TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ NGHIỆP ĐẾN TÂM LÝ THÍCH SINH CON TRAI CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG VÙNG VEN BIỂN

   NGUYỄN THỊ DUNG*


Giới thiệu

Hiện nay ở nước ta, chênh lệch giới tính khi sinh khá cao. Đây là vấn đề chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, nhận thức, giới, sở thích cá nhân đối với hành vi sinh sản… Điều này làm cho công tác DS-KHHGĐ ở vùng ven biển trở nên khó khăn hơn. Tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên của khu vực ven biển cao hơn các khu vực khác. Nhu cầu sinh nhiều con của các cặp vợ chồng vùng ven biển, nhất là sinh con trai còn cao. Bài viết này tìm hiểu “Tác động của nghề nghiệp đến Thích sinh con trai giữa người vợ và người chồng vùng ven biển”, dựa trên kết quả một nghiên cứu tại Hải Hậu, Nam Định (2009). Có 324 cặp vợ chồng được điều tra, trong đó 162 cặp vợ chồng sống tại nông thôn (xã Hải Lý) và 162 cặp vợ chồng sống tại đô thị (thị trấn Thịnh Long).

Nghề nghiệp của đối tượng khảo sát

Việc làm của phụ nữ tập trung vào 3 loại nghề: nông nghiệp (47,5%); kinh doanh, dịch vụ (29,6%) và làm muối (13,3%). Các loại nghề nghiệp khác như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công chức, viên chức nhà nước chiếm tỷ lệ rất thấp: 4% - 5,6%. Nam giới chủ yếu làm 5 loại nghề: nông nghiệp (29%); kinh doanh, dịch vụ (25%); ngư nghiệp (17,6%); làm muối (12,3%) và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (11,7%). Công chức, viên chức nhà nước chỉ chiếm 4,3%.

Cơ cấu việc làm/nghề nghiệp của các cặp vợ chồng có sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn. Tại nông thôn, các cặp vợ chồng có người chồng hoặc người vợ tham gia vào nghề nông nghiệp là 32,1% - 50,6%, trong khi số lượng này tại khu vực đô thị là 25,9% - 44,5%. Tương tự, nghề nghiệp kinh doanh, dịch vụ tại khu vực nông thôn là 13,6% - 19,8%, trong khi tại khu vực đô thị số lượng này là 36,4% - 39,5%; nghề công nghiệp - thủ công nghiệp tại khu vực đô thị là 7,4%  - 17,3%, thì tại khu vực nông thôn là 0,6 % - 6,2%; nghề công chức, viên chức tại khu vực đô thị là 6,8% - 8,6%, nhưng tại khu vực nông thôn là 1,9% - 2,5%. Nghề đánh bắt, nuôi trồng hải sản chỉ có người chồng tham gia và tỷ lệ nghề này tại khu vực đô thị là 13,6%, tại khu vực nông thôn là 21,6% làm muối chỉ có ở khu vực nông thôn mà không xuất hiện tại khu vực đô thị.


Bảng 1. Cơ cấu nghề nghiệp của vợ/chồng theo thành thị-nông thôn

Đơn vị tính: %

Nghề nghiệp

Nông thôn

Đô thị

Ng­ười vợ
 tham gia

Người chồng
tham gia

Người vợ
 tham gia

Người chồng
tham gia

Nông nghiệp

50,6

32,1

44,5

25,9

Làm muối

26,5

27,4

 

 

Ngư nghiệp

 

21,6

 

13,6

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

0,6

6,2

7,4

17,3

Kinh doanh dịch vụ

19,8

13,6

39,5

36,4

Công chức, viên chức

2,5

1,9

8,6

6,8

 

 

 

 

 


Quan niệm của người vợ/chồng về con trai

Cả người vợ và người chồng làm nghề đánh bắt nuôi trồng hải sản, muối, và nông nghiệp đều có mong muốn có con trai để “có sức lao động” với tỷ lệ cao hơn so với nghề khác. Gần 90% người chồng làm ngư nghiệp cho rằng cần có sức lao động của con trai. Các nghề còn lại, sở thích sinh con trai để sau này con mình có “nhiều cơ hội có việc làm” chiếm tỷ lệ cao so với nông nghiệp, làm muối và đánh bắt nuôi trồng hải sản.


Bảng 2. Quan niệm vợ/chồng về con trai theo nghề nghiệp

Đơn vị tính:%

Nghề nghiệp

Người vợ

Người chồng

Có sức lao động

Nhiều cơ hội việc làm

Có sức lao động

Nhiều cơ hội việc làm

Nông nghiệp

47,2

29,2

44,8

26,4

Làm muối

72,5

22,5

70,3

18,9

Ngư nghiệp

 

 

89,5

5,3

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

15,4

61,5

9,1

78,7

Kinh doanh, dịch vụ

23,6

46,1

1,3

57,9

Công chức, viên chức

 

55,6

 

50

 

 

 

 

 


Sở thích về số lượng con trai: Sở thích về số lượng con trai ở đây (mà cuộc khảo sát đề cập tới) tối thiểu là 01 con, tối đa là 02 con.


Bảng 3. Sở thích về số lượng con trai của vợ/chồng theo nghề nghiệp

Đơn vị tính:%

Nghề nghiệp

Người vợ muốn có

Người chồng muốn có

1 con trai

2 con trai

1 con trai

2 con trai

Nông nghiệp

56,3

43,8

64,4

35,6

Làm muối

52,5

47,5

56,8

43,2

Ngư nghiệp

 

 

19,3

80,7

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

92,3

7,7

84,8

15,2

Kinh doanh, dịch vụ

69,7

30,3

84,2

15,8

Công chức, viên chức

100

 

100

 

 

 

 

 

 


Theo số liệu bảng trên, cả người vợ và người chồng làm công chức, viên chức đều có cùng sở thích với tỷ lệ tuyệt đối: 100% thích có 1 con trai, 0% thích 2 con trai. Điều này phản ánh đúng tâm lý có cả nếp, cả tẻ và phù hợp với chính sách dân số “mỗi gia đình chỉ có từ 1 hoặc 2 con”; đồng thời cũng phản ánh được việc thực hiện chính sách dân số của nhóm công chức, viên chức được khảo sát.

Sự khác biệt về sở thích sinh con trai được thể hiện rất rõ ở 3 nghề nghiệp còn lại. Theo đó, sở thích sinh 1 con trai thuộc nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có tỷ lệ cao nhất 92,3% đối với người vợ và 84,8% đối với người chồng. Sở thích sinh 1 con trai có tỷ lệ thấp nhất thuộc về người chồng làm nghề đánh bắt nuôi trồng hải sản, nhưng cũng ở đối tượng này sở thích sinh 2 con trai có tỷ lệ cao nhất trong tất cả các đối tượng được khảo sát. Điều này phản ánh một thực tế là việc đánh bắt, nuôi trồng hải sản cần và cần nhiều lao động nam giới. Đây là đặc thù nghề nghiệp.

Sở thích sinh 1 con trai và 2 con trai ở người vợ và người chồng làm nông nghiệp, muối có tỷ lệ chênh lệch không quá lớn, cũng cho thấy nhu cầu cần lao động là nam do đòi hỏi của nghề nghiệp cần lao động là nam giới càng nhiều càng tốt.

Tóm lại, người vợ, người chồng ở tất cả 6 nghề đều thích sinh 1 con trai và 2 con trai (trừ những người là công chức, viên chức). Đối với những nghề cần sức lao động nam thì người chồng có sở thích sinh 1 con trai hơn người vợ và ngược lại.

Sở thích về thứ tự con trai

Có sự khác biệt rõ rệt giữa ưa thích sinh con trai đầu và con trai thứ. Ưa thích sinh con trai đầu có tỷ lệ cao thuộc về người vợ, người chồng làm nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhất là đối với người vợ làm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (100% thích sinh con trai đầu). Ngược lại người vợ, người chồng làm nghề kinh doanh, dịch vụ và công chức viên chức thích sinh con trai thứ có tỷ lệ cao hơn so với con trai đầu.


Bảng 4. Sở thích về thứ tự con trai của vợ/chồng theo nghề nghiệp

Đơn vị tính:%

Nghề nghiệp

Người vợ muốn có

Người chồng muốn có

Con trai đầu

Con trai thứ

Con trai đầu

Con trai thứ

Nông nghiệp

79,2

20,8

79,3

20,7

Làm muối

82,5

17,5

86,5

13,5

Ngư nghiệp

 

 

94,7

5,3

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

100

 

63,6

36,4

Kinh doanh, dịch vụ

49,4

50,6

25,5

64,5

Công chức, viên chức

22,2

77,8

35,7

64,3

 

 

 

 

 


Về mức độ thích sinh con trai

Mức độ thích sinh 1 con trai: Hầu hết người vợ, người chồng ở các nghề nghiệp có sở thích sinh 1 con trai ở mức độ “bắt buộc phải có”, tỷ lệ cao nhất thuộc về những người có làm nghề nông nghiệp, diêm nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng hải sản, trong khi đó không có người vợ người chồng là công chức, viên chức có sở thích bắt buộc phải có 1 con trai”.

Cả người vợ và người chồng có làm nghề nông nghiệp, diêm nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng hải sản cho biết sở thích sinh 1 con trai ở họ là “bắt buộc phải có” với tỷ lệ cao nhất, trong khi đó, tỷ lệ cao nhất với sở thích sinh 1 con trai ở mức độ “cần thiết phải có” lại là công chức, viên chức, tiếp đó là người thuộc nghề nghiệp kinh doanh, dịch vụ.


Bảng 5. Mức độ thích sinh 1 con trai của vợ/chồng

Đơn vị tính:%

Nghề nghiệp

Người vợ

Người chồng

Bắt buộc  phải có

Cần thiết  phải có

Bắt buộc  phải có

Cần thiết  phải có

Nông nghiệp

63,0

37,0

78,6

21,4

Làm muối

90,5

9,5

90,5

9,5

Ngư nghiệp

 

 

100

 

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

 

 

 

 

Kinh doanh, dịch vụ

14,5

85,5

100

 

Công chức, viên chức

 

100

17,9

82,1


Nhận xét

- Người vợ, người chồng làm nghề nông nghiệp, làm muối, đánh bắt nuôi trồng hải sản - nghề cần nhiều sức lao động, cần nhiều con trai để đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp, thì mong muốn sinh con trai, sinh con trai đầu lòng mạnh mẽ hơn so với người vợ, người chồng làm các nghề khác.

- Ưa thích sinh con trai để sau này con mình có nhiều cơ hội có việc làm cho thấy sự bất bình đẳng giới trong tuyển dụng lao động đang tồn tại không chỉ ở vùng biển, đảo và ven biển mà còn là thực trạng chung ở nước ta hiện nay.

- Tác động từ nghề nghiệp ảnh hưởng nhiều đến hành vi sinh đẻ của cư dân khu vực này, nhất là đối với người làm nông nghiệp, muối.

Khuyến nghị

- Tăng cường công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về bình đẳng giới

- Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm hiện đại hóa các ngành nghề, giảm sức lao động cơ bắp, có việc làm cho lao động nữ.

- Có sự cải thiện trong việc tuyển dụng lao động trên cơ sở bình đẳng giới - đảm bảo nguyên tắc: Không phân biệt nam nữ trong tuyển dụng lao động.



* Viện Xã Hội học- Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh.

 

Liên kết