BIẾN ĐỘNG TỶ SỐ GIỚI TÍNH VIỆT NAM HIỆN NAY

HÀ VIỆT HÙNG*                                                                                          


Giới thiệu

Mất cân bằng giới tính trong dân số là một vấn đề xã hội lớn đối với các nhà quản lý xã hội. Hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt nam đã được các nhà nghiên cứu khoa học và dư luận xã hội đặc biệt quan tâm trong hơn 10 năm trở lại đây. Hiện tượng này biểu hiện chưa thật rõ rệt trên phạm vi toàn quốc qua số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999. Tỷ số giới tính của nhóm dân số 0-4 tuổi năm 1999 là 105,5.Tuy nhiên, với những số liệu mới nhất từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta đã trở thành một vấn đề xã hội thực sự lớn. Tỷ số giới tính của nhóm dân số 0-4 tuổi hiện nay là 111,5.  Vấn đề này có thể tác động tiêu cực tới biến động tỷ số giới tính của dân số nước ta trong một tương lai không xa. Nguyên nhân của hiện tượng mất cân bằng giới tính và tác động xã hội của nó sẽ được phân tích trong bài này.

Biến động tỷ số giới tính của dân số Việt Nam giai đoạn 1960-2010

Hình 1 trình bày các số liệu về biến động tỷ số giới tính của dân số nước ta giai đoạn từ năm 1960 đến năm 2009. Ở thời điểm năm 1960, tỷ số giới tính của dân số là 96. Điều này có thể được giải thích là mức chết của nam giới cao hơn khá nhiều so với nữ giới trong cuộc chiến tranh kháng chiến chống Pháp 9 năm trước đó. Tỷ số giới tính của nước ta tiếp tục giảm đi trong giai đoạn 20 năm tiếp theo sau đó. Cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt là nguyên nhân của xu hướng giảm tỷ trọng nam giới trong dân số ở giai đoạn lịch sử này. Năm 1979 là thời điểm có tỷ số giới tính của dân số thấp nhất trong thời kỳ 50 năm từ 1960 đến nay. Ngoài nguyên nhân là mức chết cao của nam giới trong chiến tranh, việc di dân bất hợp pháp ra nước ngoài với đa số là nam giới ở các tỉnh phía Nam trong giai đoạn sau 1975 cũng là một nguyên nhân quan trọng. Giai đoạn 20 năm tiếp theo từ năm 1979 đến năm 1999, tỷ số giới tính có mức tăng dần trở lại từ 94,2 năm 1979, lên 96,4 năm 1999. Phân tích số liệu theo nhóm tuổi, thì sự mất cân bằng giới tính chủ yếu được quan sát thấy ở các nhóm dân số có độ tuổi từ 40 trở lên. Giai đoạn 10 năm trở lại đây với việc số trẻ em nam sinh ra cao hơn nhiều so với trẻ em nữ đã góp phần đưa tỷ số giới tính chung của dân số từ 96,4 năm 1999, lên 98,1 năm 2009. Từ cuối những năm 1990, tỷ trọng giới tính của các nhóm dân số trong độ tuổi hôn nhân đã được cân bằng trở lại.


Hình 1. Tỷ số giới tính của dân số Việt Nam 1960-2009

*Viện Xã hội học, Học viện CT - HC QG Hồ Chí Minh

Tổng cục Thống kê 2001. Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999: Một số kết quả chủ yếu

Tổng cục Thống kê 2010. Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009: Những kết quả chủ yếu

Nguồn: Tổng cục Thống kê 2010


Qua các số liệu của Bảng 1, quá trình mất cân bằng giới tính khi sinh ở nước ta bắt đầu diễn ra khoảng giữa những năm 1990. Trong khoảng 10 năm, từ 1995 đến 2004, sự mất cân bằng giới tính khi sinh dao động ở mức 108-109 trẻ em nam/100 trẻ em nữ. Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) theo qui luật tự nhiên thường giao động ở mức 105. Do mức chết của trẻ em nam thường cao hơn trẻ em nữ nên đến độ tuổi trưởng thành, tỷ số giới tính của các nhóm dân số trong độ tuổi hôn nhân trở nên cân bằng. Khi TSGTKS ở mức từ 106 trở lên và kéo dài liên tục trong nhiều năm, tình trạng mất cân bằng giới tính trong dân số ở độ tuổi hôn nhân sẽ xảy ra sau đó 15-20 năm. Từ năm 2008 Tổng cục Dân số đã cảnh báo về vấn đề này. Khi đó, TSGTKS trung bình trong cả nước ước tính lên tới 112 và đang tiếp tục gia tăng. Nếu xu hướng này không thay đổi, đến năm 2025, nước ta sẽ có khoảng 2 triệu nam giới không thể lấy được vợ. Tình trạng hôn nhân của Việt Nam thậm chí sẽ còn trở nên gay gắt hơn nếu vẫn tiếp tục tình trạng có hàng chục ngàn phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài lấy chồng mà lý do chủ yếu là về kinh tế như những năm gần đây. 


           Bảng 1. Phân bố phần trăm dân số theo giới tính và nhóm tuổi ở Việt Nam năm 2009

Nhóm tuổi

Nam

Nữ

Tỷ số giới tính

Tổng số

100,0

100,0

98,1

0-4

9,0

7,9

111,5

5-9

8,4

7,6

108,7

10-14

9,0

8,1

108,5

15-19

10,6

9,8

105,3

20-24

9,3

9,2

99,0

25-29

8,9

8,8

98,4

30-34

8,0

7,8

100,8

35-39

7,7

7,5

101,3

40-44

7,0

7,0

98,9

45-49

6,3

6,5

94,9

50-54

5,0

5,5

89,3

55-59

3,3

3,8

86,3

60-64

2,1

2,5

82,4

65+

5,3

7,9

66,1

Nguồn: Tổng cục Thống kê 2010


Nguyên nhân mất cân bằng giới tính khi sinh

Trên Thế giới, chỉ có ở châu Á là xảy ra tình trạng mất cân bằng giới tính với xu hướng ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng này là tâm lý văn hoá xã  hội  truyền thống với việc phải có bằng được con trai để tiếp tục dòng họ trong bối cảnh qui mô gia đình ít con đang trở thành chuẩn mực văn hoá phổ biến của xã hội hiện đại. Mong muốn phải có bằng được con trai là một nét văn hoá gia đình - dòng họ đã có từ hàng nghìn năm nay ở các nước châu Á, nhưng yếu tố này không làm cho tỷ số giới tính khi sinh giữa bé trai và bé gái bị mất cân bằng trong xã hội nông nghiệp trước đây. Nét tâm lý văn hoá này chỉ có tác động làm mất cân bằng TSGTKS khi các xã hội bước vào thời kỳ quá độ dân số với mức sinh giảm nhanh và sinh ít con trở thành một chuẩn mực mới của xã hội hiện đại. Khi các cặp vợ chồng chỉ muốn sinh ít con và lại muốn có con trai, hiện tượng mất cân bằng giới tính mới bắt đầu xảy ra. Theo kết quả cuộc điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, có 36% số người được hỏi trong độ tuổi 18-60 cho rằng các cặp vợ chồng nhất thiết phải sinh con trai. 

Nguyên nhân thứ hai là do tác động của sự phát triển khoa học và công nghệ. Việc lựa chọn giới tính thai nhi ngày càng được dễ dàng thực hiện nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ. Các công nghệ siêu âm tiên tiến cho phép có thể xác định được giới tính thai nhi trong vòng 1-2 tháng tuổi. Các cặp vợ chồng có thể phá bỏ thai nhi là con gái khi họ đang mong muốn có con trai. Việc tuân theo các chế độ dinh dưỡng được lựa chọn cũng có thể giúp các cặp vợ chồng có giới tính thai nhi theo ý muốn. Theo các số liệu thống kê ở Hàn Quốc và Trung Quốc, TSGTKS ở mức bình thường đối với đứa trẻ thứ nhất, nhưng với đứa trẻ thứ hai, TSGTKS tăng vọt lên tới 152 (ở Trung Quốc), và với đứa trẻ thứ ba, TSGTKS tăng lên 142 (ở Hàn Quốc).

Các chương trình dân số-KHHGĐ không phải là nguyên nhân làm cho TSGTKS tăng cao và gây ra sự mất cân bằng giới tính trong xã hội. Bằng chứng là ở các nước không có chương trình dân số - KHHGĐ như Pakistan, Hàn Quốc hay Azerbaijan, vẫn ghi nhận TSGTKS ở mức cao hơn bình thường. Tuy nhiên, chính sách mỗi gia đình chỉ có 1 con ở Trung Quốc rõ ràng đã thúc đẩy TSGTKS tăng lên rất cao ở đất nước này. Vì đa số các cặp vợ chồng trong các xã hội châu Á hiện nay theo đuổi mô hình gia đình có 2 con, chính sách dân số - KHHGĐ của Việt Nam hầu như không mâu thuẫn với số con mong muốn của đa số các gia đình.

Thiếu hụt phụ nữ tác động tới xã hội thế nào?

Sự thiếu hụt phụ nữ trong độ tuổi hôn nhân sẽ có tác động làm cho việc tìm người bạn đời của đa số nam giới gặp khó khăn hơn. Do đó, nhiều người sẽ kết hôn muộn hơn và yếu tố này làm tăng tỷ lệ nam giới chưa lập gia đình trong xã hội tăng lên. Mặt khác, nam giới nói chung sẽ có thời gian học tập và đào tạo dài hơn so với nữ giới, từ đó, vị thế xã hội của nam sẽ cao hơn nữ.

Sự thiếu hụt phụ nữ cũng sẽ tác động làm tăng tỷ lệ nam giới trong độ tuổi hôn nhân không có cơ hội lập được gia đình. Số nam giới không có khả năng lập được gia đình thường chủ yếu rơi vào nhóm người nghèo. Mâu thuẫn xã hội giữa nhóm người nghèo và các nhóm khá giả hơn trong xã hội sẽ tăng lên. Đây là nguy cơ tiềm tàng của những xung đột xã hội.

Mất cân bằng giới tính cũng có tác động mạnh mẽ tới phụ nữ. Trước hết, nó làm tăng sức ép lấy chồng sớm của phụ nữ. Thời gian học hành và tham gia lực lượng lao động của phụ nữ sẽ có xu hướng bị rút ngắn lại. Yếu tố này làm gia tăng sự bất bình đẳng giới.

Sự thiếu hụt phụ nữ ngày càng trầm trọng sẽ làm tăng nhu cầu mại dâm và thúc đẩy sự phát triển của các mạng lưới bắt cóc và buôn bán phụ nữ. Do đó, trật tự và an toàn xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Tỷ trọng phụ nữ trong dân số giảm sẽ có tác động làm cho tiếng nói chính trị của phụ nữ bị giảm trọng lượng trong các quyết định về các chính sách công.

Như vậy, mất cân bằng giới tính trong xã hội sẽ có những tác động rất tiêu cực tới sự phát triển xã hội. Sự mất cân bằng giới tính làm tăng nguy cơ xung đột xã hội giữa người nghèo và người giàu, làm gia tăng bất bình đẳng giới, phát triển các tệ nạn xã hội và làm mất trật tự và an toàn xã hội.

Các nước can thiệp như thế nào?

Ở các nước có TSGTKS cao hơn mức bình thường, các chính phủ đều đã có những chính sách can thiệp tích cực nhằm đưa TSGTKS trở lại giới hạn tự nhiên. Nói chung, các nước đều có các điều luật nghiêm cấm hình thức phá thai chọn giới tính, cấm việc sử dụng các máy siêu âm để xác định giới tính của thai nhi.

Biện pháp thứ hai mà các chính phủ thường áp dụng là thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội nhằm vào việc cải thiện vấn đề bình đẳng giới, nâng cao địa vị phụ nữ trong xã hội, từng bước khắc phục tư tưởng trong nam, khinh nữ, đặc biệt là ở các vùng nông thôn nghèo. Ví dụ, Chính phủ Trung Quốc đã có chính sách hỗ trợ tiền cho các gia đình có một con gái ở khu vực nông thôn. Hàn Quốc đã tiến hành nhiều chiến dịch truyền thông mạnh mẽ đề nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong thanh niên và hoàn thiện các chính sách về an sinh xã hội cho người già.

Hiện nay, hầu hết các nước liên quan chưa đạt được những kết quả khả quan trong việc ngăn chặn xu hướng TSGTKS tăng lên. Chỉ có  Hàn quốc đã bước đầu thu được những kết quả nhất định. Năm 2005, TSGTKS của Hàn Quốc đã giảm xuống còn 108 từ mức cao hơn 110 của những năm trước đó.

Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính ở Hàn Quốc đã kéo dài gần 20 năm, nó đã thúc đẩy một làn sóng phụ nữ từ các nước châu Á khác như Trung Quốc và Việt Nam đi sang Hàn Quốc lấy chồng. Năm 2006, theo số liệu thống kê của Chính phủ Hàn Quốc, có hơn 13.000 phụ nữ Trung Quốc và khoảng 6500 phụ nữ Việt Nam đã sang Hàn Quốc lấy chồng. Làn sóng di cư lấy chồng Hàn Quốc có thể sẽ làm căng thẳng thêm tình trạng thiếu hụt phụ nữ của Trung Quốc hay Việt Nam trong tương lai không xa.

Đối với một nước còn nghèo như nước ta, tình trạng mất cân bằng giới tính trong nhóm dân số ở độ tuổi hôn nhân có nhiều nguy cơ xảy ra trong vòng 10-15 năm sắp tới. Tình trạng này sẽ xảy ra không chỉ là do TSGTKS đang tăng lên trong những năm vừa qua, mà còn do đời sống kinh tế của một bộ phận lớn dân cư các vùng nông thôn còn rất thấp so với các nước đang phát triển khác trong khu vực. Nếu không đạt được những kết quả bền vững trong các chương trình xoá đói, giảm nghèo và đưa mức sống chung của người dân lên ngang bằng với các nước đang phát triển trong khu vực châu Á, làn sóng phụ nữ Việt Nam đi lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan hay Trung Quốc sẽ tiếp tục diễn ra. Số lượng nam giới không lấy được vợ là những người nghèo trong xã hội có thể tăng cao. Đây là một nguy cơ tiềm tàng gây bất ổn xã hội cần phải hết sức quan tâm.

Kết luận

Tỷ số giới tính chung của dân số nước ta tiến tới mức cân bằng nhưng tỷ số giới tính khi sinh đã mất cân bằng. Xu hướng biến động tỷ số giới tính của dân số Việt nam đang chuyển từ giai đoạn có số lượng nam giới ít hơn nữ giới sang giai đoạn có số lượng nam giới nhiều hơn nữ giới. Những thập kỷ trước đây, các nhóm dân số ở độ tuổi hôn nhân là cân bằng, tình trạng cân bằng giới tính của các nhóm dân số này đã trở lại trong vòng khoảng 15 năm gần đây. Tình trạng cân bằng giới tính của các nhóm dân số ở độ tuổi hôn nhân ở nước ta sẽ bị phá vỡ trong giai đoạn sau năm 2020 do sự mất cân bằng nghiêm trọng về giới tính khi sinh đang xảy ra. Nhà nước cần sớm xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội phù hợp nhằm ngăn chặn tình trạng này xảy ra và trở nên trầm trọng.

Christophe Z Guilmoto, (2007). Sex-ratio imbalance in Asia: Trends, consequences and policy responses. LPED/IRD, Paris.

 

Christophe Z Guilmoto, (2007). Sđd. tr.6

Christophe Z Guilmoto, (2007). Sđd. tr.6