CÓ CON TRAI VÀ GIỮ GIA ĐÌNH QUY MÔ NHỎ:

THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH VIỆT NAM

TS. KHUẤT THU HỒNG*


Giới thiệu

Tỉ số giới tính khi sinh tự nhiên dao động từ 104 đến 106 bé trai trên 100 bé gái. Tuy nhiên từ giữa những năm 1980, ở một số nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương bao gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và Ấn Độ đã quan sát thấy sự gia tăng của tỉ số giới tính khi sinh (UNFPA, 2010). Xu hướng gia tăng tỉ số giới tính khi sinh (TSGTKS) cũng được quan sát thấy ở Việt Nam trong những năm gần đây. Theo một nghiên cứu do UNFPA thực hiện với số liệu của Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 2009 đã cho thấy tỉ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 110 tính cho giai đoạn từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 3 năm 2009 (UNFPA, 2010). Một phân tích tổng quan các tài liệu về tỉ số giới tính khi sinh ở khu vực Đông và Nam Á với trọng tâm là Việt Nam đã xác định những khoảng trống trong kiến thức về chủ đề này ở Việt Nam và đưa ra một số gợi ý về việc triển khai các nghiên cứu phục vụ chính sách. Cả phân tích TĐTDS và tổng quan tài liệu đều khuyến nghị rằng cần phải triển khai một nghiên cứu định tính để bổ sung những kiến thức còn thiếu về các xu hướng của TSGTKS thông qua việc tìm hiểu về các yếu tố văn hóa, xã hội đang tác động đến TSGTKS.

Nghiên cứu đã đặt ra những câu hỏi sau:

  1. Những yếu tố văn hóa, xã hội và chính trị nào tác động đến tâm lý ưa thích con trai, nói cách khác, vì sao con trai được mong đợi nhiều hơn trong gia đình Việt Nam?
  2. Quá trình đi đến thực hành lựa chọn giới tính đã xảy ra như thế nào?
  3. Áp lực phải sinh được con trai đã khiến gia đình Việt Nam phải đối mặt với hệ lụy gì?
  4. Tại sao công nghệ bị sử dụng cho mục đích lựa chọn giới tính?
  5. Những giải pháp chính sách và can thiệp nào có thể áp dụng để ổn định tỉ số giới tính khi sinh?

Cuộc nghiên cứu được thực hiện năm 2010 tại Hà Nội, Hưng Yên, Quảng Ngãi và Cần Thơ. Theo kết quả phân tích Tổng Điều tra Dân số 2009, cả bốn địa phương này đều được xác định là có tình trạng gia tăng tỉ số giới tính khi sinh, nhưng mức độ khác nhau. Đây là một nghiên cứu định tính với 248 người được phỏng vấn hoặc tham gia thảo luận nhóm, bao gồm 48 cán bộ lãnh đạo quản lý từ cấp tỉnh đến cấp cộng đồng; 48 phụ nữ và 47 nam giới trong độ tuổi sinh đẻ có từ 1 con đến 4 con với đứa con cuối cùng sinh trong khoảng từ năm 2006 đến 2009, trong đó 48 người chưa có con trai; 28 ông bà nội trong đó 16 người chưa có cháu trai; 32 bác sĩ và y tá sản làm việc trong các bệnh viện nhà nước hoặc cơ sở y tế tư nhân và 34 khách hàng tại các cơ sở đó.

Kết quả nghiên cứu

1. Chế độ phụ hệ làm nảy sinh và củng cố tâm lý ưa thích con trai

Tâm lý ưa thích con trai bắt nguồn từ những quy tắc của chế độ phụ hệ và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt mà hiện nay vẫn còn rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở phía Bắc. Theo những quy tắc đó, con trai có vai trò và trách nhiệm tiếp nối dòng dõi gia đình, chăm sóc cha mẹ khi tuổi già, duy trì tài sản và tiếp tục sự nghiệp của gia đình. Vai trò của con gái khi còn nhỏ là giúp đỡ cha mẹ tuy nhiên sau khi kết hôn vai trò của người phụ nữ là hỗ trợ người chồng thực hiện vai trò của người con trai đối với gia đình nhà chồng. Những quy tắc của chế độ phụ hệ về thừa kế tài sản, thờ cúng tổ tiên cùng với mô hình định cư bên nội của chế độ phụ hệ đã hạn chế vai trò của người con gái đối với gia đình cha mẹ đẻ. Mặc dù vậy, con gái được đánh giá rất cao trong tất cả các địa bàn nghiên cứu và trong một số gia đình, nhất là ở phía Nam con gái được cho là có thể thực hiện tốt vai trò của con trai. Hầu hết các gia đình đều chuẩn bị các chiến lược để giải quyết tình huống không có con trai bao gồm cả việc cha mẹ già sống chung với con gái và con rể hoặc sống độc lập nhưng có sự quan tâm chăm sóc của các con. Việc con gái thờ cúng tổ tiên cũng đã có tiền lệ và có thể chấp nhận được, nhất là khi mô hình gia đình hạt nhân và sinh sống riêng ngày càng trở nên phổ biến.

      2. Áp lực vừa có ít con vừa phải có con trai dẫn đến lựa chọn giới tính

Trong bối cảnh mức sinh giảm và những thay đổi kinh tế-xã hội trong nhưng thập kỷ gần đây, quy mô gia đình nhỏ đã trở thành một chuẩn mực được chấp nhận rộng rãi. Tuy nhiên, cách tổ chức gia đình vẫn chủ yếu tuân theo các quy tắc của chế độ phụ hệ. Vai trò của con trai và con gái hầu như không thay đổi. Vì thế các gia đình cố gắng thu xếp để đạt được cả hai mục đích: có ít con và có con trai. Đạt được cả hai mục đích cùng một lúc có nghĩa là thành công. Giờ đây đứa con trai không chỉ gắn liền với những vai trò trông đợi truyền thống mà còn là biểu tượng của sự thành công. Áp lực phải thành công đè nặng lên cả gia đình. Đối với ông bà nội ngoại, đứa cháu trai là bằng chứng về phúc đức của gia đình cả hai bên. Do đó không ít trường hợp họ can thiệp khá sâu vào quyết định sinh đẻ của cặp vợ chồng. Đối với người đàn ông, đứa con trai khẳng định nam tính, sự thành đạt và là minh chứng về lòng hiếu thảo của anh ta với cha mẹ và tổ tiên. Sự thúc ép của cha mẹ, sự khích bác của bạn bè và sự dằn vặt của trách nhiệm đã đẩy người đàn ông đi đến quyết định phải sinh bằng được con trai, nhiều khi với tâm trạng cay cú, ăn thua. Tuy nhiên, phụ nữ mới chính là người phải chịu nhiều tầng áp lực nhất. Giá trị của họ giờ đây được đo bằng khả năng "biết đẻ" con trai. Những cố gắng của họ để làm tròn trách nhiệm với gia đình nhà chồng chỉ được thừa nhận nếu họ sinh được con trai. Vị thế của họ có thể sẽ bị đe dọa nếu họ chỉ sinh toàn con gái. Vì thế trong một số trường hợp khi phụ nữ lại là người quyết tâm nhất để sinh bằng được con trai.

Dưới những áp lực như vậy, nhiều gia đình đã xây dựng các chiến lược để sinh bằng được con trai. Các biện pháp "truyền thống" và "hiện đại" đều được áp dụng. Tuy nhiên, công nghệ siêu âm mới thực sự là "cứu cánh" cho những người quyết tâm phải "thành công": có ít con và có con trai. Vì thế, các chiến lược sinh đẻ, kể cả công nghệ có thể đã được áp dụng để đảm bảo "thành công" ngay từ lần sinh thứ nhất và để giải tỏa tâm lý cho cả gia đình đối với lần sinh thứ hai. Nếu đứa con đầu lòng là con gái thì một kế hoạch chi tiết bao gồm cả chế độ dinh dưỡng, thuốc men, theo dõi chu kỳ rụng trứng, thời điểm và tư thế giao hợp sẽ được áp dụng cho lần mang thai thứ hai. Sau đó là siêu âm nhiều lần và quyết định giữ thai hay chấm dứt mang thai tùy theo giới tính của thai nhi và tùy theo mức độ áp lực trong gia đình. Có thể nói, sự căng thẳng trong gia đình bắt đầu ngay từ khi người phụ nữ mang thai lần đầu tiên và sẽ tiếp tục kéo dài cho đến khi đứa con trai mong ước xuất hiện.

  1. Áp lực phải có con trai đã củng cố bất bình đẳng giới và dẫn đến những căng thẳng và dằn vặt kéo dài trong gia đình

Áp lực phải có con trai đã dẫn đến nhiều hệ lụy. Trước hết, nó củng cố bất bình đẳng giới trong nhiều gia đình. Con gái có thể bị phân biệt đối xử ngay từ khi còn là bào thai. Con trai được khao khát mãnh liệt và vì thế khi ra đời được hưởng sự nuôi dưỡng tốt hơn. Trong một số gia đình vì cha mẹ giành hết tâm lực theo đuổi mục đích sinh con trai nên không quan tâm chăm sóc con gái khiến chúng ít được học hành và phải tham gia lao động từ nhỏ. Bạo lực gia đình có thể xảy ra chỉ vì không có con trai. Người phụ nữ chỉ sinh được con gái nhiều khi bị chồng và gia đình nhà chồng hắt hủi, chê trách, đánh đập và bị đe dọa là sẽ bị thay thế bởi người phụ nữ khác. Họ không yên tâm làm ăn kinh tế và bất chấp điều kiện sức khỏe của người phụ nữ, mải mê theo đuổi mục đích sinh con trai. Một mặt, họ ý thức được rằng có ít con là tuân thủ chính sách của nhà nước đồng thời có điều kiện để nuôi dạy các con được tốt hơn. Khi theo đuổi mục đích sinh bằng được con trai họ cảm thấy vừa không làm tròn trách nhiệm công dân vừa có thể rơi vào nguy cơ là không đủ điều kiện nuôi dạy các con thật tốt. Áp lực phải có con trai quả thật đã đặt nhiều gia đình vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Vì thế, dù đã quyết định sẽ áp dụng "khoa học" để sinh được con trai nhưng không ít người thoát được sự dằn vặt là đã vi phạm chuẩn mực gia đình nhỏ.

  1. Kiểm soát sử dụng công nghệ siêu âm để hạn chế lựa chọn giới tính là một thách thức lớn cả về chính sách và thực hiện chính sách

Công nghệ siêu âm với khả năng phát hiện giới tính thai nhi đã xuất hiện đúng vào thời điểm mức sinh giảm mạnh nhưng con trai vẫn tiếp tục được mong đợi, thậm chí còn được khao khát mãnh liệt hơn khi các cặp vợ chồng chấp nhận quy mô gia đình nhỏ. Siêu âm xác định giới tính đã giúp các gia đình thực hiện hành vi sinh đẻ của mình nhằm sinh bằng được con trai. Nhu cầu biết giới tính thai nhi của khách hàng được kích thích bởi khả năng của máy siêu âm đã tạo áp lực lớn đối với những người cung cấp dịch vụ. Đi kèm với xu hướng tư nhân hóa ngày càng mạnh là sự cạnh tranh ngày càng lớn giữa các cơ sở y tế, nhất là ở khu vực tư nhân. Kết quả là các cơ sở y tế buộc phải đầu tư ngày càng nhiều cho phương tiện khám chữa bệnh. Khi phương tiện càng nhiều, càng hiện đại thì càng thu hút được nhiều khách hàng. Trong mối quan hệ cung – cầu như vậy, xu hướng thương mại hóa dịch vụ siêu âm là không tránh khỏi. Việc thực hiện nghị định 114/NĐ-CP/2006 và các quy định của Bộ Y tế về việc nghiêm cấm các dịch vụ xác định giới tính thai nhi và nạo phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính đã chứng tỏ là ít hiệu quả hơn mong đợi. Theo kết quả nghiên cứu, những lý do chính của tình trạng này là thiếu các biện pháp để giám sát và các chế tài để xử lý các vi phạm, việc kiểm soát khu vực y tế tư nhân còn yếu, nhiều cán bộ y tế còn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của vấn đề.

Khuyến nghị

  1. Thay đổi một số quy tắc phụ hệ để dẫn đến thay đổi trong quan niệm về vai trò của con trai và con gái, dẫn đến bình đẳng giới. Các hoạt động cụ thể bao gồm:
  2. Rà soát, cải thiện và xây dựng các chính sách hỗ trợ bình đẳng giớinhư Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Đất đai, Luật Thừa kế…để xác định những điểm cần nhấn mạnh, điều chỉnh, bổ sung nhằm:
  3. Khuyến khích con gái tiếp nối dòng dõi gia đình và thờ cúng tổ tiên
  4. Khuyến khích cha mẹ già sống chung với con gái và tạo điều kiện cho con gái chăm sóc cha mẹ già
  5. Khuyến khích thực hiện chia tài sản một cách công bằng và hợp lý cho con trai và con gái
  6. Cho phép các con có thể mang họ cha hoặc của mẹ
  7. Tăng cường các hoạt động phổ biến, giám sát và hỗ trợ thực hiện luật phòng chống bạo lực gia đình
  8. Đề cao giá trị của bé gái/phụ nữ
  9.  Cải thiện hệ thống an sinh xã hội. Các hoạt động cụ thể là:
  10. Rà soát lại các chính sách an sinh xã hội cho người cao tuổi
  11. Chính sách bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế cho người cao tuổi
  12. Chăm sóc hỗ trợ người cao tuổi tại cộng đồng
  13. Các trung tâm nuôi dưỡng chăm sóc người cao tuổi
  14.  Kiểm soát các dịch vụ y tế có thể bị lạm dụng cho lựa chọn giới tính
  15. Nâng cao nhận thức cho người dân để giảm nhu cầu lựa chọn giới tính thai nhi
  16. Nâng cao nhận thức cho người cung cấp dịch vụ về tầm quan trọng của mất cân bằng giới tính khi sinh
  17. Tổ chức thảo luận lấy ý kiến của các cán bộ y tế về các biện pháp hỗ trợ thực hiện và giám sát thực hiện các quy định pháp lý
  18. Khuyến khích sự cam kết của cán bộ y tế không tiết lộ giới tính thai nhi
  19. Tăng cường hiệu lực của các chế tài
  20.  Xây dựng chương trình truyền thông toàn diện

Về nội dung truyền thông, các ý kiến tập trung vào các hoạt động như:

  • Nâng cao nhận thức của người dân về tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và hậu quả của nó
  • Xây dựng hình tượng các em gái/người phụ nữ thành đạt trên các phương tiện truyền thông
  • Ủng hộ và khuyến khích việc con gái thờ cúng tổ tiên
  • Ủng hộ và khuyến khích cha mẹ già sống chung với con gái và con rể
  • Lồng ghép nội dung về vấn đề giới tính khi sinh vào các hoạt động nâng cao nhận thức về bình đẳng giới

Đối tượng truyền thông bao gồm:

  • Nam giới; phụ nữ; cha mẹ hai bên; cộng đồng bao gồm cả hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp ở nơi làm việc

Biện pháp truyền thông bao gồm:

  • Lồng ghép vào các hoạt động hiện có: họp tổ dân phố, họp cơ quan/xí nghiệp
  • Tổ chức các chiến dịch truyền thông
  • Xây dựng các sản phẩm giải trí nhưng có nội dung truyền thông về bình đẳng giới có chất lượng cao, ví dụ như phim truyền hình nhiều tập xây dựng theo phương pháp Sabido tạo quá trình nhập tâm của khán giả qua đồng nhất mình với nhân vật trong phim dần dần đi đến sự thay đổi trong nhận thức và hành vi.
  • Các nhà lãnh đạo cao cấp tham gia các hoạt động truyền thông, kể cả các nhà lãnh đạo nam và các lãnh đạo nữ, đưa ra những lời phát biểu khuyến khích các tấm gương điển hình, kêu gọi cộng đồng thay đổi nhận thức và hành vi.
  • Huy động sự tham gia của những người "trong cuộc" để chia sẻ kinh nghiệm vượt qua áp lực phải sinh con trai.


*
Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội.