nhanh chóng về kinh tế của đất nước trong vòng 20 năm qua. Người dân di cư để tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn và họ thường bị hút về các thành phố đang phát triển và các khu công nghiệp. Nhìn chung, di cư nông thôn-thành thị góp phần đáng kể vào quá trình đô thị hóa, do vậy làm gia tăng áp lực đối với cơ sở hạ tầng đô thị hiện có và các dịch vụ xã hội, như nhà ở, giáo dục, y tế, điện, nước và vệ sinh môi trường và giao thông vận tải.
Sự thay đổi khí hậu cũng là một trong những mối đe dọa lớn đối với Việt Nam. Theo Báo cáo năm 2007 của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam sẽ là một trong những nước ở Đông Nam Á bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu do khả năng nước biển dâng cao. Biến đổi khí hậu có thể làm những người dễ bị tổn thương hiện nay sống vất vả hơn vì những người dễ bị tổn thương nhất sẽ khó khăn hơn nhiều trong việc thích nghi với những tác động gây ra bởi biến đổi khí hậu. Phụ nữ chính là những người bị ảnh hưởng nhiều bởi các tác động đó vì vai trò xã hội của họ đảm nhận và vì sự phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Phụ nữ phải đi lấy nước, chăn nuôi trồng trọt lấy thực phẩm ăn và tìm kiếm nhiên liệu đun nấu. Mà những tài nguyên thiên nhiên đang bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu và các thảm họa mà nó gây ra. Mặc dù Việt Nam đã đối phó có hiệu quả với thảm họa thiên nhiên thường xuyên xảy ra, nhưng vẫn cần tiếp tục các nỗ lực để chuẩn bị đối phó tốt hơn và cần chú trọng đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục trong khi giải quyết các tình huống khủng hoảng như vậy.
Chúng tôi xin kêu gọi Đại hội đồng LHQ chú trọng đến sự cần thiết phải thực hiện các nỗ lực phối hợp và hợp tác để vượt qua những thách thức này. Điều này đặc biệt cần thiết trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Suy thoái tài chính đã ảnh hưởng đến những tiến bộ hướng tới việc cải thiện sức khỏe của người dân, đặc biệt là của phụ nữ, trẻ em và làm ảnh hưởng đến nỗ lực giảm nghèo. Phụ nữ và trẻ em gái chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Do vậy, để bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe của họ thì cần tăng cường đầu tư xã hội một cách cấp bách, đặc biệt là đầu tư cho sức khỏe sinh sản. Trong việc này, Việt Nam không thể thực hiện một cách đơn độc.
Việt Nam dự kiến sẽ trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình vào năm 2010. Một số các nhà tài trợ có thể ngừng hoặc giảm đáng kể hỗ trợ của họ cho Việt Nam. Có một thực tế là một số nhà tài trợ đang dần giảm hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Theo ngân hàng Thế giới, các nhà tài trợ này dự kiến sẽ hoàn toàn ngừng hỗ trợ của họ cho Việt Nam vào năm 2012. Điều này có nghĩa là cần xác định ưu tiên mang tính chiến lược đối với các nguồn đầu tư trong nước để duy trì tiến độ phát triển. Với tinh thần này, Liên hợp quốc (UN) tại Việt Nam đã khởi xướng xây dựng Kế hoạch một Liên hợp quốc (2012-2016) nhằm xác định các lĩnh vực quan trọng mang tính chiến lược để qua đó hỗ trợ cho Chính phủ và nhân dân Việt Nam.
Chúng tôi mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế để Việt Nam có thể bảo vệ được các thành tựu đã đạt được. Chúng tôi vẫn tiếp tục ưu tiên thực hiện các nỗ lực để đạt được các mục tiêu của Chương trình hành động ICPD và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào năm 2015. Chúng ta cần phối hợp mọi lực lượng để đảm bảo con người luôn là trọng tâm của quá trình phát triển, để đảm bảo sự tiếp cận phổ cập với chăm sóc sức khỏe sinh sản, để tiếp tục nâng cao quyền năng cho phụ nữ và để tăng cường bình đẳng giới.