HIỆU QUẢ VÀ SỰ CẦN THIẾT: CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH GIAI ĐOẠN 2011-2015

                                                                                         TS. DƯƠNG QUỐC TRỌNG*


1. Hiệu quả đầu tư của Chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ

Nhờ có Chương trình mục tiêu quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình (CTMT QG DS-KHHGĐ) mà chúng ta đã đạt được những thành tựu rất tốt đẹp được thể hiện qua kết quả cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở ngày 1/4/2009: quy mô dân số nước ta là 85,8 triệu người; mỗi năm Việt Nam tăng thêm 952 nghìn người, đây là lần đầu tiên trong suốt nhiều thập kỷ, số người tăng thêm mỗi năm ở mức dưới 1 triệu người, trong khi số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giai đoạn này tăng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước đó, tỉ lệ gia tăng dân số trung bình hàng năm đã giảm từ 1,7% (giai đoạn 1989-1999) xuống còn 1,2% (giai đoạn 1999 - 2009), đây là mức giảm sinh lớn nhất và tỉ lệ gia tăng dân số thấp nhất trong vòng 50 năm qua, tổng tỉ suất sinh (số con trung bình của 1 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) giảm xuống còn 2,03 con và đạt dưới mức sinh thay thế.

Trong 20 năm qua, từ các nguồn ngân sách (Trung ương, địa phương, vốn vay, viện trợ) Việt Nam đã đầu tư cho chương trình DS-KHHGĐ 8.400 tỷ đồng. Hai mươi năm trước đây, dân số Philippin ít hơn Việt Nam 5,3 triệu người, hiện nay dân số Philippin hơn Việt Nam 7,1 triệu người. Như vậy nếu so sánh với Philippin, trong vòng 20 năm qua, Việt Nam đã "tránh sinh" được 12,4 triệu người và qua đó chúng ta thấy rõ được hiệu quả của việc đầu tư cho chương trình DS-KHHGĐ tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

Kết quả giảm sinh sẽ tiết kiệm các khoản chi cho các dịch vụ xã hội để dành vốn đầu tư cho các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và cải thiện đời sống nhân dân. Theo kinh nghiệm của quốc tế được UNFPA công bố, nếu chi 1 USD cho KHHGĐ thì sẽ tiết kiệm được 31 USD chi cho xã hội. Các khoản tiết kiệm này sẽ tiếp tục gia tăng nếu đầu tư nâng cao chất lượng dân số.

2. Góp phần làm tăng khoảng 2% GDP bình quân đầu người

Trong 20 năm qua, GDP tăng liên tục, với tốc độ bình quân năm là 7,5% giai đoạn 1991-2000 và  7,2%  giai đoạn 2001-2010. Năm 2010, tổng sản phẩm trong nước đã gấp 4,12 lần so với năm 1990 và quy mô dân số tăng gấp 1,32 lần, nên GDP bình quân đầu người năm 2010 tăng gấp 3,13 lần so với năm 1990. Nếu so sánh với phương án dự báo dân số là 105,45 triệu người thì GDP bình quân đầu người năm 2010 chỉ tăng gấp 2,57 lần so với năm 1990. Như vậy, kết quả CTMTQG trong 20 năm qua đã trực tiếp làm tăng 0,38 lần GDP bình quân đầu người, bình quân tăng khoảng 2% mỗi năm.

3. Góp phần thực hiện thành công các Mục tiêu thiên niên kỷ tại Việt Nam

Góp phần Nâng cao sức khỏe bà mẹ (MDG5) và Giảm tử vong ở trẻ em (MDG4):Bình quân hàng năm hiện nay cả nước chỉ có khoảng 1,4-1,5 triệu phụ nữ mang thai và sinh đẻ, so với 2,2-2,3 triệu phụ nữ mang thai và sinh đẻ hàng năm nếu không có CTMTQG, có nghĩa là hàng năm giảm khoảng 90 vạn phụ nữ không tham gia vào sinh đẻ, không có có nguy cơ tử vong do thai sản.

            Góp phần tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ (MDG3):việc đẻ muộn, đẻ thưa, đẻ ít làm cho mẹ khỏe, con khỏe; làm cho người phụ nữ có nhiều cơ hội để học tập văn hoá, khoa học và tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội.

            Góp phần giảm tình trạng đói nghèo (MDG1):

Hàng năm giảm khoảng 90 vạn phụ nữ không tham gia vào sinh đẻ, do vậy sẽ tăng thêm 108 triệu ngày công lao động của phụ nữ do nghỉ thai sản (theo quy định của pháp luật 4 tháng hay 120 ngày) và 163 triệu ngày công của người mẹ do trẻ em dưới 15 tuổi ốm mẹ nghỉ (theo Điều tra mức sống dân cư 2008, số ngày trẻ em từ 0-4 tuổi phải nghỉ do bị ốm/chấn thương là 7,7 ngày/năm, trẻ từ 5-14 tuổi phải nghỉ do bị ốm/chấn thương là 5,5 ngày/năm). Nhờ đó mà các cặp vợ chồng không chỉ có điều kiện để đầu tư cho phát triển kinh tế, mà còn tạo điều kiện để nuôi dạy con tốt, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của mỗi cộng đồng và toàn xã hội.

4. Có cần thiết phải tiếp tục đầu tư cho công tác dân số nữa hay không?

Trong thế kỷ XX, nhiều nước châu Á đã thực hiện thành công chương trình DS-KHHĐ và đạt mức sinh thay thế từ rất sớm như: Nhật Bản (từ những năm 1960-1965); Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore (1976-1986); Thái Lan (1994); Trung Quốc (1998),... Sau khi kiềm chế được tốc độ gia tăng dân số quá nhanh thì nền kinh tế của hầu hết những nước này đều "cất cánh" và trở thành những "con rồng" của châu Á. Sau khi đạt mức sinh thay thế, các nước này vẫn tiếp tục không giảm mức đầu tư cho chương trình Dân số.

Việt Nam tuy đã đạt mức sinh thay thế, nhưng công tác Dân số lại xuất hiện những vấn đề mới và còn nhiều thách thức, đó là:

5. Mức sinh còn biến động khó lường

Tuy đã đạt mức sinh thay thế, nhưng mức sinh có thể tăng trở lại, nguyên nhân là do phong tục tập quán, tư tưởng nho giáo muốn có đông con, phải có con trai còn rất nặng nề của người dân trong xã hội nông nghiệp (dân số nông thôn chiếm tới 70,4%); số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng nhanh, sẽ đạt cực đại vào năm 2020-2025; vẫn còn 28/63 tỉnh chiếm 34,4% dân số cả nước chưa đạt mức sinh thay thế. Nếu cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp chỉ một chút lơ là, chủ quan, thỏa mãn, thì mức sinh sẽ rất dễ tăng trở lại.

6. Mất cân bằng giới tính khi sinh bước vào mức cao

Một vấn đề mới xuất hiện trong công tác dân số là tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) đã tăng nhanh một cách bất thường. TSGTKS là số bé trai trên 100 bé gái, bình thường dao động trong khoảng từ 103-106. Qua 3 cuộc Tổng điều tra Dân số trước đây, TSGTKS đã tăng từ 105 (1979) lên 106 (1989) và 107 (1999) nhưng từ năm 2006 đến nay, TSGTKS tăng cao và nhanh liên tục, từ 110 (2006) lên 111(2007) và 112 (2008). Các chuyên gia quốc tế đã nhận xét, TSGTKS tăng ở những nước có nền văn hóa tương đồng (ưa thích sinh con trai hơn con gái) như Việt Nam nhưng chưa có nước nào lại có tốc độ gia tăng nhanh như ở nước ta. Nếu không có giải pháp tích cực sự mất cân bằng giới tính này sẽ để lại những hệ lụy nặng nề, gây khó khăn trong việc xây dựng gia đình của các thế hệ tương lai và tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội.

7. Vấn đề già hóa dân số

Các nước trên thế giới phải trải qua nhiều thập kỷ nhưng Viêt Nam chỉ mất có 3 năm, từ 2005 đến 2008, đã chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn già hóa dân số. Vì thế mà chúng ta chưa chuẩn bị tốt cho việc thích ứng với giai đoạn già hóa dân số, nhất là chế độ an sinh xã hội cho người cao tuổi. Các nhà khoa học đã tính toán, nếu việc chăm sóc sức khỏe cho một đứa trẻ chỉ tốn 1 đồng thì việc chăm sóc một người cao tuổi phải cần tới 8 đồng.

8. Chất lượng dân số thấp

Tỷ lệ trẻ em mới sinh bị dị tật bẩm sinh do di truyền có xu hướng tiếp tục gia tăng do điều kiện sống, môi trường độc hại, lối sống hoặc phong tục, tập quán lạc hậu. Nếu không có biện pháp ngăn chặn trong việc dự phòng và điều trị sớm một số bệnh thì tỷ lệ này có khả năng sẽ tiếp tục tăng cao và để lại hậu quả nặng nề cho gia đình và xã hội. Các nước trên thế giới đã tiến hành sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh để nâng cao chất lượng giống nòi từ cách đây trên 50 năm nhưng Viêt Nam mới bắt đầu thử nghiệm được 3 năm. Trung Quốc đã đưa vấn đề này vào Luật, bắt buộc mọi phụ nữ mang thai phải sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh để có thể phát hiện sớm bệnh tật hạn chế đến mức tối đa các dị tật, khuyết tật của trẻ sơ sinh.

Vấn đề tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống dẫn tới suy thoái giống nòi của một số dân tộc ít người đang là những vấn đề hết sức đáng quan tâm.

Chỉ số phát triển con người tuy đạt mức trung bình là 0,725 điểm, nhưng thứ bậc xếp hạng là 116 và không đổi so với 182 nước tham gia xếp hạng. Tuổi thọ bình quân là 72,8 tuổi, nhưng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh rất thấp chỉ 66 tuổi. Tỷ số chết mẹ, tỷ suất chết sơ sinh, tỷ suất chết trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn khá cao và có sự cách biệt giữa các vùng miền. Tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục còn cao.

9. Có cần thiết phải là Chương trình mục tiêu quốc gia hay không?

Công tác DS-KHHGĐ hoàn toàn không chỉ là vấn đề y tế đơn thuần. Kinh nghiệm này đã được đúc kết qua mấy chục năm làm công tác DS-KHHGĐ và đây cũng là bài học xương máu của chúng ta. Trong suốt 30 năm, từ đầu những năm 1960 đến đầu những năm 1990, các chỉ tiêu về công tác DS-KHHGĐ được Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng đề ra đều không đạt. Một trong những nguyên nhân, đó là do khi đó chúng ta mới chỉ hiểu công tác DS-KHHGĐ là những biện pháp đặt vòng, tránh thai... giao cho ngành y tế thực hiện và chưa có sự phối hợp liên ngành. Nhiệm kỳ vừa qua, chúng ta thực hiện cải cách hành chính, các Bộ quản lý đa ngành đa lĩnh vực, đưa dân số về nằm trong Bộ Y tế nhưng không có nghĩa coi công tác dân số chỉ là vấn đề kỹ thuật đơn thuần, nếu như DS-KHHGĐ không còn là chương trình mục tiêu quốc gia mà chỉ còn là một dự án nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia thuộc ngành y tế thì chúng ta rất dễ mắc phải những sai lầm trong quá khứ và những thành quả phấn đấu trong suốt những năm qua sẽ bị đổ vỡ.

Công tác DS-KHHGĐ đòi hỏi cần có sự phối hợp liên ngành và cần có một vị thế để triển khai thực hiện. Hiện nay, sự nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, cũng như của người dân chưa đầy đủ và thống nhất nên nếu như không còn CTMT QG DS-KHHGĐ sẽ dễ dẫn tới tình trạng buông xuôi, hiểu sai về chủ trương, đường lối của Đảng là coi công tác DS-KHHGĐ không còn là mục tiêu của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương nữa.



*
Tổng cục trưởng, Tổng cục DS-KHHGĐ.