KẾT QUẢ VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ TRONG VIỆC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH, CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
                                                                                                                ĐÀO THẾ TOÀN[*]

I. Chỉ đạo triển khai thực hiện
            Các Bộ, ngành đã tiến hành rà soát ban hành bổ sung các chế độ, chính sách nhằm chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi; ban hành văn bản hướng dẫn chỉ đạo, đôn đốc các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, tổ chức triển khai thực hiện chương trình.
 2. Tổ chức thực hiện của các địa phương
Căn cứ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo của các Bộ, ngành Trung ương, hầu hết các tỉnh, thành phố đã triển khai thực hiện các hoạt động của chương trình; quá trình triển khai thực hiện đã có sự tham gia phối hợp của các Sở, ban ngành, Mặt trận tổ quốc tỉnh, Ban công tác người cao tuổi và các tổ chức chính trị xã hội. Các mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình nói riêng và công tác chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi nói chung đã được các địa phương đưa vào Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân các cấp. Nhiều tỉnh đã cụ thể bằng kế hoạch và ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo cơ sở thực hiện Chương trình, có kế hoạch và văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình, bố trí kinh phí, phân công trách nhiệm thực hiện cho các ngành, tổ chức giám sát, đánh giá, tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện (theo danh sách các tỉnh có báo cáo).
II. Kết quả thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu
1. Phát huy vai trò người cao tuổi
+ Hầu hết người cao tuổi đã tham gia xây dựng hương ước, cụm dân cư văn hoá, phòng chống các tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, hoà giải tranh chấp, mâu thuẫn tại cộng đồng dân cư, khôi phục truyền thống văn hoá, truyền thụ kiến thức văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ...
+ Góp phần xây dựng chính sách, chương trình, công tác xã hội: Nhiều người cao tuổi đã nghỉ hưu, nhưng còn sức khoẻ đã tham gia tổ chức Đảng, đoàn thể, chính quyền ở cấp xã, tổ thôn xóm. Năm 2007, có khoảng 60,25% người cao tuổi tham gia các hoạt động phát triển cộng đồng; 3,68% tham gia công tác ở cấp thôn, tổ dân phố (chủ yếu ở tuổi 60-70 tuổi); 4,14% tham gia tổ hoà giải; 2,43% tham gia tổ an ninh nhân dân; gần 80% tham gia Hội người cao tuổi và các tổ chức đoàn thể; 4,79% là thành viên các câu lạc bộ; 30% người cao tuổi được xin ý kiến về các chương trình, chính sách và dự án ở cơ sở[2].
+ Đóng góp xây dựng văn hoá xã hội: Người cao tuổi luôn được coi là trụ cột tinh thần, đạo đức của gia đình dòng họ. Có vai trò quan trọng trong việc giáo dục con cháu xây dựng gia đình văn hoá, dòng họ văn hoá, thực hiện phong trào “ông bà cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền”. Có trên 60% người cao tuổi tham gia vào các phong trào xây dựng gia đình văn hoá, khu dân cư văn minh, tỷ lệ hộ có người cao tuổi đạt danh hiệu gia đình văn hoá cao hơn tỷ lệ chung.
+ Phát huy làm kinh tế góp phần giảm nghèo: Một bộ phận không nhỏ người cao tuổi tham gia sản xuất, kinh doanh vừa để tạo thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống, vừa làm gương để thế hệ trẻ noi theo. Theo số liệu khảo sát năm 2007 có 28,85% số người cao tuổi vẫn trực tiếp làm việc. Trong đó có nhiều người làm chủ hộ, chủ trang trại, chủ doanh nghiệp cơ sở sản xuất kinh doanh làm ăn hiệu quả, thu nhập cao. Nhiều mô hình điển hình về người cao tuổi làm kinh tế giỏi đã được nhân rộng như mô hình người cao tuổi làm kinh tế trang trại, trồng rừng, nuôi trồng thuỷ sản, các ngành nghề truyền thống, chế biến hải sản và nông sản. Thành công của người cao tuổi trong lĩnh vực kinh tế đã góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, chương trình giải quyết việc làm; chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng núi; chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và các chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn.
+ Đóng góp trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo: Người cao tuổi luôn ý thức vươn lên tự học tập, bồi dưỡng kiến thức để tiếp tục phát huy tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm cho đất nước. Nhiều cán bộ khoa học, giáo viên, y bác sỹ... sau khi nghỉ hưu và nhiều người cao tuổi sống ở nông thôn có kinh nghiệm, kiến thức đã tích cực tham gia công tác giáo dục, đào tạo, đẩy mạnh khuyến học khuyến tài, góp phần xây dựng một xã hội học tập ở cơ sở; tình nguyện tham gia xây dựng tài liệu, giảng dạy ở các trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn; hăng hái xây dựng gia đình hiếu học, vận động đóng góp cho quỹ khuyến học. Đã có khoảng 55-60% người cao tuổi tham gia phong trào khuyến học ở địa phương, phần lớn Chủ tịch hội khuyến học cơ sở là người cao tuổi. Cũng để thực hiện xã hội hoá giáo dục, hàng vạn người cao tuổi đã góp tiền, công sức mở các trường dân lập bán công, trường tư thục từ cấp học mầm non đến đại học.
+ Các cấp chính quyền và đoàn thể cũng đã tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi phát huy vai trò trong đời sống chính trị, kinh tế xã hội ở cơ sở. Các hoạt động hỗ trợ được thực hiện thông qua các phong trào thi đua, xây dựng hàng chục ngàn câu lạc bộ, thu hút hàng triệu người cao tuổi tham gia tập luyện thể thao, sinh hoạt văn hoá văn nghệ, nghiên cứu khoa học, trao đổi kinh nghiệm, tình hình thời sự, chính trị đã tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục đóng góp kiến thức, kinh nghiệm cho xã hội, điển hình như câu lạc bộ hưu trí, câu lạc bộ sức khoẻ.
+ Các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức hội cũng đã đẩy mạnh các giải pháp phát huy vai trò người cao tuổi như: Ủy ban dân tộc đang xây dựng đề án động viên phát huy vai trò người cao tuổi tiêu biểu, có uy tín trong các dân tộc thiểu số đã và đang triển khai thực hiện. Hội khuyến học vận động người cao tuổi tham gia Hội và các hoạt động giáo dục cộng đồng. Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tổ chức cuộc vận động toàn xã hội chăm sóc và phát huy người cao tuổi… các hoạt động này đã góp phần thực hiện tốt công tác phát huy vai trò người cao tuổi và các chỉ tiêu của chương trình hành động.
2. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu
a. Chỉ tiêu 1: 95% người cao tuổi được cải thiện đời sống cả về vật chất và tinh thần
Kết quả đạt được: Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta đã phát huy vai trò hỗ trợ nâng cao đời sống cho người cao tuổi, có gần 3,1 triệu người (40% người cao tuổi) được hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội:
- 1,4 triệu người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội;
- 1,1 triệu người hưởng chính sách ưu đãi xã hội;
- Gần 600 nghìn người thuộc diện chính sách trợ cấp xã hội theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP.
Bên cạnh đó các chương trình giảm nghèo, việc làm, nước sạch vệ sinh môi trường, phát triển nông nghiệp nông thôn cũng đã góp phần cải thiện đời sống của hàng triệu hộ gia đình có người cao tuổi.
Kết quả khảo sát về người cao tuổi năm 2007 cho thấy 57% hộ gia đình có người cao tuổi có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng, 82% ở nhà bán kiên cố và kiên cố; 94,27% sử dụng điện sinh hoạt; 63% sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh[3].
Tuy nhiên từ cuối năm 2007 đến nay, do chỉ số giá tăng cao, đã tác động trực tiếp đến đời sống của nhân dân, trong đó có người cao tuổi, nhất là đối với người có thu nhập thấp.
 b. Chỉ tiêu 2: 100% người cao tuổi khi ốm đau được khám, chữa bệnh và được hưởng chăm sóc của gia đình, cộng đồng; nếu người cao tuổi thuộc diện người nghèo thì được khám, chữa bệnh miễn phí
Kết quả đạt được: Theo kết quả khảo sát về người cao tuổi năm 2007, đã có 93,88% người cao tuổi được khám, chữa bệnh và được hưởng chăm sóc của gia đình; nếu người cao tuổi thuộc diện nghèo khi ốm đau có nhu cầu khám chữa bệnh đều được khám, chữa bệnh miễn phí.
             Theo chính sách hiện hành, phần lớn người cao tuổi đều có bảo hiểm y tế, hoặc được hưởng các chính sách khám, chữa bệnh miễn phí, (vì thuộc đối tượng người về hưu, người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội, người có công với cách mạng, người hưởng trợ cấp trợ xã hội, người nghèo, người cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn); Nhà nước cũng mở rộng bảo hiểm y tế tự nguyện, đây là cơ hội cho người cao tuổi tiếp cận. Chất lượng và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe từng bước được nâng lên, số người cao tuổi đi khám bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế tăng, theo thống kê của 32 Sở Y tế và 10 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế từ năm 2002 đến 2006 đã có trên 7,4 triệu lượt người cao tuổi đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế. Trong đó: 52% có thẻ bảo hiểm y tế, 13,7% thuộc diện chính sách người có công, người nghèo và 7,8% không có thẻ BHYT nhưng khi đến khám chữa bệnh được các cơ sở y tế miễn giảm phí trực tiếp, với tổng kinh phí 32 tỷ đồng[4].
            Các bệnh viện đã tổ chức nhiều hoạt động khám, chữa bệnh cho người cao tuổi với sự tham gia của hàng nghìn y, bác sỹ và đã chăm sóc sức khỏe tại nhà cho chục nghìn lượt người cao tuổi. Mô hình câu lạc bộ dưỡng sinh, sức khỏe ngoài trời ở cộng đồng phát triển ở nhiều địa phương, đã thu hút đông đảo người cao tuổi tham gia luyện tập giữ gìn sức khoẻ.
            Kết quả khảo sát năm 2007 cho thấy 5,23% người cao tuổi tự đánh giá là sức khoẻ tốt và 52,71% sức khoẻ bình thường;
            c. Chỉ tiêu 3: 100% người cao tuổi cô đơn, không có nguồn thu nhập được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và được khám, chữa bệnh miễn phí.
            Kết quả đạt được: Theo báo cáo của các địa phương đến nay hầu hết người cao tuổi cô đơn không có nguồn thu nhập đã được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và khi ốm đau, có nhu cầu khám chữa bệnh đều được khám chữa bệnh miễn phí (khoảng 130 nghìn người vào cuối năm 2007).
Nghị định 168/2004/NĐ-CP đã quy định người cao tuổi cô đơn, không có nguồn thu nhập được trợ cấp xã hội với mức là 65.000 đồng/tháng và từ ngày 1 tháng 1 năm 2007, thực hiện theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP, với mức trợ cấp nâng lên 120.000đồng/tháng. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 09/2007/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Nghị định 67/2007/NĐ-CP, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn các tỉnh, thành phố tiến hành rà soát bổ sung hàng năm. Tuy nhiên, mức trợ cấp xã hội hiện nay còn thấp so với nhu cầu cuộc sống của người cao tuổi cô đơn.
d. Chỉ tiêu 4: 100% người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên không có lương hưu và các khoản cấp xã hội khác được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng và được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế.
Kết quả đạt được: Theo báo cáo của các địa phương đến cuối năm 2006, hầu hết người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên không có lương hưu và các khoản trợ cấp xã hội khác đã được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định tại Nghị định 168/2004/NĐ-CP và cấp thẻ bảo hiểm y tế. Nghị định 67/2007/NĐ-CP quy định người từ 85 tuổi không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội thuộc diện hưởng trợ cấp. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo các địa phương rà soát bổ sung đối tượng (ước tính có gần 500 ngàn người cao tuổi từ 85 trở lên được hưởng trợ cấp xã hội). Bộ Tài chính đã chỉ đạo các địa phương lập kế hoạch kinh phí và cấp bổ sung cho các địa phương vào năm 2007.
Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chính sách trợ cấp xã hội ở một số địa phương còn chậm do thiếu nguồn lực, thiếu cán bộ ở cấp cơ sở và chưa thống nhất về thời gian để tính hưởng trợ cấp theo quy định tại Nghị định 67/2007/NĐ-CP. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang nghiên cứu bổ sung hướng dẫn về thời điểm tính hưởng trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi. 
      e. Chỉ tiêu 5: 100% người cao tuổi không phải sống trong nhà tạm
Kết quả đạt được: Theo kết quả khảo sát về người cao tuổi năm 2007, còn khoảng 18% người cao tuổi sống trong nhà tạm.
Chương trình hỗ trợ nhà ở cho người cao tuổi được lồng ghép với chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và chương trình đền ơn đáp nghĩa. Trong những năm qua đã có 34,5% số hộ có người cao tuổi xây mới hoặc sửa chữa nhà ở. Trong đó khoảng 32,6% do nhà nước và các tổ chức hỗ trợ; số còn lại do tích luỹ của hộ, hoặc giúp đỡ của cộng đồng dân cư[5].
Tuy còn 18% người cao tuổi đang ở nhà tạm, nhưng nếu không có sự chỉ đạo quyết liệt, tập trung nguồn lực thì khó có thể đạt được chỉ tiêu này vào năm 2010.  
            f. Chỉ tiêu 6: 80% số xã, phường thị trấn trong toàn quốc có Quỹ chăm sóc người cao tuổi và hoạt động có hiệu quả.
            Theo báo cáo của các địa phương, đến thời điểm hiện nay chỉ tiêu này chưa đánh giá được vì chưa có số liệu báo cáo về số xã có Quỹ chăm sóc người cao tuổi, mới chỉ nắm được số tỉnh, thành phố có chỉ đạo xây dựng Quỹ chăm sóc người cao tuổi ở cấp xã.
Quỹ được huy động từ nhiều nguồn, đóng góp tự nguyện của người cao tuổi, ủng hộ của các tổ chức, gia đình và cá nhân trong và ngoài nước.
            3. Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu
            Mặc dù nguồn lực bố trí trực tiếp cho chương trình hành động còn hạn chế, nhưng với sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương và triển khai thực hiện của địa phương trong việc lồng ghép với các chính sách, chương trình dự án khác, đến nay đã có 4 trong 6 chỉ tiêu cơ bản đạt được, 2 chỉ tiêu còn khó khăn đó là: chỉ tiêu 5 (100% người cao tuổi không phải sống trong nhà tạm) và chỉ tiêu 6 (80% số xã, phường, thị trấn trong toàn quốc có quỹ chăm sóc người cao tuổi và hoạt động tốt). Vai trò của người cao tuổi tiếp tục được phát huy, đề cao trong đời sống chính trị kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, chất lượng và tính bền vững về kết quả của các chỉ tiêu đã đạt được cũng cần phải được quan tâm cải thiện trong các năm tới.
            Thực hiện tốt chính sách trợ cấp xã hội đối với người cao tuổi cô đơn, người từ 85 tuổi không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội
            - Đảm bảo 100% người cao tuổi cô đơn, người từ 85 tuổi không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội được hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP.
a. Trợ cấp xã hội
            Đến tháng 12/2008, cả nước có khoảng 700.630 người cao tuổi thuộc diện hưởng trợ cấp theo Nghị định 67, trong đó đã có 643.930 người được hưởng trợ cấp hàng tháng, chiếm 91,9%. Cụ thể là:
  • Tại cộng đồng:
            - Người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (cô đơn không nơi nương tựa, tàn tật nặng, bị nhiễm HIV/AIDS) có 121.736 người thuộc diện đã được hưởng trợ cấp là 110.911 người, chiếm 91,1%
- Người từ 85 tuổi trở lên có 578.895 người thuộc diện, đã được hưởng trợ cấp 533.020 người, chiếm 92,1%.
- Có 18 tỉnh, thành phố (Tp.Hồ Chí Minh, Hà Nội (cũ), Bình Dương, Bình Thuận, Đà Nẵng, Đồng Nai, Hải Phòng, Hưng Yên, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Bình, Thái Nguyên, Thừa Thiên - Huế, Tiền Giang, Vĩnh Phúc, Lâm Đồng) đã trợ cấp cho 100% đối tượng thuộc diện.
·               Tại cơ sở bảo trợ xã hội: Có 4.206 người đang được nuôi dưỡng và chăm sóc. Mức trợ cấp 240.000 đồng/người/tháng; đối với người tâm thần, bị nhiễm HIV/AIDS là 300.000 đồng/người/tháng (bằng mức quy định tại Nghị định 67). Có nhiều tỉnh đã nâng mức cao hơn quy định tại Nghị định 67 như Hải Dương, Hà Nội, Bình Dương…
            Tất cả những người đang hưởng trợ cấp xã hội tại cộng đồng, được chăm sóc tại các cơ sở bảo trợ xã hội khi chết đều được hỗ trợ tiền mai táng phí là 2 triệu đồng/người; Riêng tỉnh Gia Lai là 3 triệu đồng/người.
            b. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ
- Đẩy mạnh thực hiện các chính sách hỗ trợ về y tế, đảm bảo người cao tuổi thuộc diện chính sách được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí.
- Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bằng thẻ bảo hiểm y tế nói chung và đối với người cao tuổi nói riêng; nghiên cứu bổ sung chính sách hỗ trợ y tế đối với người cao tuổi từ 85 tuổi chưa thuộc diện cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; phát triển hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh miễn phí cho người cao tuổi khó khăn.
- Mở rộng tư vấn, hướng dẫn kiến thức tự chăm sóc bản thân, nâng cao sức khoẻ đối với người cao tuổi và gia đình.
- Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống y tế, xây dựng các Khoa lão ở bệnh viện đa khoa cấp tỉnh.
            - Nâng cao chất lượng các chương trình phòng ngừa, phát hiện và điều trị sớm các bệnh của người cao tuổi; nghiên cứu các bệnh liên quan đến tuổi già; đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho cán bộ, cộng tác viên, tình nguyện viên làm công tác tư vấn, chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng.
c. Đẩy nhanh tiến độ hỗ trợ nhà ở cho người cao tuổi
            Đảm bảo đến năm 2010 không còn người cao tuổi phải sống trong nhà tạm. Chính phủ, các Bộ, ngành và cơ quan trung ương thống nhất chỉ đạo các địa phương ưu tiên nguồn lực, đẩy mạnh lồng ghép với các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ về nhà ở đang thực hiện. Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Uỷ ban dân tộc, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Xây dựng nghiên cứu đề xuất giải pháp, cơ chế ưu tiên hỗ trợ đối với những hộ nghèo có người cao tuổi đang ở nhà tạm.
        d. Tăng cường chỉ đạo thành lập Quỹ chăm sóc người cao tuổi ở cấp xã
            Phấn đấu năm 2010 tất cả các xã, phường, thị trấn trong cả nước có Quỹ chăm sóc người cao tuổi và hoạt động hiệu quả trong việc hỗ trợ hoạt động của người cao tuổi ở cơ sở, ở cộng đồng (văn hoá, văn nghệ thể thao, thăm hỏi...). Bộ Tài chính hướng dẫn và chỉ đạo địa phương thành lập quỹ, xây dựng cơ chế quản lý và sử dụng quỹ thuận lợi có hiệu quả.
e. Thực hiện tốt các hoạt động, các chương trình chuẩn bị cho tuổi già
            Đẩy mạnh vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế; chi tiêu tiết kiệm ngay từ khi còn trẻ để có nguồn tích luỹ khi ốm đau và cho tuổi già; tự nguyện đóng góp vào quỹ từ thiện, nhân đạo quỹ chăm sóc người cao tuổi.
            Các thành viên trong gia đình có người cao tuổi cần chủ động tìm hiểu về tâm lý, nguyện vọng của người cao tuổi; học hỏi phương pháp, kỹ năng chăm sóc sức khoẻ, tinh thần đối với người cao tuổi.
Khuyến khích mọi thành viên xã hội tiếp cận với hệ thống an sinh xã hội; hoàn thiện cơ chế chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh; xây dựng chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội phù hợp để có tích luỹ cho tuổi già.
            Thực hiện các hoạt động trợ giúp pháp lý cho người cao tuổi.
f. Nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho người cao tuổi
            - Thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới đối với người cao tuổi thông qua nâng cao nhận thức của toàn xã hội, gắn vấn đề này vào các chương trình phát triển kinh kế - xã hội. Khuyến khích, hỗ trợ người cao tuổi phát huy vai trò của mình trong đời sống gia đình và cộng đồng.
- Xây dựng nếp sống văn hoá phù hợp đối với người cao tuổi ở nơi công cộng, khuyến khích, duy trì mối quan hệ gia đình, dòng họ, cộng đồng trong việc chăm sóc người cao tuổi.
- Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi giải trí phù hợp với người cao tuổi, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các câu lạc bộ văn hoá, thể thao của người cao tuổi ở cơ sở.
III. Một số hạn chế trong việc thực hiện chính sách:
            + Sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành, cơ quan Trung ương chưa được chặt chẽ, thường xuyên trong việc triển khai thực hiện Chương trình, cũng như tổng hợp báo cáo đánh giá kết quả. 
     + Một số Bộ, ngành chưa bố trí kinh phí thực hiện Chương trình, hoặc bố trí quá ít không đủ cho các hoạt động tuyên truyền, kiểm tra, đánh giá. Vì vậy, hầu hết các hoạt động phải lồng ghép với các chương trình dự án khác, hoặc phải sử dụng kinh phí thường xuyên của các đơn vị, nên hạn chế kết quả hoạt động.

            Chỉ đạo thực hiện ở một số địa phương còn chậm hoặc thực hiện chưa đầy đủ, chưa tương xứng với điều kiện, tiềm lực của địa phương; chưa thống nhất phân công trách nhiệm, có tỉnh giao Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thường trực Chương trình, có tỉnh giao Ban đại diện Hội người cao tuổi là thường trực Chương trình; một số địa phương khác chưa có văn bản chỉ đạo, chưa có kế hoạch và bố trí kinh phí để thực hiện chương trình hành động; việc phối kết hợp giữa các ngành, các cấp cũng chưa được tốt; có tỉnh đến nay vẫn chưa có báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội và Uỷ ban quốc gia về Người cao tuổi.



[*] Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ LĐTBXH
[2] Kết quả khảo sát năm 2007
[3] Nguồn: Khảo sát về người cao tuổi năm 2007
[4] Nguồn : Báo cáo của Bộ Y tế
[5] Nguồn: Khảo sát về người cao tuổi năm 2007, Văn phòng UBQGNCT