TUYÊN BỐ CHUNG YOGYAKARTA, INDONESIA

HỘI NGHỊ QUỐC TẾ “ĐẨY MẠNH KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH VÀ SỨC KHỎE BÀ MẸ ĐỂ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO”

                                                                         TS. NGUYỄN QUỐC ANH*, ThS. ĐINH HUY DƯƠNG*


            Tổ chức Đối tác Dân số và Phát triển (PPD) là một liên minh liên chính phủ của các nước đang phát triển bao gồm các thành viên:  Bangladesh, Benin, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập, Ethiopia, Gambia, Ghana, Ấn Độ, Indonesia, Jordan, Kenya, Mali, Mexico, Morocco, Nigeria, Pakistan, Senegal, Nam Phi, Thái Lan, Tunisia, Uganda, Việt Nam, Yemen và Zimbabwe, chiếm hơn một nửa dân số thế giới, cùng với một số nước đang phát triển tham dựHội nghị quốc tế về "ĐẩymạnhKế hoạch hóa gia đình và Sức khỏe bà mẹ để xóa đói giảm nghèođược tổ chức tại tỉnh Yogyakarta, nước Cộng hoà Indonesiatừ ngày 26-27 tháng 10 năm 2010.

Hội nghị đã ra tuyên bố chung bao gồm những nội dung tóm tắt như sau :

Các vấn đề ưu tiên và khuyến nghị.

I. Kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe bà mẹ và xoá nghèo

1. Mức sinh cao, tình trạng sức khỏe bà mẹ kém và đói nghèo gắn liềnchặt chẽ với nhau và là các biểu hiện của đói nghèo làm cho gia đình và cộng đồng không thể thoát đói nghèo.

2. Kế hoạch hóa gia đình là một chiến lược quan trọng giúp cải thiện sức khỏe bà mẹ, giảm tử vong mẹ, giảm gia tăng dân số và do đó góp phần phát triển kinh tế nhanh chóng. Kế hoạch hóa gia đình làm giảm mức sinh và làm giảm "dân số trẻ phụ thuộc", nó mở ra "cửa sổ cơ hội" cho các khoản đầu tư lớn trong lĩnh vực xã hội, giáo dục đặc biệt là y tế, nước sạch và vệ sinh môi trường. Kế hoạch hóa gia đình giúp phụ nữ giãn khoảng cách sinh con, hạn chế số lần mang thai và tạo cho họ nhiều cơ hội hơn trong giáo dục và việc làm, nhờ đó tăng thu nhập gia đình cũng như tăng đầu tư cho giáo dục và sức khỏe của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em.

Vì vậy, việc đạt được Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) 5, đặc biệt mục tiêu 5b sẽ đảm bảo tiếp cận phổ cập tới sức khoẻ sinh sản bao gồm cả kế hoạch hóa gia đình, qua đó sẽ đóng góp vào việc đạt được mục tiêu MDG 5a giảm tỷ lệ tử vong mẹ cũng như MDG1 là xóa đói giảm nghèo. Do đó, đầu tư vào kế hoạch hóa gia đình phải là trọng tâm của các chính sách, chiến lược, kế hoạch dài hạn và các chương trình tổng thể quốc gia và phải được xem như là một khoản đầu tư mang lại lợi nhuận cao để sử dụng vào phát triển các lĩnh vực khác của nền kinh tế, chứ không đơn thuần là chi phí dịch vụ phải chi trả.

Khuyến nghị:

1. Thành lập nhóm công tác đa ngành gồm các Bộ như: Y tế, Giáo dục, Nước sạch và Vệ sinh Môi trường, Tài chính, Kế hoạch và các Bộ, các tổ chức liên quan khác để đưa ra kế hoạch hành động mạnh mẽ và phân bổ ngân sách kèm theo để thực hiện chăm sóc sức khỏe bà mẹ và KHHGĐ như một trọng tâm của kế hoạch phát triển quốc gia và chiến lược xoá đói giảm nghèo.

2. Đẩy mạnh phân cấp cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và kế hoạch hóa gia đình nhằm khuyến khích cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng.

3. Đầu tư giáo dục cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái và phụ nữ để tăng cường sự tham gia của họ trong hoạt động kinh tế và nâng cao vị thế của họ trong việc đưa ra quyết định.

4. Thu hút sự tham gia của các đối tác liên quan bao gồm cộng đồng, chính quyền địa phương, các tổ chức tôn giáo và văn hóa, các tổ chức tôn giáo để vận động và lồng ghép kế hoạch hóa gia đình vào  các sáng kiến phát triển của họ.

II. Kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe bà mẹ

Theo ước tính gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO) tỷ lệ tử vong bà mẹ (MMR) đã giảm, số lượng các ca tử vong mẹ ở nhiều nước cũng giảm và trong năm 2010 gần 200.000 phụ nữ không bị chết do mang thai và sinh nở. Việc sinh nở được người đỡ đẻ có kỹ năng (SBAS) hỗ trợ. Chăm sóc cấp cứu sản khoa và kế hoạch hóa gia đình đã góp phần vào kết quả này. Tuy nhiên, ước tính hiện vẫn có khoảng 46 triệu phụ nữ sinh nở không được người đỡ đẻ có kỹ năng hỗ trợ. Hầu hết những phụ nữ này nghèo, là đối tượng thiệt thòi, sống ở vùng sâu vùng xa, còn trẻ và tiếp cận hạn chế hoặc không tiếp cận được các dịch vụ y tế cơ bản bao gồm cả dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Nhu cầu chưa được đáp ứng về các biện pháp tránh thai dẫn đến các ca mang thai không mong muốn ngoài kế hoạch và hậu quả là phải nạo phá thai không an toàn dẫn đến bệnh tật hoặc tử vong.

Điều ghi nhận là nhiều nước đang phát triển đang bước vào giai đoạn với tỷ lệ phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ đang tăng cao. Điều này tạo ra "đà tăng dân số" dẫn đến dân số vẫn tiếp tục tăng trong nhiều thập kỷ nữa, do đó làm hạn chế nỗ lực giảm đói nghèo. Việc tiếp tục giảm mức sinh và giảm gia tăng dân số có thể đạt được ngay cả trong các cộng đồng có thu nhập thấp và mù chữ nếu cải thiện việc tiếp cận các phương tiện tránh thai miễn phí hoặc với chi phí thấp, cung cấp đầy đủ và thường xuyên cùng với thông tin chính xác về các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.

Kế hoạch hóa gia đình là trọng tâm của cải thiện sức khỏe bà mẹ, là một trọng tâm của MDG 5 và là trọng tâm để đạt được các mục tiêu MDG khác. Các nghiên cứu cho thấy kế hoạch hóa gia đình đem lại lợi ích trực tiếp cho cuộc sống và sức khỏe bà mẹ trẻ em. Bảo đảm tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình làm giảm một phần ba số tử vong mẹ. Tuy nhiên, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình vẫn nằm ngoài khả năng tiếp cận của nhiều người, đặc biệt là người nghèo, nhóm dân số thiệt thòi và tuổi trẻ. Ước tính có hơn 200 triệu phụ nữ muốn sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn và hiệu quả nhưng không tiếp cận được với dịch vụ. Cung cấp đầy đủ, không gián đoạn các biện pháp tránh thai là nền tảng của tất cả các chương trình kế hoạch hóa gia đình và dịch vụ, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giảm nhu cầu chưa được đáp ứng về kế hoạch hóa gia đình. Những rào cản về chi phí, hướng dẫn và thực hành y tế thiếu căn cứ, thông tin sai lệch, thiên vị của người người cung cấp dịch vụ, thiếu hụt nguồn nhân lực, các rào cản xã hội và tôn giáo đã ngăn cản phụ nữ và nam giới thực hiện quyền con người cơ bản của mình là sinh con theo mong muốn và khoảng thời gian sinh con. 

Khuyến nghị:

1. Khẳng định vị thế của kế hoạch hóa gia đình là một ưu tiên trong chương trình nghị sự phát triển quốc gia và quốc tế.

2. Cần tăng nỗ lực gấp đôi và xây dựng trên cơ sở tiến bộ đã đạt được để mang thai và sinh con an toàn, giảm tử vong và mắc bệnh của bà mẹ bằng cách tăng cường các can thiệp y tế bao gồm việc sinh đẻ có sự hỗ trợ của người đỡ đẻ có kỹ năng  và cấp cứu sản khoa.

3. Mở rộng việc cung cấp chăm sóc sản khoa toàn diện và tăng cường vai trò của các nhà cung cấp chăm sóc y tế có tay nghề, trong đó có nữ hộ sinh, y tá được đào tạo trước khi làm việc và đào tạo tại chức, luân chuyển vị trí, nhiệm vụ, thực hiện các chính sách ưu đãi và giữ chân cán bộ để sử dụng hiệu quả tiềm năng của họ. Mở rộng kế hoạch hóa gia đình trong các cộng đồng địa phương; mở rộng và nâng cấp đào tạo chính thức và phi chính thức về chăm sóc sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình cho tất cả các nhân viên y tế, cán bộ giáo dục y tế và các nhà quản lý, bao gồm cả đào tạo truyền thông trực tiếp và tư vấn.

4. Rà soát và dần loại bỏ các rào cản đối với khả năng tiếp cận và khả năng chi trả để cải thiện quyền tiếp cận dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và thu hẹp bất bình đẳng giữa người giàu và người nghèo trong việc tiếp cận dịch vụ.

5. Thực hiện từng bước để đảm bảo rằng nam giới, phụ nữ và thanh niên có thông tin và tiếp cận với nhiều lựa chọn các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn, hiệu quả, giá cả phải chăng và chấp nhận được.

6. Bảo đảm cung cấp biện pháp tránh thai đầy đủ và không gián đoạn bằng cách tăng cường an ninh hàng hóa sức khỏe sinh sản và hệ thống thông tin quản lý hậu cần.

7. Giải quyết sự bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ y tế, bao gồm cả sức khỏe sinh sản và kế hoạch hoá gia đình bằng cách đánh giá lại vấn đề quản lý và thực hiện các chính sách như thiết lập bảo hiểm xã hội/các cơ chế an ninh.

8. Giải quyết nhu cầu sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản, bao gồm nhu cầu thông tin, tư vấn và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho các đối tượng, đặc biệt là vị thành niên và thanh niên.

III. Tài chính và nguồn nhân lực để cải thiện Kế hoạch hóa gia đình và Sức khỏe bà mẹ

Kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe bà mẹ là những nội dung trọng tâm của sức khoẻ sinh sản. Đảm bảo tiếp cận phổ cập và bền vững với các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình được lồng ghép trong khuôn khổ rộng lớn hơn về sức khỏe sinh sản đòi hỏi hệ thống y tế mạnh, công bằng, có trách nhiệm và được cung cấp đầy đủ nguồn lực. Xác định đúng vị trí quan trọng của sức khoẻ sinh sản trong hệ thống y tế là một nội dung của chiến lược quốc gia về phát triển và giảm nghèo sẽ rất cần thiết để bổ sung nguồn nhân lực và tài chính cho kế hoạch hóa gia đình và sức khoẻ bà mẹ.

Hiện nay, mức độ đầu tư y tế, đặc biệt đối với sức khỏe sinh sản ở nhiều nước không đủ và cũng không công bằng. Đầu tư vào SKSS/KHHGĐ cần được tiếp tục tăng cường, đồng thời sử dụng các nguồn lực phải hiệu quả hơn để tối đa hóa tác động của các khoản đầu tư cho y tế.

Chương trình Hành động của Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) kêu gọi tất cả các nước thực hiện các biện pháp cần thiết để đáp ứng các nhu cầu kế hoạch hóa gia đình của người dân càng sớm càng tốt và để đảm bảo sự tiếp cận rộng rãi các biện pháp kế hoạch hóa gia đình an toàn và tin cậy vào năm 2015.

Khuyến nghị:

1. Các dịch vụ sức khoẻ tình dục và sức khỏe sinh sản, bao gồm cả kế hoạch hóa gia đình cần được cung cấp rộng rãi trong khuôn khổ quyền con người, coi đây là nội dung trọng tâm của dịch vụ y tế;

2. Giải quyết bình đẳng giới, công bằng và tiếp cận công bằng với các dịch vụ y tế bao gồm cả sức khỏe sinh sản và kế hoạch hoá gia đình cho người nghèo và những đối tượng thiệt thòi (phụ nữ, thanh niên, dân tộc thiểu số);

3. Loại bỏ các rào cản chính sách không cần thiết để cung cấp dịch vụ tránh thai; cung cấp dịch vụ nạo phá thai an toàn và dễ tiếp cận, nơi mà nạo phá thai được pháp luật cho phép; giải quyết các rào cản văn hóa, tôn giáo đối với kế hoạch hóa gia đình;

4. Khuyến khích sản xuất trong nước các biện pháp tránh thai thích hợp và tiến hành nghiên cứu nhiều biện pháp tránh thai hiệu quả cao;

5. Tăng cường sự tham gia hợp tác khu vực công và tư (bao gồm cả các trường đại học, các nhà đầu tư, các chuyên gia, đối tác phát triển, khu vực tư nhân, cộng đồng), đặc biệt là chuyển giao công nghệ, đổi mới và mở rộng các nguồn lực;

6. Xây dựng, củng cố và mở rộng quy mô cơ chế bảo vệ xã hội, thiết lập các mạng lưới an sinh và bảo vệ mức tối thiểu tiếp cận các dịch vụ thiết yếu và bảo đảm thu nhập cho mọi người;

7. Thu hút sự tham gia của cộng đồng và lãnh đạo (bao gồm các nhà lãnh đạo tôn giáo và cộng đồng) để đáp ứng các nhu cầu về sức khỏe nói chung và sức khỏe tình dục, SKSS nói riêng nhằm phối hợp cung cấp các dịch vụ ;

8. Thông qua chiến lược truyền thông về kế hoạch hóa gia đình quốc gia; Thông tin-Giáo dục-Truyền thông về ngừa thai, và hỗ trợ tuyên truyền vận động đối với các đại biểu Quốc hội;

9. Nâng cao quyền, vị thé cho phụ nữ, bao gồm cả phụ nữ trẻ, với những kiến thức và sự lựa chọn về các dịch vụ và hàng hóa sức khỏe tình dục và sức khỏe sinh sản;

10. Tăng cường sử dụng "cán bộ y tế mở rộng" và huy động cán bộ xã hội tại cộng đồng;

11. Các nước phải cam kết tăng ngân sách cho việc thực hiện các chương trình DS/KHHGĐ/SKSS;

12. Hợp tác Nam-Nam không phải để thay thế cho hỗ trợ phát triển quốc tế mà cần tăng cường nỗ lực để tiếp tục hỗ trợ huy động nguồn lực cho hợp tác Nam-Nam và hợp tác đa phương;

13. Các nhà tài trợ quốc tế cần làm hết sức mình để tăng hỗ trợ phát triển quốc tế và đáp ứng mục tiêu đã được cộng đồng quốc tế đồng thuận ở mức tối thiểu là 0,7% của GNP;

14. Trợ giúp quốc tế là nguồn lực bổ sung rất cần thiết cho những nước nghèo có khó khăn trong việc đạt được MDGs. Ngoài ra, những nỗ lực lớn hơn cần được thực hiện để huy động nguồn lực cho các nước này thông qua phương thức hợp tác Nam-Nam;

15. Tăng cường quản lý đối với kết quả và trách nhiệm chung ở tất cả các cấp; tăng quy mô nguồn nhân lực, tài chính và vật chất cho sức khỏe tình dục và SKSS và sử dụng nguồn lực hiệu quả và kinh tế hơn.

IV.Thúc đẩy hợp tác Nam-Nam

Ngày nay khả năng nâng cao và tăng cường hợp tác Nam-Nam lớn hơn bao giờ hết. Nó được phản ánh bởi thực tế là số quốc gia tham gia Liên minh ngày càng tăng cường hỗ trợ của họ cho hợp tác Nam-Nam và đã bắt đầu phân bổ nguồn lực cho việc cung cấp học bổng và cung cấpthiết bịvà hàng hóa sức khoẻ sinh sản. Trong nhiều thập kỷ, các nước này cũng đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, kiến thức và chuyên môn trong kế hoạch và thực hiện các biện pháp can thiệp để cải thiện sức khỏe bà mẹ và kế hoạch hóa gia đình; đã xây dựng được cơ sở đào tạo chuẩn thế giới và làm cho hợp tác Nam-Nam được thúc đẩy hơn và hiệu quả hơn.

Chương trình Hành động ICPD nhấn mạnh mong muốn của các nước đang "học hỏi những kinh nghiệm và thông qua những phương thức khác nhau”. Tầm quan trọng của hợp tác Nam-Nam trong việc thực hiện Chương trình hành động đã được tiếp tục ghi nhận tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng LHQ trong kiểm điểm năm năm. Trong báo cáo "Các biện pháp để tiếp tục thực hiện Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển" đã nhấn mạnh rằng "kinh phí và hỗ trợ từ các nước tài trợ cũng như khu vực tư nhân cần được cung cấp để duy trì đầy đủ tiềm năng của hợp tác Nam-Nam, bao gồm cả sáng kiến Nam-Nam: Đối tác Dân số và Phát triển để tăng cường chia sẻ kinh nghiệm liên quan và việc huy động chuyên môn kỹ thuật và các nguồn lực khác giữa các nước đang phát triển "(đoạn 88).

Trong mười lăm năm qua, PPD đã thúc đẩy việc thực hiện Chương trình Hành động ICPD thông qua đối thoại chính sách, chia sẻ kinh nghiệm, thúc đẩy an ninh hàng hóa sức khỏe sinh sản, xây dựng năng lực quốc gia và củng cố các tổ chức quốc gia về đào tạo thông qua phương thức hợp tác Nam-Nam. Để cải thiện việc giám sát, PPD đã thiết lập cơ chế định kỳ thu thập thông tin về các sản phẩm và dịch vụ trao đổi giữa các nước thành viên và các nước không thành viên. PPD thu thập giới thiệu các bài học kinh nghiệm tốt nhất để chia sẻ giữa các nước thành viên và với các nước khác. PPD đã phát triển các mô-đun chung về các vấn đề cụ thể để đưa vào các chương trình đào tạo của các tổ chức đối tác của PPD.

Khuyến nghị:

1. Nâng cao vai trò của hợp tác Nam-Nam để tăng cường sức khoẻ tình dục và sức khoẻ sinh sản bao gồm cả chương trình kế hoạch hóa gia đình tại các nước thành viên và các nước không thành viên.

2. Tăng cường năng lực cho các tổ chức của các nước thành viên PPD để tạo điều kiện trao đổi kinh nghiệm, các biệp pháp thực hiện tốt nhất và đào tạo trao đổi giữa các nước thành viên và các nước không thành viên.

3. Sử dụng phương thức hợp tác Nam-Nam cung cấp các phương tiện tránh thai và chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia của Liên minh và với các nước không thành viên.

V. Cam kết và Tương lai

Kêu gọi Chính phủ các nước:

1. Đẩy nhanh tiến độ để đạt được bình đẳng giới và tăng quyền năng cho phụ nữ như đã cam kết trong kiểm điểm 10 năm thực hiện MDG.

2. Đầu tư vào đào tạo người đỡ đẻ có kỹ năng, chăm sóc sơ sinh và tăng cường tiếp cận chăm sóc cấp cứu sản khoa.

3. Tăng cường quyền năng cho những cộng đồng không có cán bộ có kỹ năng để đảm bảo việc tiếp cận rộng rãi với kế hoạch hóa gia đình tự nguyện và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, đặc biệt là ở những nơi có nguồn lực hạn chế.

4. Xác định và giảm bớt các rào cản không cần thiết đối với kế hoạch hoá gia đình; ưu tiên cho kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe bà mẹ và đảm bảo đó là những nội dung trọng tâm của kế hoạch quốc gia, chính sách, chiến lược, chương trình xóa đói giảm nghèo và phát triển.

5. Bố trí đủ kinh phí cho kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe bà mẹ thông qua các cơ chế như thành lập dòng ngân sách ưu tiên cho các hàng hóa sức khoẻ sinh sản; tăng đầu tư ngân sách quốc gia cho y tế lên 15% và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực sẵn có để đảm bảo sự tiếp cận công bằng.

6. Khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức xã hội dân sự để tăng cường tiếp cận kế hoạch hóa gia đình và sức khoẻ bà mẹ.

7. Tuyên truyền vận động cho việc tăng cường và hỗ trợ hợp tác Nam-Nam như một chiến lược ưu tiên, hiệu quả để thúc đẩy việc đạt được các Mục tiêu MDGs và ICPD.

Kêu gọi các đối tác phát triển:

            Cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và tài chính để thúc đẩy hợp tác Nam-Nam thông qua chương trình của các quốc gia.




*
Tổng cục Dân số - KHHGĐ.