BIẾN ĐỔI ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ VỀ TÌNH DỤC

CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN HỮU MINH, TRẦN THỊ HỒNG


Giới thiệu

            Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các giá trị xã hội có xu hướng biến đổi ngày càng nhanh chóng. Thanh niên được xác định là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Tuy nhiên, nhóm xã hội này lại thường có nguy cơ có các hành vi sai lệch. Một sự khao khát biến đổi, muốn vượt ra ngoài những khuôn khổ cứng nhắc, sự thiếu hụt những kinh nghiệm sống ...tất cả tạo thành tâm lý đặc thù khiến tuổi trẻ và sự sai lệch, cái tích cực và cái tiêu cực luôn kề cận bên nhau (Đặng Cảnh Khanh, 2006: 453). Vì thế, việc tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên trong bối cảnh biến đổi xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng hành động của thanh niên trong tương lai, nhằm chuẩn bị cho họ những kiến thức và kỹ năng cần thiết để họ sẵn sàng bước vào cuộc sống với nhiều biến đổi. Một trong những vấn đề có quan hệ mật thiết với đời sống thanh niên là vấn đề tình dục.

Bài viết sử dụng số liệu Điều tra vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ nhất (SAVY 2003) và lần thứ hai (SAVY 2009) để phân tích sự biến đổi định hướng giá trị về tình dục của thanh niên sau thời gian 5 năm, giữa hai cuộc khảo sát. Định hướng giá trị của thanh niên về vấn đề tình dục được đo lường chủ yếu thông qua những quan niệm, thái độ của họ đối với vấn đề này.

1.  Thái độ của thanh niên với mại dâm có xu hướng khắt khe hơn

            Thái độ của thanh niên đối với mại dâm được đánh giá qua việc đồng ý hay không đồng ý với 3 nhận định: 1) Bán dâm là không tốt, nhưng có khi phải làm do hoàn cảnh bắt buộc; 2) Bán dâm có xấu hay không tùy thuộc vào cách nghĩ của từng người; 3) Bán dâm là vô đạo đức.

Đối với nhận định "Bán dâm là vô đạo đức", có 55,7% nam và 57,1% nữ ở SAVY 2, và tương tự như vậy ở SAVY 1 (57% nam và 58% nữ) cho rằng bán dâm là "vô đạo đức". Có sự đảo ngược xu hướng nhận định "bán dâm là vô đạo đức" giữa thanh niên nông thôn và thành thị ở hai cuộc điều tra. Nếu như ở SAVY1, thanh niên thành thị đồng ý với nhận định này cao hơn so với thanh niên nông thôn (60,2% so với 56,6%), thì ở SAVY2 lại có xu hướng ngược lại (51,7 so với 57,8%). Trong khoảng thời gian từ 2003-2009, trong khi thanh niên nông thôn vẫn không thay đổi đáng kể ý kiến về nhận định này thì thanh niên thành thị lại đánh giá bớt khắt khe hơn về mại dâm (giảm khoảng 9 điểm phần trăm). Xu hướng này diễn ra tương tự đối với nhóm thanh niên dân tộc Kinh/Hoa và nhóm dân tộc thiểu số.

Tỷ lệ đồng ý với nhận định "Bán dâm là vô đạo đức" ở nhóm thanh niên cho rằng có thể dễ dàng tìm thấy mại dâm nơi họ sống là 50,7%, thấp hơn so với nhóm cho rằng khó tìm thấy mại dâm tại nơi sống (57%) hay nhóm cho rằng không thể tìm thấy mại dâm tại nơi họ sống (59,6%). Điều này gợi lên rằng sự phổ biến tình trạng mại dâm khiến cho thanh niên dễ dàng chấp nhận mại dâm hơn. Phải chăng vì tình trạng mại dâm phổ biến hơn ở thành thị nên thanh niên thành thị có xu hướng giảm bớt khắt khe với hiện tượng mại dâm?

Không có sự khác biệt đáng kể trong quan niệm giữa nam thanh niên và nữ thanh niên về hai nhận định liên quan đến bán dâm này. Có 32,7% nam và 31,6% nữ ở SAVY 2 đồng ý "Bán dâm là không tốt nhưng có khi phải làm do hoàn cảnh bắt buộc". Tỷ lệ tương ứng ở SAVY 1 là 44,6% và 42,2%. Có 33,7% nam và 32,8% nữ ở SAVY2 đồng ý "Bán dâm có xấu hay không tùy thuộc vào cách nghĩ của từng người". Tỷ lệ tương ứng ở SAVY1 là 39,8% và 37,5%.

Thái độ đối với việc bán dâm còn phụ thuộc vào trình độ học vấn của người trả lời. Thanh niên trình độ học vấn cao có xu hướng chấp nhận bán dâm trong một số hoàn cảnh nhiều hơn nhóm thanh niên học vấn thấp. Cụ thể, có 26,5% thanh niên có trình độ tiểu học trở xuống đồng ý "bán dâm là không tốt nhưng có khi phải làm do hoàn cảnh bắt buộc". Tỷ lệ này ở nhóm trình độ học vấn cao đẳng trở lên cao hơn hẳn, với 45,4%.

Kết quả của cả hai cuộc nghiên cứu còn cho thấy, những người đã từng có quan hệ tình dục với người bán dâm/người mua dâm đánh giá về việc bán dâm khoan dung hơn những người chưa từng có hành vi này. Trong những năm trở gần đây, tỷ lệ gái mại dâm tăng lên với tốc độ khá nhanh. Thanh niên sống trong những gia đình khá giả và ở khu vực thành thị có xu hướng quan hệ với người bán dâm nhiều hơn các nhóm khác (Khuất Thị Hải Oanh, Khuất Thu Hồng, 2006: 26). Điều này có thể lý giải cho sự tăng lên của thái độ cảm thông của các nhóm thanh niên thành thị với hiện tượng bán dâm.


Bảng 1. Tỷ lệ đồng ý của thanh niên với các nhận định về bán dâm theo các nhóm

Đặc điểm nhóm thanh niên

Bán dâm là không tốt nhưng có khi phải làm do hoàn cảnh bắt buộc

Bán dâm có xấu hay không tùy thuộc vào cách nghĩ của từng người

SAVY 1

SAVY 2

SAVY 1

SAVY 2

Chung

43,4

3291

32,1

3229

38,7

2933

33,2

3338

Giới tính

Nam

44,6

32,7

39,8

33,7

Nữ

42,2

31,6

37,5

32,8

Nhóm tuổi

14-17

41,1

30,1

34,9

28,9

18-21

45,0

33,9

41,3

34,6

22-25

45,7

34,1

42,3

40,5

Dân tộc

Kinh+Hoa

45,5

33,5

39,7

34,3

DTTS

30,7

24,3

32,4

27,2

Khu vực

Thành thị

52,4

41,1

42,5

40,0

Nông thôn

40,5

29,2

37,5

31,0

Trình độ học vấn

Tiểu học trở xuống

33,2

26,5

34,0

26,3

Trung học cơ sở

39,5

26,7

36,7

31,0

THPT + Học nghề

53,7

35,0

43,9

34,5

Cao đẳng trở lên

65,1

45,4

38,0

41,9

Đã Quan hệ tình dục với người bán dâm/mua dâm

76,3

42,7

60,5

51,2

Chưa bao giờ

43,0

32,1

38,4

33,1

 


2. Xu hướng chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân gia tăng


            Thái độ của thanh niên về vấn đề quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân được đánh giá qua tỷ lệ đồng ý của họ với 5 nhận định: Có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân nếu: 1) Hai người hoàn

Viện Gia đình và Giới

Xin xem thêm chi tiết về 2 cuộc khảo sát này ở Báo cáo chung về SAVY 2 (Bộ Y tế và các cơ quan khác, 2010). Trong bài viết này các tác giả dùng thuật ngữ "thanh niên" để chỉ chung cho các đối tượng khảo sát trong 2 cuộc khảo sát nêu trên (độ tuổi 14-25)

toàn tự nguyện làm việc này; 2) Hai người yêu nhau; 3) Hai người đang chuẩn bị làm đám cưới; 4) Hai người đã trưởng thành và lường trước được những hậu quả của việc họ đang làm; 5) Biết giữ cho người phụ nữ không có thai. Kết quả cho thấy, khoảng 1/3 thanh niên đồng ý với hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân trong 5 tình huống nêu trên. So với thái độ của thanh niên ở độ tuổi này vào năm 2003, thanh niên hiện nay tỏ ra cởi mở hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Ở cả 5 tình huống, tỷ lệ thanh niên ở SAVY 2 chấp nhận tình dục trước hôn nhân đều cao hơn tỷ lệ thanh niên ở SAVY 1, mức dao động từ 3% đến 8%.

Thái độ chấp nhận tăng lên về quan hệ tình dục trước hôn nhân có thể liên quan đến một môi trường chính sách và hành động cởi mở hơn liên quan đến vấn đề này. Về mặt chính sách, Việt Nam chưa có chính sách cụ thể về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục dành riêng cho nhóm thanh niên cho đến khi Luật thanh niên được phê duyệt và ban hành năm 2005. Kế hoạch tổng thể Quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ vị thành niên và thanh niên Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng 2020 hướng tới mục tiêu duy trì và cải thiện tình trạng sức khoẻ bao gồm cả sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của nhóm tuổi trẻ, cải thiện và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến sức khoẻ sinh sản/sức khoẻ tình dục. Những điều đó giúp thanh niên tự tin hơn vào hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân.

Thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh niên chịu tác động bởi những yếu tố nào?

Trước hết là môi trường sống có hoặc không có nhiều người chưa lập gia đình nhưng đã có quan hệ tình dục. Những người cho rằng nơi họ sống có nhiều nam nữ thanh niên chưa lập gia đình nhưng có quan hệ tình dục, có thái độ cởi mở hơn đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân. Lấy ví dụ, đối với nhận định "Có thể QHTD trước hôn nhân nếu hai người hoàn toàn tự nguyện", tỷ lệ đồng ý ở nhóm cho rằng nơi họ sống có nhiều nam thanh niên chưa lập gia đình có quan hệ tình dục là 57,8%, ở nhóm cho rằng nơi họ sống có ít nam thanh niên chưa lập gia đình có quan hệ tình dục là 41,9%, ở nhóm cho rằng nơi họ sống không có nam thanh niên chưa lập gia đình có quan hệ tình dục là 27,6%.

Sự phổ biến các ấn phẩm khiêu dâm tại khu vực sinh sống cũng có ảnh hưởng đến thái độ của thanh niên đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân. Thanh niên sống tại những nơi dễ dàng tìm thấy phim ảnh/sách báo khiêu dâm có tỷ lệ đồng ý với hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân trong cả 5 trường hợp cao hơn nhiều so với thanh niên sống tại những nơi mà khó/rất khó hoặc không thể tìm thấy văn hóa phẩm khiêu dâm. Chẳng hạn, tỷ lệ đồng ý "có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân nếu hai người tự nguyện" tại nơi ở dễ tìm thấy phim ảnh/sách báo khiêu dâm là 52,5%, trong khi đó tỷ lệ tương ứng ở tại nơi rất khó tìm thấy các ấn phẩm đó là 32,8%. Kết quả này cho thấy khả năng chi phối của văn hóa phẩm khiêu dâm tới thái độ của thanh niên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Ở Việt Nam hiện nay, việc lưu hành hoặc xuất bản các ấn phẩm có tính chất khiêu dâm hoàn toàn bị cấm, tùy theo mức độ sẽ bị xử phạt. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều ấn phẩm và tài liệu này vẫn lưu hành lén lút trong xã hội. Người dân nói chung và thanh niên nói riêng có thể mua chúng ở các tiệm băng đĩa hoặc từ những người bán băng đĩa rong. Thuận tiện hơn, với sự phát triển của khoa học công nghệ, thanh niên có thể tiếp cận với những tài liệu này bất cứ lúc nào trên internet. Không chỉ tiếp cận, họ còn có thể dễ dàng phổ biến và lan truyền những tài liệu này trên mạng internet. Mối liên hệ giữa sự phổ biến văn hóa phẩm khiêu dâm và thái độ cởi mở với quan hệ tình dục trước hôn nhân gợi ra rằng, cần thiết phải có sự quản lý chặt chẽ các loại hình văn hóa phẩm này.

Không có sự khác biệt về thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân giữa các nhóm thanh niên khác nhau về trình độ học vấn. Tuy nhiên, nhóm thanh niên đã kết hôn có thái độ cởi mở hơn nhóm chưa kết hôn về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Như vậy, để định hướng hành vi tình dục trước hôn nhân của thanh niên, việc truyền thông cần chú ý đến cả đối tượng thanh niên đã lập gia đình. Bởi như đã phân tích ở trên, thái độ với tình dục trước hôn nhân của thanh niên chịu ảnh hưởng lớn bởi quan điểm của nhóm bạn về vấn đề này.

Có mối liên hệ giữa thái độ của thanh niên về quan hệ tình dục trước hôn nhân với việc họ đã từng trao đổi về những nội dung liên quan đến chủ đề này. Những người đã từng nói chuyện với người khác về nội dung: mang thai/ kế hoạch hóa gia đình/ các biện pháp tránh thai; tình dục; tình yêu có tỷ lệ đồng ý với việc quan hệ tình dục trước hôn nhân cao hơn so với nhóm chưa từng nói với ai về các nội dung này. Chẳng hạn, tỷ lệ đồng ý "có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân nếu cả hai người hoàn toàn tự nguyện" ở thanh niên đã từng nói chuyện với người khác về chủ đề tình dục là 49,6%. Tỷ lệ này ở nhóm chưa từng nói chuyện về chủ đề tình dục chỉ là 27,5%. Việc chia sẻ với người khác về những nội dung vốn thường được coi là những chủ đề tế nhị đã thể hiện thái độ cởi mở của thanh thiếu niên về vấn đề này. Điều đó cho thấy, khi chủ đề tình yêu, tình dục, biện pháp phòng tránh thai ngày càng phổ biến hơn trong xã hội, và không còn là vấn đề e ngại, không dám nói ra của thanh niên, việc truyền thông định hướng hành vi quan hệ tình dục an toàn là hết sức cần thiết. Nếu không, thanh niên sẽ cởi mở với vấn đề tình dục cả về thái độ và hành vi song lại thiếu kiến thức về quan hệ tình dục an toàn.

3. Kết luận và một số vấn đề đặt ra về chính sách

Trong khoảng thời gian 5 năm sau cuộc khảo sát lần thứ nhất, thái độ của thanh niên đối với việc bán dâm chỉ thay đổi chút ít theo hướng có cái nhìn khắt khe hơn. Xu hướng này diễn ra ở tất cả các nhóm thanh niên. Đây là một dấu hiệu tích cực trong việc định hướng lối sống của thanh thiếu niên. Chiến lược phát triển thanh niên đến năm 2010 đã coi việc đẩy lùi mại dâm là một trong những mục tiêu cần thực hiện nhằm nâng cao sức khỏe và đẩy lùi tệ nạn xã hội trong thanh niên. Sự chấp nhận mại dâm có thể ảnh hưởng xấu đến lối sống và đạo đức của thanh niên. Vì vậy, tiếp tục giáo dục phòng chống mại dâm cho thanh niên là hết sức cần thiết. Việc tuyên truyền cần được quan tâm hơn ở khu vực thành thị, những nơi có thể có nhiều văn hóa phẩm khiêu dâm.

So với 5 năm trước, thanh niên ngày nay tỏ ra cởi mở hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Đây là vấn đề cần quan tâm nhằm hạn chế sự gia tăng tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trong thanh niên thời gian tới. Chính vì vậy, việc truyền thông định hướng hành vi quan hệ tình dục an toàn là rất cần thiết và chú ý hơn đến các nhóm nói trên. Về mặt chính sách, việc quan tâm đầu tư và khuyến khích các tổ chức, cá nhân xây dựng các cơ sở y tế, cung cấp các dịch vụ tư vấn cho thanh niên về sức khỏe sinh sản (SKSS), phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng như nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến sức khoẻ sinh sản/sức khoẻ tình dục có thể giúp cho thanh niên hạn chế những hậu quả tiêu cực trong việc thực hiện hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân.