PHỤ NỮ VIỆT NAM LẤY CHỒNG HÀN QUỐC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG

PGS.TS. HOÀNG BÁ THỊNH*


Giới thiệu

Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài Thực trạng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc (Nghiên cứu trường hợp xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy - Tp. Hải Phòng) năm 2009. Bên cạnh việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, nghiên cứu này kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính. Với mẫu khảo sát 150 cha/mẹ trong những gia đình ở xã Đại Hợp, huyện Kiến Thụy, Tp. Hải Phòng có con lấy chồng Hàn Quốc, cùng với 15 phỏng vấn sâu (bao gồm cha/mẹ cô dâu; cô dâu đã kết hôn đang chờ xuất cảnh, cô dâu từ Hàn Quốc về thăm gia đình; cán bộ lãnh đạo thôn, xã; người dân)..

1.       Thực trạng phụ nữ xã Đại Hợp lấy chồng Hàn Quốc

Tính đến cuối tháng 8/2009, xã Đại Hợp có 721 cô gái lấy chồng nước ngoài (trong đó có 188 phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc) chiếm 15,1% tổng dân số nữ của toàn xã. Nếu tính số phụ nữ trong độ tuổi từ 15-49 (độ tuổi sinh đẻ) chiếm 56,6% trong dân số nữ của xã, thì tỷ lệ các cô gái lấy chồng nước ngoài so với phụ nữ trong độ tuổi 15-49 ở xã Đại Hợp chiếm 26,6%. Nói cách khác, cứ 4 phụ nữ trong độ tuổi 15- 49 ở xã Đại Hợp thì có 1 phụ nữ lấy chồng nước ngoài.

Trong mẫu khảo sát, 82% số hộ gia đình có 1 con gái lấy chồng Hàn Quốc, 15,3% có hai con gái lấy chồng Hàn Quốc, và 1,3% hộ gia đình có 3 con gái lấy chồng Hàn Quốc và Đài loan, 1,4% hộ gia đình có 4 con gái lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan.

Phụ nữ lấy chồng nước ngoài ở xã Đại Hợp khởi đầu từ năm 1997 và trở thành một hiện tượng xã hội kể từ năm 2003 đến nay, với hai xu hướng lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc. Huyện Kiến Thụy có hai xã có phụ nữ lấy chồng nước ngoài, nhiều nhất là xã Đại Hợp và xã Đoàn Xá. Theo số liệu thống kê, số phụ nữ lấy chồng Đài Loan nhiều nhất với 487 người (chiếm 67,5% tổng số phụ nữ lấy chồng nước ngoài), tiếp theo là phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, với 188 người (26,1%), còn lại các nước khác với 46 người (6,4%). Nếu tính từ năm 2003 - thời gian có phụ nữ Đại Hợp lấy chồng Hàn Quốc - đến tháng 8/2009, số phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc chiếm 30,2% tổng số phụ nữ ở xã Đại Hợp lấy chồng nước ngoài. Nhưng từ năm 2007, số phụ nữ lấy chồng Đài Loan có xu hướng giảm và gia tăng số phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc. So sánh hai năm gần đây, số phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc nhiều hơn phụ nữ lấy chồng Đài Loan là 2,9 lần (năm 2008) và 2,4 lần (tính đến tháng 8/2009).

Cả 4 làng của xã Đại Hợp đều có phụ nữ lấy chồng nước ngoài, nhiều nhất là làng Quần Mục, tiếp đến là Đông Tác, Việt Tiến và Đại Lộc. Đa số phụ nữ kết hôn trong độ tuổi 18-25 (87%),  26-30 (5,0%) và 31-35 (8,0%). Trong số 721 trường hợp lấy chồng nước ngoài, chỉ có 5 trường hợp (0,6%) lấy chồng Việt kiều. Có 15,3% gia đình có 2 con gái lấy chồng nước ngoài, 1,4% gia đình có 3 con lấy chồng nước ngoài, và 1,4% gia đình có 4 con gái lấy chồng nước ngoài.

2. Tác động của hôn nhân có yếu tố nước ngoài đến xã hội

2.1. Tác động đến phát triển xã hội Việt Nam

Về kinh tế

Một trong những động lực thúc đẩy phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài nói chung và lấy chồng Hàn Quốc nói riêng là yếu tố kinh tế. Khảo sát cho thấy, 53,0% cha mẹ có con gái lấy chồng Hàn Quốc nói rằng con họ có gửi tiền về cho gia đình. Mức độ gửi tiền như sau: 8,0% thường xuyên; 75,3% thỉnh thoảng, và 17,0% hiếm khi. Nhờ vậy, nhiều gia đình ở xã Đại Hợp đã có sự thay đổi về cuộc sống (sửa sang nhà cửa, mua đồ dùng trong gia đình). Những ngôi nhà to đẹp này được người dân địa phương gọi là “phố Tây”, “Nàng Kiều”. 

Về khoản này không tính được, vì có hơn ngàn người ở nước ngoài, nếu mỗi người một năm chỉ gửi về 10.000 đô la thì số lượng đã hàng triệu đô la, thì mức thu nhập bình quân sẽ rất cao, có trường hợp gửi về tiền tỷ cho bố mẹ xây nhà. Còn nếu tính lượng kiều hối trong một năm thì số lượng rất lớn” (Chủ tịch UBND xã). Người dân địa phương cho rằng, hầu hết các gia đình có con lấy chồng Hàn Quốc đều khá giả, giầu sang “Phải đến 100% những nhà có con gái lấy chồng nước ngoài là giầu lên. Đối với những nhà con gái lấy chồng Đài Loan thì đại đa số xuất phát là hộ nghèo và bứt lên thành hộ giàu. Những hộ này khác trước rất nhiều: trước kia nhà 3 gian không có gì cả. Bây giờ thì nhà 3 hay 4 tầng, trong nhà không thiếu thứ gì” (Nữ, 45 tuổi).

Cũng có sự phân biệt đáng kể về mức sống của những hộ gia đình có con lấy chồng nước ngoài với những hộ khác. Trong thôn này có thể chia thành 3 loại: giàu, trung bình và nghèo. Giàu chi tiêu hàng tháng hết 5 triệu, hộ trung bình thì 2,5 triệu, nghèo thì 1 triệu. Trong những hộ giàu thì đa phần là hộ có con lấy chồng nước ngoài (chiếm 80%), những hộ này giàu chủ yếu là do con gửi về. 

Về giá trị con trai, con gái

Việt Nam là quốc gia vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Quan niệm con trai thờ cúng tổ tiên đã đề cao giá trị con trai hơn con gái, điều này dẫn đến hiện tượng mất cân bằng  tỷ lệ giới tính khi sinh ở Việt Nam.

Trong bối cảnh hôn nhân quốc tế, ở xã Đại Hợp đã xuất hiện một nhận thức khác: tư tưởng trọng nam không còn ảnh hưởng mạnh như trước, nếu không nói là đang có một sự “chuyển đổi” về giá trị, người ta ngày càng coi trọng giá trị con gái. Bởi lẽ, con gái lấy chồng nước ngoài đem lại sự thay đổi cuộc sống cho gia đình, còn đẻ nhiều con trai thì lại lo không lấy được vợ cùng xã: “Bây giờ người ta ở trong thôn thích đẻ con gái hơn để cho lấy chồng nước ngoài. Nếu nhà nào đẻ nhiều con trai thì được người ta coi là không biết đẻ. Người ta cũng mong có con trai nhưng chỉ ít con trai thôi, chứ đẻ được nhiều con trai thì lại thấy lo lắng” (Nữ, 52 tuổi).

Chính sự thay đổi về kinh tế đã tác động đến không ít cha mẹ có con gái. Và dường như có sự ngầm định rằng, con gái họ học xong cũng sẽ theo bước các chị đi tiếp con đường lấy chồng Hàn Quốc. Như lời một cán bộ lãnh đạo xã Đại Hợp “Giờ các gia đình có ý đồ cho con lấy chồng nước ngoài thì không phải làm gì, cho ăn chơi, đi học tiếng giao tiếp Hàn Quốc, nên các cháu mắc bệnh ăn chơi nên không làm gì, quyết tâm lấy chồng nước ngoài” (Chủ tịch xã)

Các cô gái lấy chồng nước ngoài đã gửi tiền về cho gia đình mua sắm, khiến cho quan niệm chữ Hiếu ở địa phương này cũng mang đậm màu sắc kinh tế, và hơn thế nữa nó càng thúc đẩy các cô gái trẻ hướng ngoại “Như thế con gái lại có hiếu, lấy chồng vẫn lo được cho gia đình bên này, trả nợ chi phí cưới, xong rồi gửi về cho bố mẹ vào các dịp Tết đều có quà. Đa số lấy chồng nước ngoài có điều kiện, một số ít khó khăn. Còn con trai ở bên này ít có cháu nào làm được như vậy, vì thế đa số các cháu gái hướng ngoại” (Bí thư xã).

Về thị trường hôn nhân trong nước

Mấy năm gần đây, vấn đề kết hôn của các chàng trai ở xã Đại Hợp đã trở nên khó khăn hơn so với trước, có nhiều lý do nhưng một nguyên nhân quan trọng là bởi con gái ở đây đa phần đều mong muốn lấy chồng nước ngoài. Vì thế, đến tuổi kết hôn, chàng trai nào không tìm được bạn đời cùng xã thì phải tìm kiếm ở nơi khác, nói theo ngôn ngữ của dân gian là lấy vợ thiên hạ.


Bảng 1. Tình hình lấy vợ của nam giới Đại Hợp theo khu vực địa lý, 2007-2009 (người)

 

Lấy vợ cùng xã

Lấy vợ khác xã

Lấy vợ khác huyện

Lấy vợ khác tỉnh

Tổng

2007

32

30

24

14

100

2008

43

23

23

28

117

2009 (8/2009)

12

14

21

13

60

Tổng

87

67

68

55

277

Nguồn: Sổ đăng ký kết hôn của UBND xã Đại Hợp.


Bảng 1 cho thấy,  số nam giới xã Đại Hợp lấy được vợ ở cùng xã dao động trong khoảng từ 32% (năm 2007) đến 50% (năm 2008) và 20% (8 tháng đầu năm 2009). Từ năm 2007 đến tháng 8 năm 2009, trong số 277 nam giới đăng ký kết hôn, chỉ có 31,4% lấy vợ cùng xã, còn lại 27,7% lấy vợ khác xã; 24,5% lấy vợ khác quận/huyện và 19,8% lấy vợ khác tỉnh. Như vậy, từ năm 2007 đến nay có gần 70% nam giới ở xã Đại Hợp vì những lý do khác nhau, lấy vợ ngoài xã. Số liệu 8 tháng đầu năm cho thấy, trong số 105 trường hợp xác nhận độc thân để làm thủ tục kết hôn, thì số kết hôn trong nước chỉ có 14 trường hợp (13,3%).

Một khi thị trường hôn nhân địa phương trở nên khó khăn do sự khan hiếm nữ giới trong độ tuổi kết hôn, thì nam giới phải tìm kiếm bạn đời ở nơi khác. Đây là quy luật tất yếu trong hôn nhân và gia đình, nhất là với văn hoá Việt Nam, đặc biệt là ở các vùng nông thôn người dân còn chưa quen với cách lựa chọn lối sống độc thân. Xem xét bối cảnh thị trường hôn nhân ở xã Đại Hợp, không thể loại trừ các yếu tố di cư, hội nhập trong phát triển kinh tế cũng góp phần thúc đẩy sự kết hôn ngoài cộng đồng. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý rằng, mặc dù Đại Hợp là một xã kinh tế phát triển mạnh nhất huyện Kiến Thụy, nhưng trên địa bàn của xã không có một xí nghiệp, doanh nghiệp nào, và xã cũng không có nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng. Vì thế, không có lao động di cư từ nơi khác đến Đại Hợp, khiến cho nam giới đến độ tuổi kết hôn phải tìm kiếm đối tác ở các địa phương lân cận, cùng huyện khác xã, khác quận, huyện và cả phụ nữ thuộc các tỉnh khác nhau. Từ 2007-2009, nam giới xã Đại Hợp lấy vợ từ 22 tỉnh, thành phố từ Quảng Nam ra đến Lào Cai, Tuyên Quang, Lạng Sơn. Được biết, những năm trước còn có một số cặp kết hôn lấy vợ từ các tỉnh miền Nam, vì thế, số lượng các địa phương có phụ nữ về làm dâu ở xã Đại Hợp sẽ không dừng ở con số trên.

Thị trường hôn nhân ở Đại Hợp: mối liên hệ giữa hôn nhân trong nước và hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Để đi đến khẳng định về mối liên hệ mạnh hay yếu giữa xu hướng lấy chồng nước ngoài của phụ nữ và lấy vợ nơi khác của nam giới Đại Hợp, cần có những nghiên cứu tiếp theo.


Bảng 2. Lấy chồng nước ngoài và lấy vợ nơi khác ở Đại Hợp, 2007-2009 (người)

 

2007

2008

2009 (8 tháng đầu năm)

Tổng

Phụ nữ lấy chồng nước ngoài

48

112

87

247

Nam giới lấy vợ ngoài xã

68

74

48

190

Phụ nữ, nam giới kết hôn cùng xã

32

43

12

87

Nguồn: Số liệu thống kê UBND xã Đại Hợp.


Số nam giới lấy vợ là người cùng xã chỉ bằng 45,7% số nam giới lấy vợ nơi khác, nói cách khác cứ 1 nam giới lấy vợ cùng xã thì có 2 nam giới lấy vợ ngoài xã. Trong khi số phụ nữ lấy chồng cùng xã chỉ bằng 35,2% số phụ nữ lấy chồng nước ngoài, nghĩa là số phụ nữ lấy chồng nước ngoài nhiều gấp gần ba lần số phụ nữ lấy chồng trong xã. Như một quy luật tất yếu, khi số phụ nữ kết hôn ở địa bàn giảm mạnh, nam giới phải tìm kiếm bạn đời ở nơi khác. Nếu không có “làn sóng” lấy chồng nước ngoài, nam giới ở Đại Hợp đến tuổi xây dựng gia đình chắc sẽ không lấy vợ nơi khác nhiều như vậy. Rõ ràng, thị trường hôn nhân ở Đại Hợp trở nên khan hiếm đối với nam giới, trong khi với phần lớn phụ nữ ở đây họ lại hướng đến một thị trường hôn nhân nước ngoài (Đài Loan và Hàn Quốc). Đó là chưa kể số phụ nữ lấy chồng nơi khác, khiến phụ nữ ở Đại Hợp càng trở nên khan hiếm.

Hậu quả là hiện nay tình trạng khan hiếm phụ nữ ở độ tuổi kết hôn, nam giới đến tuổi kết hôn phải đi lấy vợ xa khác địa phương và khó lấy vợ. Cùng với việc sinh đẻ chênh lệch về giới tính, chắc chắn là sẽ có số nam giới không lấy được vợ trong những năm tới” (Bí thư Đảng uỷ xã).

Tại địa phương này, giờ đây những gia đình có con trai đến độ tuổi lấy vợ đều lo: “Nhà tôi có 3 cậu con trai 27, 25 và 23 tuổi. Chưa cậu nào yêu đương gì cả. Tôi cũng mong chúng nó lấy vợ lắm rồi. Những người có con trai thì cũng lo lắng như tôi. Chắc bây giờ chúng muốn lấy vợ thì phải sang xã khác hoặc đi xa hơn mới lấy được vợ” (Nữ, 52 tuổi, nghề đan lưới).

Chính vì thị trường hôn nhân trở nên khó khăn nên không ít nam giới Đại Hợp phải lên các tỉnh miền núi phía Bắc để tìm bạn đời. Con trai khó lấy vợ cùng quê là nỗi lo của các bà mẹ: “Nếu Việt Nam cứ để tình trạng xuất khẩu gái như thế này thì lại như Trung Quốc, Hàn Quốc thôi. Khi ấy con trai Việt Nam lại phải ra nước ngoài tìm vợ” (Nữ, 52 tuổi).

Nỗi lo khó lấy vợ cùng xã là có cơ sở. Các bà mẹ muốn con gái lấy chồng nước ngoài đã tạo điều kiện cho con, không phải làm gì và coi đó như là một sự “đầu tư” vào thị trường hôn nhân “Có cháu học cấp 2,3, tuổi mới lớn “ở nhà rửa bát chưa sạch”, lại được nuông chiều, giờ các gia đình có ý đồ cho con lấy chồng nước ngoài thì không phải làm gì, cho ăn chơi, đi học tiếng giao tiếp Hàn Quốc, nên các cháu mắc bệnh ăn chơi nên không làm gì, quyết tâm lấy chồng nước ngoài”. (Nam giới, Chủ tịch UBND xã).

Tại thời điểm nghiên cứu, Đại Hợp có hai địa điểm dạy tiếng Hàn Quốc, làm dịch vụ dịch giấy tờ, tài liệu có liên quan đến hôn nhân quốc tế Việt Nam – Hàn Quốc. Dự báo xu hướng phụ nữ Đại Hợp lấy chồng nước ngoài vẫn không giảm.

Thay đổi mối quan hệ hàng xóm, láng giềng

Việc phụ nữ kết hôn với người Hàn Quốc là niềm vui, nhưng cũng có những lo lắng. Nhiều người có con lấy chồng nước ngoài tự hào về những ngôi nhà cao tầng khang trang nhờ tiền con gái lấy chồng nước ngoài gửi về. Tuy nhiên, nếu như sự thịnh vượng bên ngoài (nhà cửa, tiện nghi) có thể khiến cho người ta tự hào, thì cũng chính những tiện nghi vật chất, sự giàu sang do có con lấy chồng nước ngoài, lại là rào cản đối với quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng “Bây giờ cái làng này trở thành “làng kiều”. Họ hay nói đùa với nhau thế đấy. Tôi thấy tự hào với cái tên gọi này nhưng chỉ bức xúc là con gái làng đi hết khiến con trai làng không lấy được vợ làng” (Nữ, 50 tuổi).

2.2.    Tác động đến xã hội Hàn Quốc

Thay đổi chương trình, nội dung giáo dục

Số lượng trẻ em hai - dân tộc/chủng tộc trong các cấp tiểu học và trung học lên tới 13,445 em năm 2007, tăng 68,1% so với năm trước (7,998) (Kim 2009). Tỷ lệ trẻ em hai chủng tộc/dân tộc trong tổng số trẻ em đến trường được dự đoán sẽ tăng lên 16% vào năm 2118 và hoặc 26%  (870,000) vào năm 2050. Sách giáo khoa tiểu học do vậy sẽ sớm có những phần về những trẻ em đa dân tộc và các gia đình đa văn hóa, làm rõ nhu cầu hiểu hiết về phông văn hóa của các em và để phát triển các quan điểm, thái độ khoan dung hướng đến các em. Đây là một sự thay đổi lớn từ sự nhấn mạnh một dân tộc thuần nhất và Hàn Quốc như một cộng đồng chỉ có một tổ tiên chung. Đa số các kênh tivi cũng bắt đầu chương trình giải trí với những đặc điểm của các cô dâu nước ngoài và gia đình đa văn hóa. Thậm chí, xã hội Hàn Quốc đã bắt đầu áp dụng các thước đo được chấp nhận trong hiện thực đa văn hóa, ít nhất đối với những người chia sẻ dòng máu Hàn Quốc (Kim 2009).

Thay đổi chính sách xã hội liên quan đến hôn nhân quốc tế

            Những vấn đề liên quan đến phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc không chỉ dừng lại ở một số tác động về gia đình (sự thay đổi về quan niệm gia đình, gia đình đa văn hoá), dân tộc (Hàn Quốc không còn là quốc gia chỉ có một dân tộc thuần nhất), giáo dục (chương trình thay đổi phù hợp với trẻ em đa sắc tộc/con lai) mà còn tác động đến các nhà lãnh đạo Chính phủ Hàn Quốc. Điều này có thể thấy ở những phát ngôn của Chính phủ, Bộ tư pháp và Tổng thống năm 2010, khi có hiện tượng bạo hành dẫn đến tử vong của một số cô dâu Việt Nam. Hàn Quốc kêu gọi đổi mới mạnh mẽ chính sách hôn nhân quốc tế. Tháng 2/2011, Chính phủ Hàn Quốc đã tăng cường giám sát các trung tâm môi giới và mở rộng hoạt động tư vấn cho các cô dâu nước ngoài. Từ tháng 3/2011, những người chồng tương lai sẽ phải cung cấp một bản kê khai tài chính và chứng thực tình trạng hôn nhân của họ, đặc biệt đối với những người đã kết hôn với cô dâu nước ngoài hơn 2 lần trong 5 năm và phải tham gia một lớp học về hôn nhân quốc tế.

Kết luận

-           Xu hướng hôn nhân với người nước ngoài tạo nên các gia đình đa văn hoá (phụ nữ Đại Hợp lấy chồng ở 12 quốc gia thuộc các châu Á, Âu và Bắc Mỹ, trong đó nhiều nhất là Đài Loan và Hàn Quốc).

-           Hôn nhân trong bối cảnh đô thị hoá, công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, diễn ra dưới tác động của nhiều yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như sự biến đổi quan niệm, giá trị, chuẩn mực truyền thống về hôn nhân và gia đình.

-           Từ nghiên cứu trên đây có thể thấy tác động của sự khan hiếm phụ nữ đến quy luật cung - cầu trong việc tìm kiếm bạn đời của nam giới. Đây có thể coi là một thách thức lớn đối với những nam thanh niên đang bước vào tuổi trưởng thành, có ý định tìm kiếm bạn đời ngay trên quê hương mình. Sự thách thức này sẽ càng gia tăng trong bối cảnh mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam. Theo các chuyên gia dân số Liên hợp quốc “sự chênh lệch tuyệt đối giữa quy mô dân số nam và nữ ở Việt Nam vào năm 2050 sẽ khoảng 2,3 đến 4,5 triệu người” (UNFPA, 2009: 46).

-           Sự khan hiếm cô dâu, còn dẫn đến những hệ lụy xã hội khác, có thể dẫn đến sự “cạnh tranh” hay giành giật trong quá trình tìm kiếm bạn đời. Điều này rất có thể xảy ra những hệ lụy trong xã hội.

-           Hôn nhân với người nước ngoài làm gia tăng những gia đình đa văn hoá, có thể dẫn đến những xung đột do sự khác biệt về tiểu văn hoá giữa các vùng, miền, dân tộc (với trường hợp hôn nhân trong nước) hoặc do ngôn ngữ bất đồng, xa lạ về phong tục, tập quán, lối sống (với trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài). Điều này có thể làm tăng nguy cơ bất hoà, mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng, giữa các thành viên gia đình, dẫn đến bạo lực gia đình, ly hôn và những khó khăn trong cuộc sống và học tập của những trẻ em lai...v..v

-           Sự cải thiện về điều kiện sống do những phụ nữ lấy chồng nước ngoài gửi tiền về cho gia đình sắm sửa tiện nghi, xây dựng nhà cửa, tạo nên những “phố mới”, “làng Kiều” không chỉ tạo nên sự phân tầng xã hội về mức sống mà còn tác động đến những gia đình có con gái. Họ mong muốn có chàng rể ngoại quốc và họ đang “đầu tư” cho con gái để tìm kiếm chồng nước ngoài.

-           Kết hôn “đa văn hoá” cũng là một vấn đề đối với địa phương trong quản lý xã hội.

Cần có biện pháp ngăn chặn môi giới hôn nhân bất hợp pháp, xử phạt nghiêm những kẻ lợi dụng hôn nhân quốc tế để tìm kiếm lợi nhuận, lừa dối. Nghiêm trị những kẻ lợi dụng kết hôn với người nước ngoài để buôn bán phụ nữ, lừa đảo.



* Giám đốc, Trung tâm Nghiên cứu Dân số, Môi trường

và Các vấn đề xã hội, Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

Liên kết