VỊ THÀNH NIÊN, THANH NIÊN CHƯA KẾT HÔN Ở VÙNG BIỂN, ĐẢO VÀ VEN BIỂN VỚI THÔNG TIN VỀ CHĂM SÓC SKSS/KHHGĐ

                                                                     TS. NGUYỄN THỊ MỸ TRANG*


Bài viết này đề cập tới “Vị thành niên, thanh niên chưa kết hôn ở vùng biển, đảo và ven biển nước ta hiện nay với thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình”. Số liệu được sử dụng là kết quả của đề tài “Khảo sát, đánh giá những yếu tố phong tục, tập quán và nghề nghiệp tác động tới thái độ, hành vi sinh sản, chăm sóc sức khỏe sinh sản của người dân vùng biển, đảo và ven biển Việt Nam” do Viện Xã hội học - Học Viện CT-HCQG Hồ Chí Minh và Ban quản lý “Đề án Kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển” của Tổng cục Dân số - KHHGĐ - Bộ Y tế thực hiện năm 2009 - 2010 .

VTN/TN chưa kết hôn được khảo sát tại 5 tỉnh: Quảng Ninh, Thừa thiên - Huế, Bình Định, Bà Rịa - Vũng Tàu và Kiên Giang với số lượng: 100 người/1 tỉnh. Trong 500 VTN/TN được khảo sát có 373 người đang đi học (tỉ lệ 74,6%) và 127 người đã đi làm (tỉ lệ 25,4%), với  216  VTN/TN  (43,2%)là nam giới và  284VTN/TN (56,8%) là nữ giới.

Nguồn thông tin về CSSKSS/KHHGĐ mà VTN/TN chưa kết hôn tiếp nhận được

1. Từ phương tiện thông tin đại chúng:

Ngoài 0,6% VTN/TN không trả lời, tỉ lệ VTN/TN cho biết họ có được thông tin từ phương tiện truyền thông đại chúng với tỷ lệ cao nhất là từ ti vi (81,4%); tiếp đó là báo, tạp chí (50,6),đài (41,6%); internet (30,8%); pa nô, áp phích (21,8%) và tờ rơi (16,2%).

2. Từ các cá nhân: tỉ lệ cao nhất thuộc về các thầy cô giáo (52,2%), người thân trong gia đình (49,8%), cán bộ y tế (44,6%), cán bộ dân số (30,8%), bạn bè (26,6%), cán bộ phụ nữ (24%), người có uy tín (5,8%), bà mụ vườn (1,8%), các đối tượng khác (1,2%). Có 0,2% VTN/TN không cho biết họ có tiếp nhận thông tin từ các cá nhân trên hay không.

Có sự khác biệt rõ rệt giữa tỉ lệ VTN/TN đang đi học (25,74%) với VTN/TN đã đi làm (45,67%) trong tiếp nhận thông tin từ cán bộ dân số. VTN/TN đang đi học có sự tiếp nhận thông tin từ các thầy, cô giáo (60,05%) cao hơn các nguồn cá nhân khác. Điều này cho thấy, giáo viên ở các trường học có trao đổi thông tin về CSSKSS/KHHGĐ đối với học sinh. Tuy nhiên, nghiên cứu này không đi sâu tìm hiểu các chương trình SKSS ở đây có đầy đủ và toàn diện hay không. Sự khác biệt  giữa VTN/TN đang đi học với VTN/TN đã đi làm còn thể hiện trong việc tiếp nhận thông tin từ bạn bè (21,98% và 40,16%), từ người thân trong gia đình (47,18% và 57,48%).

Trong việc tiếp nhận thông tin xét theo giới - nam VTN/TN và nữ VTN/TN cũng có sự khác biệt. Cụ thể: từ người thân trong gia đình là 18,6% nam và 54,93% nữ, với thầy cô giáo là 47,69% nam và 55,63% nữ.

  1. Từ các nguồn khác: có 42,8%  VTN/TN  cho biết tiếp nhận thông tin từ các trung tâm tư vấn; sinh hoạt tổ dân phố/thôn xóm: 40%; các cuộc thi biểu diễn văn nghệ: 33,4%; tập huấn: 20,6%; các câu lạc bộ: 16,2%. Bên cạnh đó, có 0,6% VTN/TN không trả lời câu hỏi từ việc tiếp nhận thông tin từ nhóm nguồn này.

Có sự khác biệt giữa VTN/TN đang đi học và VTN/TN đã đi làm trong tiếp nhận thông tin từ sinh hoạt tổ dân phố/thôn xóm (35,12% và 54,33%); từ tập huấn (15,82% và 34,65%), các trung tâm tư vấn (45,84% và 33,86%).

Mức độ trao đổi thông tin CSSKSS/KHHGĐ của VTN/TN chưa kết hôn

Cuộc khảo sát đã đưa ra 12 đối tượng để tìm hiểu VTN/TN có mức độ trao đổi thông tin về CSSKSS/KHHGĐ với đối tượng nào, kết quả cho thấy:

     


Bảng 1:  Mức độ trao đổi thông tin về CSSKSS/KHHGĐ của VTN/TN với các đối tượng

 

STT

 

Đối tượng trao đổi

Mức độ trao đổi (%)

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Không bao giờ

1

Bố

9,4

32,2

53,6

2

Mẹ

33,6

42,8

21,0

3

Chị, em gái

22,4

33,8

40,6

4

Anh, em trai

5,4

24,2

66,6

5

Bạn bè

16,0

52,0

30,2

6

Bạn tình (người yêu)

7,8

21,0

67,6

7

Hàng xóm

2,4

22,6

70,4

8

Cán bộ y tế

12,6

41,2

43,2

9

Cán bộ DS-KHHGĐ

10,2

41,4

44,8

10

Cán bộ tư vấn

10,2

40,6

45,8

11

Người có kinh nghiệm về CSSKSS

14,0

40,2

42,48

12

Thầy, cô giáo

11,0

39,2

46,4

 
1. Với người trong gia đình:

      VNT/TN  đều có tỉ lệ trao đổi với bố và mẹ nhiều hơn so với các thành viên khác trong gia đình (chị, em gái và anh, em trai); việc đổi thông tin với người mẹ ở họ đều cao hơn so với việc trao đổi thông tin với người bố cả ở mức độ “thường xuyên” và “thỉnh thoảng”.

2. Với bạn bè, bạn tình/người yêu:

      VTN/TN trao đổi “thường xuyên”, “thỉnh thoảng” thông tin về CSSKSS với bạn bè có tỉ lệ cao, trong khi đó, việc không bao giờ trao đổi thông tin nói trên với bạn tình/người yêu lại có tỉ lệ cao. Điều đó cho thấy mối quan tâm về CSSKSS trong quan hệ bạn bè ở họ là điều đáng khích lệ. Ngược lại, ít chia sẻ thông tin CSSKSS với bạn tình/người yêu sẽ tiềm ẩn nguy cơ cao với VTN/TN về các căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, dễ có thai ngoài ý muốn… so với mối quan hệ bạn bè vì khả năng quan hệ tình dục nhiều hơn.

3. Với cán bộ có chuyên môn:

      Tỉ lệ VTN/TN  không bao giờ  trao đổi  thông tin về CSSKSS với các cán bộ có chuyên môn nêu trong bảng trên (từ đối tượng thứ 7 đến đối tượng thứ 12) chiếm tỉ lệ từ trên 42% đến trên 70% là sự báo động rất lớn về sự thiếu hụt khá lớn về lượng thông tin cơ bản và thiết yếu về CSSKSS ở họ. Đáng lưu ý là thầy cô giáo – người mà VTN/TN trực tiếp gặp gỡ hàng ngày nhưng tỉ lệ không bao giờ trao đổi thông tin về CSSKSS giữa 2 đối tượng này lại cao hơn so với việc trao đổi với cán bộ dân số, cán bộ y tế, người có kinh nghiệm chăm sóc SKSS, cán bộ tư vấn. Điều đó phản ánh đúng thực trạng hiện nay là: việc cung cấp kiến thức về SKSS, giáo dục kỹ năng sống có liên quan đến CSSKSS trong nhà trường cũng như đối với đội ngũ giáo viên còn hạn chế.

        Kết quả khảo sát cũng cho thấy có đến 47,97% VTN/TN cho biết họ chưa được nghe về SKSS là do không được trao đổi thông tin.

Nhu cầu thông tin về CSSKSS/KHHGĐ của VTN/TN chưa kết hôn

Kết quả khảo sát cho thấy: ngoài 0,6% VTN/TN không cho biết nhu cầu thông tin về CSSKSS, có 69,2% VTN/TN có nhu cầu được cung cấp thông tin về CSSKSS, cao gấp hơn 2 lần so với VTN/TN chưa kết hôn không có nhu cầu này (30,2%). Tỉ lệ tương ứng về nhu cầu KHHGĐ ở đối tượng này là: 63,8% có nhu cầu cung cấp thông tin và 34% không có nhu cầu cung cấp thông tin.

Nhu cầucủa VTN/TN về nội dung cần cung cấp thông tin CSSKSS /KHHGĐ như sau:

1.   Làm mẹ an toàn:  57,75%

2.   Nạo hút thai an toàn: 48,75%

3. Bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản: 57,75%

4. Bệnh lây nhiễm qua đường tình dục : 67,25%

5.  Chăm sóc phụ nữ trước và sau khi sinh : 58,75%

6.  Chăm sóc thai nhi : 58,75%

7.  Chăm sóc trẻ sơ sinh: 57,50%

8.  Kiến thức về tiền hôn nhân: 56,25%

9. Giáo dục, truyền thông về CSSKSS: 62,75%

10. Phân biệt giới tính trong lựa chọn thai nhi: 28,50%

VTN/TN cũng cho biết mức độ cần thiết được cung cấp thông tin về CSSKSS/KHHGĐ đối với họ như sau:


Bảng 2: Mức độ cần thiết được cung cấp thông tin về CSSKSS/KHHGĐ đối với VTN/TN

Mức độ  cần thiết

Thông tin về

CSSKSS(%)

KHHGĐ(%)

Rất cần thiết

49,8

46,6

Cần thiết

35,0

40,2

Có cũng được, không cũng được

7,2

7,6

Không cần thiết

7,4

5,4

Không trả lời

0,6

0,2

 

 

 


Có thể nói, VTN/TN rất có nhu cầu và cần thiết được cung cấp thông tin về CSSKSS. Tuy vậy, đối với một số VTN/TN chưa có sự quan tâm thích đáng nếu không nói là thờ ơ khi họ cho biết thông tin về CSSKSS có cũng được, không cũng được, không cần thiết, và không trả lời.

Giải pháp

            1. Đẩy mạnh hơn nữa việc thông tin, giáo dục, truyền thông về CSSKSS/KHHGĐ phù hợp với VTN/TN chưa kết hôn (theo giới tính, đang đi học, đã đi làm) nhằm giúp họ có nhận thức đúng đắn, có sự chuyển đổi hành vi tích cực trong lĩnh vực SKSS, CSSKSS/KHHGĐ nói chung, về tiếp nhận thông tin về lĩnh vực này nói riêng, phải thấy đó vừa là lợi ích thiết thực đồng thời là trách nhiệm của bản thân ngay từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường, khi chưa lập gia đình, tạo tâm thế tốt cho họ trong việc tiếp nhận, trao đổi... thông tin nói trên.

            2. Các cơ quan  chức năng (y tế, dân số, giáo dục…)  cần có sự quan tâm và đầu tư thích đáng với nhiều hình thức phong phú, phù hợp trong việc cung cấp thông tin về SKSS, CSSKSS/KHHGĐ cho VTN/TN nhằm trang bị cho họ những tri thức và kỹ năng sống có liên quan đến vấn đề nói trên. Tiếp tục nhân rộng các mô hình CSSKSS VTN ở các địa phương đã được thực hiện và triển khai các mô hình nói trên tới các địa phương chưa được thực hiện.

            3. Thay đổi quan niệm, thái độ, hành vi của các bậc cha mẹ, nhà trường, các cơ quan chức năng cả về tri thức và kỹ năng trong việc cung cấp, giáo dục, định hướng cũng như thời lượng trong trao đổi thông tin về CSSKSS/KHHGĐ đối với VTN/TN.

4. Đầu tư thích đáng đối với các phương tiện thông tin đại chúng, công cộng, nâng cao vai trò của thầy cô giáo, cán bộ làm công tác y tế, dân số tư vấn, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin, trao đổi thông tin, giải đáp những thắc mắc... về CSSKSS/KHHGĐ cũng như việc nắm bắt nhu cầu  VTN/TN chưa kết hôn về vấn đề đó .

 5. Lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng, ngân sách...  trong việc nâng cấp, bổ sung, làm mới các phương tiện thông tin đại chúng để người dân vùng biển, đảo và ven biển trong đó có VTN/TN chưa kết hôn có điều kiện cập nhật thông tin CSSKSS/KHHGĐ thường xuyên, đầy đủ./.



*
Viện Xã hội học, Học viện chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh