TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT QUỐC HỘI

VỀ KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2011

VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU NĂM 2012


I. Tình hình thực hiện Nghị quyết Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2011

1. Chỉ tiêu tạo việc làm, giảm nghèo

a. Chỉ tiêu tạo việc làm

            Năm 2011, chỉ tiêu tạo việc làm Quốc hội giao là 1,6 triệu lao động, trong đó 8,7 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài, ước thực hiện cả năm tạo việc làm cho 1,54 triệu người, đạt 96,1% kế hoạch (giảm 4,57% so với thực hiện năm 2010), trong đó: tạo việc làm trong nước 1,450 triệu người, đạt 95,84% kế hoạch (giảm 4,92% so với thực hiện năm 2010); xuất khẩu lao động 87 ngàn người, đạt 100% kế hoạch (tăng 1,7% so với thực hiện năm 2010). Như vậy, có khả năng chỉ tiêu tạo việc làm trong nước chưa đạt kế hoạch được giao. Đó là chưa kể tình trạng mất việc làm do suy thoái kinh tế và lạm phát trong năm.

            Những năm gần đây, số người lao động nước ngoài làm việc ở Việt nam tăng lên. Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện nay có 74.784 người nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam, trong đó mới cấp giấy phép cho 39.218 người (số người thuộc diện được cấp giấy phép là 62.588) và 12.196 người không thuộc diện được cấp giấy phép lao động. Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước về lao động nước ngoài còn nhiều hạn chế trong việc thống kê, tổng hợp, đánh giá, phân tích số liệu, cập nhật thông tin.

b. Chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo

            Theo kết quả tổng điều tra hộ nghèo năm 2010 theo chuẩn nghèo mới toàn quốc hiện có 3.055.565  hộ nghèo, chiếm tỉ lệ 14,2%.

            Nghị quyết của Quốc hội giao chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% theo chuẩn nghèo mới. Ước cuối năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 12,5%. Tuy nhiên, theo dự báo của Tổng cục Thống kê nếu đưa chỉ số CPI vào để đánh giá thì cuối năm 2011 tỷ lệ hộ nghèo còn 12,9%.

            Ủy ban các vấn đề xã hội thấy rằng:

            - Để thực hiện chi tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% hàng năm đòi hỏi phải có sự đầu tư, chỉ đạo tập trung. Giai đoạn 2006-2010 về thực chất mỗi năm chỉ giảm khoảng 1,5% tỷ lệ hộ nghèo cả nước; năm 2011, giảm được 1,5%.

            - Chuẩn nghèo mới về cơ bản đáp ứng được tình hình làm phát nhưng giá trị thực chất không cao hơn nhiều so với chuẩn cũ và chỉ tập trung vào yếu tố thu nhập, chưa thể hiện yếu tố đa chiều, trong khi chính sách giảm nghèo đã thực hiện được gần 15 năm.

2. Lĩnh vực y tế, dân số

a. Kết quả thực hiện chỉ số về y tế, dân số

            Năm 2011, có 4 chỉ tiêu thuộc lĩnh vực y tế được đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội; về cơ bản, cả 4 chỉ tiêu đều đạt kế hoạch (giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em: đạt 17,3%/17,3%; số gường bệnh/1 vạn dân; 21,1/21,0 giường/1 vạn dân; tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý: 82%/82%; giảm tỷ lệ sinh 0,2%‰,2‰).

b. Kết quả thực hiện nghị quyết 18/2008/QH12

            Chính phủ, các bộ, ngành và các địa phương đã tích cực triển khai và đạt kết quả bước đầu, các cơ sở y tế và chính sách cán bộ đã dần được cải thiện, kỹ thuật chuyên môn y tế hiện đại phát triển dần tiếp cận với trình độ của khu vực.

            Nhiều năm qua, nguồn đầu tư cho y tế tăng đáng kể (từ chỉ đầu tư phát triển, chi thường xuyên, trái phiếu…), các tổ chức quốc tế ước tính Việt nam đang ngày càng đạt mức công bằng về CSSK. Tỷ lệ chi y tế hàng năm đã tăng cao hơn mức tăng chi chung; từng bước chuyển dần ngân sách chi cho các bệnh viện sang chi hỗ trợ mua thẻ BHYT, tăng chi y tế dự phòng (trong đó mở rộng và tăng mức chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia). Các bệnh viện trung ương đã giảm một phần quá tải so với trước. Việc tuyển sinh, đào tạo bác sĩ đã tăng gấp 1,5 đến 2 lần chỉ tiêu.

            Tuy nhiên, tình trạng quá tải tại các bệnh viện trung ương chưa giảm nhiều, chính sách viện phí lạc hậu cùng với quy định quyền tự chủ của bệnh viện (theo nghị định 43) đã gây tác động không mong muốn. Vấn đề nâng cao y đức thầy thuốc là yêu cầu của cả xã hội nhưng các giải pháp hầu như chưa có hiệu quả tích cực, bên cạnh đó xuất hiện tình trạng bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đe doạ, uy hiếp tính mạng thầy thuốc.

            Việc đầu tư nguồn lực cho y tế dự phòng ở hầu hết các tỉnh vẫn chưa đạt mức tối thiểu 30% (tỷ lệ bình quân của cả nước là 25,7%) trong chi y tế, hiện nay khi có dịch thì tăng cường đầu tư kinh phí để chống dịch chứ chưa đủ kinh phí để phòng dịch. Tình trạng các bác sĩ làm công tác y tế dự phòng, lao, tâm thần càng ngày càng thiếu trầm trọng đã buộc các cơ sở phải tuyển dụng nhân lực chất lượng thấp hơn, hậu quả sau này sẽ rất khó khắc phục.

c. Tình hình dịch bệnh

            Trong 9 tháng năm 2011, cả nước đã xảy ra một số dịch bệnh, trong đó đáng quan tâm nhất là tình trạng lây lan rộng của dịch bệnh tay chân miệng ở nhiều tỉnh, thành phố, với tổng số 62.000 ca, trong đó 121 trường hợp tử vong (chủ yếu là trẻ em dưới 3 tuổi, ở các tỉnh phía nam). Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Y tế, tình hình dịch vẫn đang trong tầm kiểm soát và số trường hợp mới nhiễm đang giảm dần.

3. Về thực hiện một số chính sách xã hội khác

            Năm 2011 đã có 1.421.904 người có công được hưởng chính sách từ ngân sách Nhà nước (khoảng 22.126 tỷ đồng), ngoài ra còn có trên 45 ngàn đối tượng nhận trợ cấp 1 lần (khoảng 187 tỷ đồng). Việc sửa đổi chính sách cho người có công, người khuyết tật, người cao tuổi, chính sách thanh niên xung phong đã góp phần hỗ trợ cho đời sống của đối tượng.

            Trong chín tháng đầu năm 2011, cả nước có 580 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 8,4% so với cùng kỳ năm trước. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp các ngành và các địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,9 nghìn tấn lương thực và 9,2 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Chính phủ chỉ đạo các nghành, các cấp trợ cấp đột xuất cho đối tượng thu nhập thấp với tổng giá trị 763 tỷ đồng; trợ cấp khó khăn cho 1,4 triệu người có công với nước và thực hiện chi trả theo chế độ cho 22 nghìn cán bộ hoạt động kháng chiến, thanh niên xung phong.

            Bên cạnh những kết quả đạt được, một số vấn đề quan tâm:

            * Về chính sách ưu đãi người có công với cách  mạng

            - Cho đến nay, vẫn còn khoảng 5% gia đình chính sách có mức sống thấp hơn mức trung bình.

            - Một số vướng mắc chưa được giải quyết trong việc xác định đối tượng để được hưởng chế độ với người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc mầu da cam và con đẻ của họ sinh ra bị dị tật, dị dạng.

            - Tình trạng trục lợi trong việc tìm mộ liệt sĩ theo phương pháp tâm linh khá phổ biến ở một số địa phương gây thiệt hại đối với gia đình thân nhân liệt sỹ đang gây bất bình trong dư luận, xã hội.

            - Quá trình tổ chức thực hiện chính sách đối với thanh niên xung phong còn những bất cập về thủ tục xác nhận và chi trả.

* Một số chính sách khác

- Việc ban hành văn bản hướng dẫn Luật người cao tuổi, Luật người khuyết tật chậm nên mặc dù ngân sách đã được phân bố nhưng một số địa phương chưa tổ chức triển khai thực hiện.

- Việc tổ chức hai cơ quan cùng quản lý việc lập hồ sơ và chi trả bảo hiểm thất nghiệp gây khó khăn, tốn kém cho ngưòi lao động. Số liệu thống kê về thất nghiệm chưa đảm bảo độ tin cậy.

- Tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội vẫn chưa được khắc phục (tính đến cuối năm 2010, nợ BHXH là: 1.723 tỷ đồng, bằng 3,36% so với tổng số phải thu trong năm, 9 tháng đầu năm 2011 con số nợ này vẫn chưa được cải thiện đáng kể), chưa có biện pháp giải quyết hiệu quả.

II. Về một số chỉ tiêu chủ yếu thuộc lĩnh vực lao động, việc làm, giảm nghèo, y tế và ngân sách năm 2012

1. Về chỉ tiêu việc làm, giảm nghèo

            - Tạo việc làm cho 1,6 triệu lao động, trong đó tạo việc làm trong nước 1,51 triệu người, xuất khẩu lao động 90 ngàn người, tỷ lệ nữ là 49%.

            - Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2012 giảm 2% so với năm 2011 và giảm nhanh hơn tại các huyện nghèo nhất, trong đó các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP giảm 4%.

            Uỷ ban về các vấn đề xã hội nhất trí với các chỉ tiêu và ngân sách trên lĩnh vực lao động, việc làm, an sinh xã hội và thấy rằng, những thách thức đối với nền kinh tế 2012 cùng với nguồn hỗ trợ quốc tế giảm do Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình đã ảnh hưởng không ít tới chính sách an sinh xã hội. Vì vậy, cần bố trí ngân sách đảm bảo ở mức hợp lý, tăng cường kiểm tra việc tổ chức thực hiện cũng như rà soát, điều chỉnh, sửa đổi chính sách với người có công, chính sách về BHYT, BHXH, chính sách giảm nghèo, nâng cao hiệu quả của các chính sách, đảm bảo đưa các hoạt động chi thường xuyên ra khỏi các chương trình mục tiêu quốc gia. Bên cạnh đó, tập trung nguồn lực để có thể thực hiện chỉ tiêu giảm nghèo.

2. Về các chỉ tiêu y tế, dân số

            Năm 2012, Chính phủ dự kiến thực hiện giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em xuống dưới 16,6%; số giường bệnh/1 vạn dân là 21,5 giường; tỷ lệ chất thải rắn y tế được xử lý là 83% và giảm tỷ lệ sinh 0,2%o.

            Uỷ ban các vấn đề xã hội nhất trí với dự kiến các chỉ tiêu về y tế, dân số và dự toán ngân sách năm 2012 cho các hoạt động y tế nhằm đảm bảo thực hiện chi y tế cao hơn tăng chi bình quân chung của cả nước theo quy định của Nghị quyết 18. Hiện nay, Chính phủ đang chuẩn bị điều chỉnh giá viện phí theo định hướng Nghị quyết 46 của Bộ chính trị cũng như Nghị quyết 18 của Quốc hội, vì vậy cần tăng tỷ lệ bao phủ của BHYT để khi thay đổi giá viện phí không ảnh hưởng đến người dân chưa có BHYT. Cần nghiên cứu đưa chỉ tiêu số người tham gia BHYT vào Nghị quyết hàng năm của Quốc hội về kinh tế - xã hội để đảm bảo lộ trình BHYT toàn dân vào năm 2014.

            - Chính phủ cần rà soát, bổ sung kinh phí trái phiếu Chính phủ để hoàn thiện một số  bệnh viện huyện đang xây dựng dở dang; tập trung trái phiếu hỗ trợ bệnh viện ở miền núi, vùng khó khăn để đảm bảo sự cân đối về tỷ lệ giường bệnh, số  bệnh viện giữa các tỉnh, vùng.

            - Tiếp tục đầu tư cho công tác dân số, trong đó đặc biệt lưu ý cho một số vùng miền núi, nơi mức sinh còn cao gấp 1,5 lần so với bình quân chung của cả nước. Hiện nay, hệ số tăng chi cho công tác DS-KHHGĐ ở miền núi chi bằng 1,5 lần so với đồng bằng là chưa phù hợp (nên ít nhất là 2,4 lần như định mức quy định của Chính phủ), vì rào cản với KHHGĐ ở miền núi còn rất lớn, dân cư phân tán và khác biệt phong tục tập quán. Vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và khó khắc phục trong tương lai 15 đến 20 năm tới; tuy nhiên, đến nay Chính phủ vẫn chưa có biện pháp tổng thể để hạn chế sự mất cân bằng giới tính khi sinh, mỗi năm ngân sách chỉ dành 0,2 tỷ đồng/ tỉnh để thực hiện mục tiêu này là quá thấp.

III. Một số kiến nghị

Với Quốc hội:

            - Tiếp tục tăng chi phí cho y tế, trong đó tập trung hỗ trợ cho một số nhóm đối tượng mua BHYT; đồng thời, nghiên cứu để có thể nâng mức hỗ trợ thẻ BHYT cho hộ cận nghèo (hiện nay là 50%) và hỗ trợ nhóm nông dân sớm hơn theo lộ trình Bảo hiểm y tế toàn dân.

            - Tiếp tục thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực y tế, việc làm, dạy nghề, giảm nghèo bền vững.

            - Tiếp tục cho phép Chính phủ phát hành trái phiếu đầu tư cho y tế, nhưng tập trung có trọng điểm đối với các bệnh viện đang còn dở dang, ưu tiên cho khu vực miền núi, vùng khó khăn.

Với Chính phủ:

            - Ban hành chính sách thay đổi viện phí nhằm đảm bảo quyền lợi của người có thẻ BHYT, đảm bảo lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, đặc biệt chú ý chỉ đạo việc sử dụng kinh phí kết dư từ quỹ BHYT năm 2010 đúng pháp luật.

            - Cần kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các dự án và kế hoạch đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ để tránh tình trạng xây dựng kế hoạch vượt quá khả năng chịu đựng của ngân sách nhà nước và đầu tư dàn trải như những năm vừa qua.

            - Chỉ đạo các bộ, ngành đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt nội dung Nghị quyết 80/CP về định hướng giảm nghèo bền vững. Đồng thời sớm ban hành Quyết định phê duyệt Kế hoạch triển khai nghị quyết, trong đó cần quy định rõ nhiệm vụ chung  và nhiệm vụ cụ thể của từng bộ ngành trong công tác giảm nghèo và phân cấp hợp lí cho các địa phương.

            - Khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành một số luật đã được Quốc hội thông qua trong nhiệm kỳ XII thuộc lĩnh vực xã hội (Luật người khuyết tật, Luật người cao tuổi). Tăng cường công tác quản lý nhà nước về lao động, trong đó có lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam.

            - Tổng kết, đánh giá tình hình thực hiện chính sách, pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng làm cơ sở cho việc sửa đổi Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng trong quý 1 năm 2012.

IV. Đề xuất một số vấn đề cần quan tâm trong giai đoạn 2011-2015

1. Các vấn đề thuộc lĩnh vực y tế, dân số:

            - Quốc hội đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nội dung sửa đổi Luật dược, Luật bảo hiểm y tế và Luật bảo hiểm xã hội trong nhiệm kỳ XIII.

            - Thực hiện việc chuyển dần đầu tư ngân sách trực tiếp cho các bệnh viện sang đầu tư qua ngân sách để hỗ trợ cho người dân tham gia BHYT; trước mắt xem xét để nâng mức hỗ trợ tiền mua BHYT một số nhóm đối tượng…nhằm thúc đẩy việc thực hiện lộ trình BHYT toàn dân vào năm 2014. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, BHYT là giải pháp công bằng và hiệu quả nhất trong chăm sóc sức khoẻ.

            - Thay đổi giá viện phí theo hướng tính đúng, tính đủ, song phải có bước đi phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, lộ trình thực hiện BHYT toàn dân, cũng như khả năng chi trả của quỹ BHYT và người dân. Đồng thời, việc tính đúng, tính đủ cần dựa trên cơ sở khoa học, có tiêu chí rõ ràng, cụ thể, công khai, minh bạch.

            - Chú trọng đầu tư cho công tác y tế dự phòng, thông qua việc đảm bảo chi cho y tế dự phòng ít nhất là 30% ngân sách dành cho y tế, đồng thời tiếp tục đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế (vì tất cả chương trình này đều thuộc hệ dự phòng và đây là nguồn hỗ trợ hiệu quả để duy trì hoạt động phòng bệnh vốn đang gặp nhiều khó khăn). Tuy nhiên, cần rà soát lại danh mục các dự án để đảm bảo đúng trọng tâm và ý nghĩa của các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế.

            - Tiếp tục kiểm soát quy mô, cơ cấu dân số, phân bố dân cư, đồng thời tập trung nguồn lực để thực hiện việc nâng cao chất lượng dân số Việt Nam, duy trì mức sinh thay thế và có giải pháp đủ mạnh để khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.

2. Các vấn đề thuộc lĩnh vực lao động, việc làm, xã hội

            - Nhiều quan điểm định hướng của Đảng trong lĩnh vực lao động, việc làm cần phải được nghiên cứu để thể chế hoá bằng các chính sách, pháp luật và các chỉ tiêu cụ thể. Đặc biệt là mục tiêu, chỉ tiêu liên quan đến nâng cao chất lượng lực lượng lao động, năng suất lao động, phát triển thị trường lao động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.

            - Về chỉ tiêu việc làm, cần sớm nghiêm cứu để xây dựng chỉ tiêu phản ánh thực chất tình hình thị trường lao động, kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới sử dụng chỉ tiêu về thất nghiệp làm căn cứ để đánh giá tình hình thị trường lao động và phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng kinh tế.

            - Chính sách tiền lương hiện nay đang bộc lộ nhiều bất cập, cần thể chế hoá quan điểm tiền lương là giá cả sức lao động trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, sớm xây dựng đề án Cải cách tiền lương cho giai đoạn 10 năm tới phù hợp.

- Tập trung nguồn lực cho Chương trình  mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 trong tổng thể các chương trình mục tiêu quốc gia khác có liên quan, đưa Chương trình 135 (III) và Chương trình 30a vào chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.


 

Liên kết