TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI CƠ CẤU TUỔI DÂN SỐ

ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

        ThS. BÙI THỊ MINH TIỆP[*]  


Ở Việt Nam, sau khi chiến tranh kết thúc, quá trình dân số đã trải qua giai đoạn bùng nổ với tỷ suất sinh tăng đột biến gắn liền với tỷ suất chết giảm mạnh. Việc thực thi quyết liệt các chính sách dân số mà trọng tâm là nỗ lực giảm tỷ suất sinh, nâng cao chất lượng dân số đã làm cho cả  tỷ suất sinh và tỷ suất chết đều giảm mạnh, cơ cấu dân số Việt Nam có những biến đổi rõ rệt. Dân số trẻ em giảm, dân số trong tuổi lao động tăng mạnh và dân số cao tuổi tăng cả về số lượng và tuổi thọ. Nghiên cứu thực nghiệm ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, biến đổi cơ cấu tuổi dân số đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở thời kỳ dân số trong tuổi lao động tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dân số. Chẳng hạn, ước lượng của Alexia Prskawetz và Thomas Lindh (2007), Kelley và Schmidt (2005) cho thấy biến đổi cơ cấu tuổi dân số đóng góp 24% tăng trưởng kinh tế châu Âu thời kỳ 1965-1990. Biến đổi cơ cấu tuổi dân số với lực lượng lao động tăng mạnh cũng đóng góp 37% cho tăng trưởng kinh tế thần kỳ ở Châu Á giai đoạn 1975-1990. Tương tự ở Hàn Quốc và Nhật Bản là khoảng 30% (An và Jeon, 2006; Naohiro Ogawa và cộng sự, 2005), ở Đài Loan là 38% (Pei-Ju-Liao, 2010), Trung Quốc 15% - 20% (Cai và Wang, 2006)… Các nghiên cứu này cũng khẳng định, cơ hội từ biến đổi cơ cấu tuổi dân số chỉ là điều kiện cần trong khi môi trường chính sách trong nước mới là điều kiện đủ. Để thu được những lợi ích từ biến đổi cơ cấu tuổi dân số cho tăng trưởng kinh tế, đất nước cần có những chính sách đúng đắn và kịp thời. Các chính sách là cần thiết để hạn chế những tác động không tích cực cho tăng trưởng và phát triển do quá trình biến đổi dân số mang lại, đặc biệt trong giai đoạn “dân số già”.

            1.  Biến đổi cơ cấu tuổi dân số ở Việt Nam

Cùng với sự ổn định về chính trị, xã hội sau khi đất nước thống nhất và triển khai mạnh mẽ của các chính sách DS - KHHGĐ, hơn 30 năm qua dân số Việt Nam có những sự thay đổi rõ rệt. Tổng tỷ suất sinh (TFR) giảm từ 4,81 vào năm 1979 xuống 3,8 vào năm 1989 và 2,03 vào năm 2009. Tốc độ tăng dân số trung bình giảm từ 2,21%/năm giai đoạn 1976-1985 xuống mức 1,6% giai đoạn 1985-2008 và chỉ ở mức 1,1% vào năm 2009. Hệ quả là cơ cấu tuổi dân số Việt Nam biến đổi mạnh với xu hướng giảm tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi), tăng tỷ lệ dân số trong tuổi lao động (15-59 tuổi) và dân số cao tuổi (trên 60 tuổi) cũng tăng lên. Như vậy, cấu trúc tuổi dân số Việt Nam đang có sự thay đổi từ dân số trẻ sang “cơ cấu dân số vàng” cùng với già hóa dân số.


Bảng 1. Dân số và cơ cấu dân số Việt Nam theo nhóm tuổi, 1979-2009

Năm

Số người (triệu người)

Tỷ lệ (% tổng dân số)

Tổng

0-14

15-59

60+

0-14

15-59

60+

1979

53,74

23,40

26,63

3,71

41,8

51,3

6,9

1989

64,38

24,98

34,76

4,64

39,2

53,6

7,2

1999

76,33

25,56

44,58

6,19

33,0

58,9

8,1

2009

85,85

21,03

57,09

7,73

24,5

66,5

9,0

Nguồn: Tổng điều tra dân số 1979,1989,1999,2009


Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ trẻ em năm 2009 đã giảm 17% so với 30 năm về trước. Trong khi đó, tỷ lệ dân số cao tuổi tăng 2,1% và tỷ lệ người trong độ tuổi lao động tăng 15%. Sau 3 thập kỷ, bình quân cứ 100 người dân Việt Nam thì có thêm 15 người bước vào độ tuổi lao động.

Theo dự báo của Quỹ dân số LHQ, trong 30 năm tới, dân số Việt Nam sẽ tăng thêm khoảng 21 triệu người và có tỷ lệ người trong tuổi lao động chiếm trên 50% tổng dân số. Tỷ lệ trẻ em sẽ giảm từ 25,1% năm 2010 xuống 19,8% vào năm 2030 và chỉ còn 16,8% vào năm 2040. Dân số già cũng tăng mạnh từ 8,7% năm 2010 lên 18,2% năm 2030 và lên tới 26,6% vào năm 2040. Một xu hướng dân số với nhiều cơ hội và thách thức: nếu hiện thực hóa được các tiềm năng dân số trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng sẽ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện thu nhập bình quân đầu người, nhưng cũng sẽ là thách thức nếu không giải quyết tốt việc làm cho thanh niên và an sinh xã hội cho người cao tuổi.


Hình 1. Xu hướng dân số Việt Nam, 1970-2040

Nguồn: World Population Prospects, 2010 và tính toán của tác giả


Với xu hướng biến đổi cơ cấu tuổi dân số thể hiện trong hình 1, Việt Nam sẽ trải nghiệm cơ cấu dân số vàng cùng với già hóa dân số. Dân số trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới 5 tuổi và học sinh tiểu học sẽ giảm mạnh trong thời gian tới. Cùng với đó, lực lượng lao động tăng mạnh và dân số cao tuổi cũng tiếp tục tăng nhanh. Tỷ số phụ thuộc dân số đạt mức 48,5% vào năm 2010 và tăng trở lại ở mức 50,8 vào năm 2040. Có thể nhận thấy rõ sự xuất hiện của thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” bắt đầu khi tỷ số phụ thuộc trẻ em giảm mạnh và thời kỳ này kết thúc khi tỷ số phụ thuộc người cao tuổi tăng mạnh.

Dân số Việt Nam được dự báo sẽ trải nghiệm quá trình già hóa với một tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử. Năm 1979 tỷ lệ NCT của nước ta chỉ là 7,2% tổng dân số, nhưng con số này đã tăng lên 9,4% vào năm 2010. Theo dự báo của Liên hợp quốc (2010), tỷ trọng dân số cao tuổi ở nước ta sẽ vào khoảng 18,3% vào năm 2030 và đến năm 2050 con số này sẽ là 30,8%. Xu hướng biến đổi dân số này đặt ra nhiều thách thức lên hệ thống tài chính quốc gia mà cụ thể là hệ thống tài chính hưu trí trong vài thập kỷ tới. Mặt khác, gánh nặng sẽ tăng lên đáng kể cho hệ thống bảo trợ xã hội, hệ thống y tế và bộ phận dân số trong tuổi lao động. Nếu xét trên góc độ tổng thể thì chi tiêu xã hội sẽ gia tăng trong khi lực lượng lao động là nguồn chính tạo ra thu nhập quốc dân tăng chậm lại và sau đó giảm xuống, hai nhân tố này diễn tiến cùng nhau tạo nên sự ngăn trở tăng trưởng kinh tế.

2. Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và mối quan hệ với dân số

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua cũng đã có những cải thiện rõ rệt nhờ vào quá trình đổi mới kinh tế và có sự đóng góp tích cực của lực lượng lao động ngày càng gia tăng  do quá trình biến đổi cơ cấu tuổi dân số mang lại. Số liệu thống kê cho thấy tốc độ tăng của tỷ lệ dân số trong tuổi lao động đã tăng từ 0,40% giai đoạn 1970-1979 lên 1,22% giai đoạn 2000-2009. Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người (tính theo giá năm 2005) cũng tăng từ 2,54% giai đoạn 1970-1979 lên 6,23% giai đoạn 2000-2009. Mối quan hệ cùng chiều này phản ánh tác động tích cực của lực lượng lao động gia tăng tới phát triển và tăng trưởng kinh tế.


Bảng 2. Dân số và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, 1970-2009 (%)

 

Giai đoạn

 

1970-1979

 

1980-1989

 

1990-1999

 

2000-2009

Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người (giá 2005)

 

2,54

 

3,33

 

6,24

 

6,23

Tốc độ tăng tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động

 

0,40

 

0,67

 

0,94

 

1,22

Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK


Vấn đề biến đổi dân số và tác động của biến đổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên các nghiên cứu định lượng còn ít, đặc biệt là nghiên cứu định lượng về mối quan hệ tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế.

Tốc độ tăng dân số phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì mới đảm bảo phát triển bền vững. Chính sách dân số trong thời gian tới nên chú trọng tới việc giữ ổn định và duy trì tỷ lệ sinh thấp như hiện nay để đảm bảo tái sản xuất dân số và cơ cấu dân số hợp lý, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Kết quả ước lượng chỉ ra xu hướng tác động của vốn đầu tư đến tăng trưởng có xu hướng tích cực, sử dụng thêm vốn đầu tư vẫn luôn là yếu tố căn bản để tạo ra tăng trưởng. Giả định các yếu tố khác không đổi, 1% gia tăng của vốn đầu tư sẽ làm GDP tăng bình quân 0,4%. Kết quả này khẳng định tiết kiệm là một kênh quan trọng có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Trong thời gian qua, biến đổi dân số Việt Nam đã làm cho lực lượng lao động tăng lên, tỷ số phụ thuộc dân số giảm qua các năm góp phần làm tiết kiệm tăng. Trong giai đoạn tới, khi Việt Nam trải nghiệm “cơ cấu dân số vàng” từ 2010-2040 với nhiều lợi thế về nguồn nhân lực, tiết kiệm tăng sẽ làm tăng đầu tư, là nguồn quan trọng để tăng đầu tư trong nước. Việt Nam có thể khai thác lợi thế này cho tăng trưởng kinh tế nếu có những chính sách đúng đắn về huy động vốn, sử dụng vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư. Hệ số của biến tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động mang dấu dương có ý nghĩa thống kê tại mức 5% cho thấy vai trò tích cực của nguồn cung lao động đến tăng trưởng kinh tế. Giả định các yếu tố khác trong mô hình cố định, khi tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng thêm 1% thì tăng trưởng tăng thêm khoảng 2,78%. Điều này hoàn toàn phù hợp về lý thuyết kinh tế, khi tỷ lệ dân số trong độ tuổi tăng sẽ làm gia tăng thêm tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, nguồn lực lao động trong xã hội dồi dào, góp phần vào tạo ra của cải vật chất trong xã hội.

Trong giai đoạn 1979-2009, tỷ lệ dân số trong tuổi lao động tăng 15,2% (từ 51,3% năm 1979 lên 66,5% năm 2009), lực lượng lao động tăng thêm này đã đóng góp cho tăng trưởng kinh tế khoảng 42%. Như vậy, biến đổi cơ cấu tuổi dân số Việt Nam đã có những đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế ngay cả khi chúng ta chưa bước vào giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”. Điều này cũng cho thấy, thành công kinh tế của Việt Nam trong những năm qua không phải chỉ do đóng góp bởi năng suất lao động gia tăng mà có sự đóng góp tích cực từ biến đổi cơ cấu tuổi dân số. Sự gia tăng của dân số trong tuổi lao động đã đóng góp gần một nửa sự tăng lên của GDP trong thời gian qua, điều này đặt ra một câu hỏi: tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể giữ được ở mức nào khi lực lượng lao động sẽ giảm vào những năm tới và thêm vào đó là dân số cao tuổi tăng do già hóa dân số và già hóa nhanh?

Giai đoạn 2000 – 2010, lực lượng lao động của nước ta đã tăng từ 39,3 triệu người lên 50,5 triệu người, tốc độ tăng bình quân là 2,6%/năm, bằng 2 lần tốc độ tăng dân số[2]. Dự báo thời kỳ 2011-2020 lực lượng lao động Việt Nam tăng sẽ tăng khoảng 1,43%/năm và đạt mức 58,2 triệu lao động vào năm 2020. Đây là cơ hội vàng cho Việt Nam để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cơ hội này cần phải được hiện thực hóa bằng các chiến lược, chính sách cụ thể, hợp lý và kịp thời.

Một xã hội khi có tỷ lệ dân số già tăng nhanh sẽ dẫn đến nền kinh tế sẽ phải gánh thêm về phúc lợi xã hội, chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe, y tế của Chính phủ và chi tiêu cho bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội sẽ gia tăng. Do vậy, cơ cấu những khoản đầu tư để phát triển kinh tế sẽ có xu hướng giảm cùng với tăng tỷ lệ phụ thuộc trong các hộ gia đình sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế.

3. Kết luận và khuyến nghị

Nhờ có những chính sách can thiệp để giảm tỷ lệ sinh và chăm sóc sức khỏe, sự chuyển đổi nhân khẩu học đã theo hướng giảm dân số trẻ em giảm, dân số cao tuổi tăng với tốc độ ngày càng lớn và dân số trong tuổi lao động tăng mạnh. Cần duy trì tỷ lệ sinh ở mức sinh thay thế để ổn định và nâng cao chất lượng dân số. Khi đó gánh nặng về chi tiêu giáo dục và y tế sẽ giảm, hộ gia đình có cơ hội tập trung nguồn lực đầu tư, hoạt động sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống. Chính Phủ sẽ tập trung nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo tiểu học và phổ thông, giảm sự chênh lệch về khả năng tiếp cận với giáo dục ở các vùng miền. Dân số trẻ cũng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế tốt hơn do nguồn lực cũng được tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực này khi tỷ lệ dân số trẻ em giảm xuống.

Dân số trong độ tuổi lao động  tăng  là yếu tố tác động tích cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khi tỷ lệ dân số trong tuổi lao động (15-60 tuổi) tăng thêm 1% thì tăng trưởng kinh tế tăng thêm 2,78%. Hiện nay, lực lượng lao động trẻ và dồi dào là đặc trưng cơ bản và rõ rệt nhất của cơ cấu dân số nước ta. Lực lượng lao động lớn và có kỹ năng sẽ giúp Việt Nam thâm nhập nhanh hơn và sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Cần phải quan tâm thích đáng tới vấn đề tạo việc làm và đào tạo lao động bằng các chính sách cụ thể như: chính sách giáo dục đào tạo, chính sách lao động, việc làm,....

            Dân số trong tuổi lao động tăng mạnh làm cho tiết kiệm tăng lên, từ đó đóng góp cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Khi dân số trong độ tuổi lao động tăng làm gia tăng tiết kiệm và tái đầu tư trong xã hội, 1% gia tăng của vốn đầu tư sẽ làm tăng 0.4% GDP. Lực lượng lao động dồi dào, có việc làm với thu nhập ngày càng cao sẽ là nguồn đóng góp lớn cho quỹ an sinh xã hội, bên cạnh đó đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, chuẩn bị sẵn sàng cho một tương lai dân số già ở giai đoạn tiếp theo.



[*] Đại học Hải Phòng

[2] Bộ LĐTB&XH. Báo cáo xu hướng lao động xã hội thời kỳ 2000-2011. Tháng 3/2011.

 

Liên kết