THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM VỚI VIỆC TIẾP CẬN VÀ SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

 


Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ hai (SAVY 2) năm 2009 là cuộc điều tra toàn diện về nhiều vấn đề khác nhau của thanh thiếu niên: giáo dục, lao động, việc làm, tình dục và sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tâm thần, tai nạn, thương tích và bệnh tật, truyền thông, hành vi, ước muốn, hoài bão... SAVY 2 được tiến hành với 10.044 vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14-25 tại 63 tỉnh/thành phố (mẫu nghiên cứu ở SAVY 1 năm 2003 là 7.584 vị thành niên và thanh niên tại 42 tỉnh/thành).Bài viết này phân tích tình hình  tiếp cận và xu hướng sử dụng các phương tiện truyền thông (PTTT) đại chúng của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nay cũng như những thay đổi qua hai cuộc điều tra.

Kết quả nghiên cứu

1. Sở hữu PTTT của thanh thiếu niên: So với SAVY 1, tỷ lệ hộ gia đình thanh, thiếu niên sở hữu các PTTT như tivi, đầu VCD/DVD, máy tính và đặc biệt là điện thoại di động ở SAVY 2 tăng lên đáng kể, và chỉ có radio/cát sét trong SAVY 2 là giảm so với SAVY 1 (Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1: Sở hữu các PTTT của gia đình thanh, thiếu niên, SAVY 1 và SAVY 2

Sự khác biệt lớn trong sở hữu PTTT giữa khu vực thành thị và nông thôn không phải bởi những PTTT thông dụng (ti vi, đầu radio, đầu DVD) mà  ở những PTTT đắt tiền và đòi hỏi cơ sở hạ tầng kỹ thuật cao như máy tính (47% và 12%),  internet (32% và 4%) hay điện thoại di động (91% và 76%).

Kết quả của SAVY2 phản ánh rõ rệt sự phân tầng kinh tế - xã hội trong tầng lớp thanh thiếu niên. Cụ thể, tỷ lệ các hộ gia đình sở hữu máy vi tính trong nhóm mức sống thấp và mức sống cao tương ứng là 0,9% và 46,9%; internet là 0,3% và 25,2%; điện thoại di động là 47,7% và 97,8%.

2. Sử dụng PTTT đại chúng của thanh niên:Tỷ lệ thanh thiếu niên sử dụng các PTTT phổ cập như: truyền hình, VCD/DVD, đài, báo chí và internet tăng rõ rệt, đặc biệt là internet là phương tiện có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất từ 17% (SAVY 1) lên 61% (SAVY 2). Có sự khác biệt về đặc trưng nhân khẩu học xã hội của thanh, thiếu niên trong việc tiếp cận và sử dụng các PTTT đại chúng. Mức độ tiếp cận và sử dụng nói chung và nhất là những phương tiện hiện đại vẫn có xu hướng nghiêng về tầng lớp có mức sống khá, có trình độ học vấn cao.

3. Các hình thức giải trí của thanh thiếu niên trong thời gian rỗi:Xem ti vi là hình thức giải trí mà các thanh thiếu niên sử dụng nhiều nhất trong thời gian rỗi (90,8%), tiếp sau đó là nghe nhạc (90,8%) và đọc sách/báo/tạp chí (90,8%). Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể nam thanh niên, nhất là khu vực thành thị hiện đang tham gia vào những hoạt động thiếu lành mạnh và có hại cho sức khoẻ, ví dụ gần 8% số nam thanh niên thành thị tham gia vào cờ bạc và 44% uống rượu bia. Các phân tích sâu hơn cho thấy sự khác biệt lớn nhất giữa nam và nữ là ở các hoạt động thiếu lành mạnh như uống rượu bia, đánh bạc với tỷ lệ nam giới uống rượu với bạn bè trong thời gian rỗi cao hơn khoảng 5 lần so với nữ và đánh bạc nhiều hơn gấp khoảng 4 lần.

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng PTTT đại chúng:Đối với mỗi PTTT có các yếu tố ảnh hưởng mức độ khác nhau. Xem truyền hình ở nữ giới chỉ bằng 0,69 lần so với nam giới, trình độ học vấn càng cao tỷ lệ xem truyền hình càng cao.

Đối với việc sử dụng internet, các yếu tố giới tính, nhóm tuổi, khu vực sống, dân tộc, tình trạng hôn nhân và điều kiện sống là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng internet của thanh, thiếu niên hiện nay (tỷ lệ sử dụng internet của nữ chỉ bằng 0,7 lần so với nam, tỷ lệ sử dụng internet của thanh niên nông thôn chỉ bằng một nửa so với thanh thiếu niên thành thị và của thanh, thiếu niên dân tộc thiểu số chỉ bẳng 1/3 so với dân tộc Kinh/Hoa).

Các yếu tố Biến so sánh Xem truyền hình Nghe đài Đọc báo Internet
Giới tính Nam Nữ 0,69 0,57   0,65
Khu vực Thành thị Nông thôn   1,18 0,59 0,48
Nhóm tuổi 14 – 17 18 - 21   1,09* 0,80 0,64
22 - 25   1,28 0,93* 0,38
Học vấn Không đi học Cấp I 2,72 1,67    
Cấp II 4,99 2,58    
Cấp III 7,49 2,31    
Trung cấp 9,76 2,37    
CĐ/ĐH trở lên 8,77 2,07    
Dân tộc Kinh, Hoa Dân tộc khác 0,73 0,54 0,78 0,31
Mức sống Mức sống thấp Mức sống trung bình 1,93 1,0* 1,35 1,98
Mức sống cao 2,15 1,54 2,11 3,10
Hôn nhân Đã từng kết hôn Chưa từng kết hôn     0,63 0,49

 

Bảng 1: Các yếu tác động tới việc sử dụng PTTT đại chúng

Ghi chú: * p>0.05

5. Tiếp cận nội dung thông tin trên các PTTTđại chúng:Thanh, thiếu niên nghe đài hiện nay vẫn quan tâm đến các vấn đề thời sự chính trị, xã hội, (42%), văn hóa, văn nghệ chiếm vị trí thứ hai (37%). Các chương trình có nhiều thông tin và bổ sung kiến thức hữu ích cho thanh thiếu niên nói riêng và cho xã hội nói chung lại rất ít được thanh thiếu niên quan tâm như: Thông tin lao động việc làm, tin học và cuộc sống, khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường, hoặc tư vấn pháp luật. Đáng lưu ý là thanh niên nông thôn lại hầu như không xem chương trình "Nông nghiệp và Nông thôn" trong khi họ là lứa tuổi lao động chính ở khu vực này và đang rất cần trang bị và cập nhật kiến thức.

6. Các nguồn thông tin về việc làm của thanh, thiếu niên: Đối với vấn đề lao động việc làm, chỉ có 3% trong số được hỏi nghĩ rằng có thể tìm việc làm qua internet, và 4% cho rằng có thể tìm việc làm qua quảng cáo trên các PTTT đại chúng khác. Nguồn thông tin về việc làm đối với đa số thanh niên vẫn chủ yếu là do bạn bè, người thân giới thiệu (24%), tại trung tâm tư vấn/xúc tiến/giới thiệu việc làm (20%), tại các doanh nghiệp/công ty (19%), và tại các cơ sở dạy/đào tạo nghề tại chỗ (11%).

7. Các nguồn thông tin về kiến thức SKSS, HIV/AIDS của thanh, thiếu niên:Trong SAVY 2, truyền hình có vai trò quan trọng nhất trong việc cung cấp các thông tin kiến thức về SKSS cho thanh, thiếu niên. Khoảng 65% thanh, thiếu niên cho biết họ tiếp cận với nguồn thông tin qua truyền hình. Tiếp theo là sách/báo (40%). Tỷ lệ thanh, thiếu niên nhận các thông tin từ internet nhìn chung là còn ít do tỷ lệ sử dụng thấp và tập trung hơn cho một số hoạt động khác như chat hoặc chơi game.

Đối với thông tin về HIV và AIDS, các PTTT đại chúng cũng đóng vai trò quan trọng gần như tuyệt đối với việc cung cấp kiến thức cho thanh, thiếu niên. Có đến 90% thanh, thiếu niên nghe về HIV từ truyền hình, 63% biết từ sách/báo/tạp chí/tờ rơi/tờ bướm, 34% từ đài. Vai trò của internet tuy còn khiêm tốn (13%), song sẽ có nhiều thanh, thiếu niên biết về HIV/AIDS qua internet hơn khi nó ngày càng trở nên phổ biến. Chỉ có 7% thanh thiếu niên biết về HIV/AIDS từ các pano, áp phích.

Về các kênh thông tin trực tiếp, tại SAVY 2 các nguồn thông tin khác cung cấp kiến thức về sức khỏe sinh sản và HIV/AIDS như từ cán bộ chuyện môn, gia đình, bạn bè, các tổ chức xã hội đều có tỷ lệ thấp hơn rất nhiều so với SAVY 1 cách đây 5 năm. Ví dụ tỷ lệ thanh, thiếu niên nhận thông tin về HIV/AIDS qua cán bộ chuyên môn giảm từ 85,3% (SAVY 1) xuống còn 3,1 % (SAVY 2). Điều này cho thấy hiện nay có thể vẫn còn nhiều trở ngại trong truyền thông trực tiếp đến thanh, thiếu niên.

Có đến 31,4% thanh, thiếu niên không bao giờ nói chuyện với bất kỳ ai về tuổi dậy thì và tình dục. Tuy nhiên trong số thanh, thiếu niên có nói chuyện với người khác về tuổi dậy thì và tình dục, thanh, thiếu niên nói với bố mẹ có tỷ lệ cao nhất (45,6%), sau đó là bạn bè (11.9%) và thấp nhất là hàng xóm và giáo viên (0,1%).

Mặc dù internet đang trở nên ngày càng thông dụng trong giới trẻ, nhưng cũng chỉ có 8% thanh, thiếu niên tìm hiểu thông tin về mang thai và KHHGĐ qua internet.

Khi được hỏi về mức độ chủ động tìm hiểu thông tin về chủ đề này, chỉ có 42% thanh, thiếu niên trong SAVY 2 cho biết họ đã từng "nói chuyện với ai đó" về mang thai hay kế hoạch hóa gia đình. Tỷ lệ nữ chủ động nói chuyện với người khác về chủ đề này là 47% (nam là 37%).

8. Tác động của truyền thông đại chúng đối với thanh, thiếu niên

Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ những thanh, thiếu niên đọc báo có kiến thức về các biện pháp tránh thai hiện đại gấp 1,5 lần so với những thanh, thiếu niên không đọc báo và tỷ lệ này ở những thanh, thiếu niên sử dụng internet cũng gấp 2 lần so với thanh, thiếu niên không sử dụng internet.

Đối với kiến thức về các đường lây truyền HIV chỉ có xem tivi, đọc báo và sử dụng internet là có tác động có ý nghĩa thống kê lên kiến thức về các đường lây truyền HIV. Tỷ lệ những thanh, thiếu niên xem tivi thường xuyên có kiến thức gấp 1,3 lần so với những thanh, thiếu niên không xem tivi thường xuyên; tỷ lệ này ở những thanh, thiếu niên đọc báo thường xuyên là 1,2 lần so với thanh thiếu không đọc báo thường xuyên; những thanh, thiếu niên có sử dụng internet cũng gấp 1,4 lần so với những thanh, thiếu niên không sử dụng internet.

Khuyến nghị

Các PTTT đại chúng đến nay vẫn là kênh thông tin quan trọng nhất đối với thanh thiếu niên Việt Nam. Vì vậy, cần tận dụng tối đa các ưu thế của các loại phương tiện này để cung cấp thông tin, phổ biến kiến thức và định hướng về lối sống cho thanh thiếu niên, nhất là với các phương tiện đã trở thành rất phổ cập với đại đa số thanh thiếu niên như truyền hình, phát thanh, sách báo và internet.

Tăng cường số lượng các chương trình giáo dục giải trí dành riêng cho giới trẻ trên các PTTT đại chúng mà thanh niên thường sử dụng. Trước mắt kênh Khoa học giáo dục cần đổi mới chương trình để hấp dẫn được nhiều khán thính giả  trẻ hơn so với hiện nay.

Để xây dựng được các chương trình truyền thông tốt và hấp dẫn với thanh thiếu niên, cần có nhiều nghiên cứu về nhu cầu thông tin, sở thích cũng như xu hướng sử dụng các kênh truyền thông của những đối tượng này. Các nghiên cứu phải cần được tiến hành khá thường xuyên để giúp các nhà quản lý chương trình, các chuyên gia truyền thông nắm bắt và bổ sung được những thay đổi và tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin.

Trong hoạch định chiến lược chính sách giáo dục thanh thiếu niên, cần có sự phân định rõ các kênh thông tin thích hợp với các mục đích, nội dung giáo dục và đối tượng khác nhau để nâng cao tính hiệu quả cũng như bảo đảm sự tiếp cận thông tin bình đẳng của các nhóm thanh niên có hoàn cảnh kinh tế xã hội khác nhau.

NGUYỄN YÊN tóm tắt

Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Y tế Cộng đồng, Thanh thiếu niên Việt Nam với việc tiếp cận và sử dụng các phương tiện truyên thông đại chúng.