NHỮNG VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,  HIỆN ĐẠI HOÁ

VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI

GS. Phùng Thế Trường*

 

I. Nguồn nhân lực (NNL) trong tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội

Nguồn nhân lực là những người nằm trong độ tuổi lao động. ở Việt Nam hiện nay, theo Bộ Luật lao động, NNL bao gồm: Nam từ 15 – 60; Nữ từ 15 – 55 tuổi. Việc định ra giới hạn trên ở độ tuổi lao động sẽ có ảnh hưởng tới quy mô của NNL. Giữa các nước trên thế giới không có sự giống nhau.

 NNL là một khái niệm dùng chung, nhưng phạm vi rộng, hẹp có khác nhau. Thường hay dùng là: NNL toàn quố; NNL của địa phương (tỉnh, thành phố);  NNL trong một vùng kinh tế; NNL của một trong một doanh nghiệp. Ngoài ra, người ta cìn phân loại  NNL ra thành: NNL ở nông thôn, NNL ở đô thị, NNL hoạt động ở ba khu vực lớn gồm các ngành sản xuất và dịch vụ.

Tuy nhiên, không phải tất những người thuộc NNL cả nước đều tham gia vào hoạt động sản xuất xã hội cả mà cần trừ đi (theo quy ước, để tiện cho việc quản lý):

- Những người không có khả năng lao động

- Những người nôi trợ trong gia đình

- Học sinh, sinh viên đang đi học

- Quân đội (do tính chất đặc thù của hoạt động quân sự)

Sau khi trừ đi khỏi NNL. Như vậy, LLLĐ là bộ phận lớn nhất của NNL và là bộ phận trực tiếp tham gia vào sản xuất xã hội. Lực lượng lao động được thống kê theo hai bộ phận: Một là: Những người có việc làm, hai là: Những người thất nghiệp, muốn làm việc, đang tìm việc làm trên thị trường lao động.

II. Phân tích những đặc điểm chủ yếu của  NNL Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam,  NNL luôn luôn ở vị trí trung tâm, đảm nhiệm vai trò giữ gìn độc lập dân tộc, chống mọi thế lực ngoại xâm và vai trò xây dựng đất nước trong thời kỳ hoà bình. Con người Việt Nam có nhiều tác phẩm chất tốt đẹp, khi phân tích về  NNL rất cần được làm sáng tỏ. Một số công trình nghiên cứu, một số học giả cho rằng, người Việt Nam có những phẩm chất quý như sau:

- Siêng năng, cần cù lao động

- Có sức chịu đựng dẻo dai

- Thông minh, nhanh hiểu

- Năng động, thích nghi với cái mới nhanh

- Có lòng yêu nước rất cao

- ý  chí kiên cường, không chịu khuất phục

- Đoàn kết, ý thức cộng đồng cao

- Rất khéo léo trong lao động thủ công

- Khả năng bắt chước giỏi, nhanh

- Sống lạc quan, có khiếu hài hước, châm biếm và thường nghiêng về tình cảm

- Có đầu óc sáng tạo trong lao động, đặc biệt trong quân sự.v.v…

Những phẩm chất quý báu trên cần được bồi đắp, làm cho phát triển và cần được huy động khai thác cho công cuộc xây sựng trong thời kỳ đổi mới.

Tuy nhiên, trước hết thách thức của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, của yêu cầu công nghiệp hoá, và hội nhập kinh tế thế giới, cần phải nói cả đến một số nhược điểm của con người, của NNL Việt Nam để khắc phục như:

- Thể kực còn có chỗ bị hạn chế (chiều cao, cân nặng) do người Việt Nam phải đương đầu lâu dài với chiến tranh, bị suy dinh dưỡng.

- Tính kỷ luật và ý thức tổ chức có một bộ phận chưa cao do chịu ảnh lâu đời của sản xuất tiểu nông.

- Tác phong, lề lối làm việc của sản xuất công nghiệp hiện đại còn đang hinh thành (còn lãng phí thời gian, tiền của, không đúng thời gian quy định, một số xem thường pháp luật …)

Dưới đây là sự phân tích  NNL Việt Nam theo 8 đặc điểm chủ yếu:

1. Quy mô  NNL

Việt Nam có quy mô NNL đông. Tính đến 1/7/2003, quy mô đó gồm 42 triệu người, trong đó, thành thị 10 triệu người, nông thôn 32 triệu người. Quy mô  NNL có quan hệ chặt chẽ với quy mô của dân số. Dân số Việt Nam lớn, xếp thứ 13 trong số 30 nước đông dân nhất thế giới. Tỷ trọng của NNL trong dân số rất cao sấp sỉ 56%. Dự báo, từ nay đến 2050, dân số và NNL vẫn tiếp tục tăng và sẽ có quy mô lớn hơn nữa. Nếu dân số ởn đinh như mong muốn, vào giữa thế kỷ XXI, Việt Nam sẽ có khỏng 120 – 125 triệu người. Từ đó,  NNL sẽ có quy mô hơn 60 triệu. Nhưng đây là dự báo thấp. Có dự báo cao hơn cho là năm 2020, NNL đã có 68 triệu người.

 NNL quy mô lớn sẽ có hai mặt:

- Thứ nhất, rất thuận cho việc thực hiện và mở rộng phân công lao động xã hội. Việt Nam không bị thiếu nhân lực. Ngược lại, NNL rất dồi dào

- Thứ hai, nếu sử dụng chưa hết và chưa đạt hiệu quả kinh tế cao sẽ thường xuyên gây áp lực mạnh đối với kinh tế. Tình hình hiện nay đang diễn ra như vây. Nguyên nhân có thể kể ra: do quy mô dân số lớn và tăng cao trong thời kỳ trước; do chiến tranh tàn phs nên khi ra khỏi chiến tranh, kinh tế yếu kém chưa tạo ra nhiều cầu, trong khi cung lao động (NNL) lại lớn.

Với quy mô NNL hiện nay và trong tương lai, đòi hỏi Việt Nam cần xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong đó hết sức chú ý đến sử dụng được hết và có hiệu cao NNL vao tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội. Cần thấy hết khó khăn của Việt Nam là nước có đặc điểm: người đông, đất hẹp, tài nguyên thiên nhiên đa dạng nhưng không phải vô tân.

2. Tỷ lệ tăng hàng năm của NNL

Trong nhiều năm tỷ lệ tăng bình quân hàng năm của NNL đều lớn hơn tỷ lệ tăng bình quân năm của dân số. Tỷ lệ tăng của NNL cao có nguồn gốc ở  cấu dân số trẻ và tỷ lệ tăng dân số những  năm trước. Số người từ 0 – 14 tuổi đông đảo, ở phần dưới của tháp tuổi dân số, bước vào tuổi lao động hàng năm nhiều. Mỗi năm có từ 1,3 - 1,4 triệu người bước vào tuổi lao động, đòi hỏi công việc làm. NHư vậy, ngoài quy mô thì tỷ lệ tăng hàng năm NNL cũng gây sức ép lên kinh tế.

Tỷ lệ tăng bình quân của dân số và NNL NNL Việt Nam

Đơn vị : %

Thời kỳ

 

Tỷ lệ tăng hàng năm

dân số

Tỷ lệ tăng hàng năm NNL

1960- 1975

3,05

3,20

1975 –1980

2,45

3,47

1980 – 1990

2,25

3,20

1991 – 1994

2,30

2,80

1995 – 2000

1,80

2,05

2001 – 2005

(dự báo)

1,50

2,05

3. Cơ cấu NNL

Có thể xem xét cơ cấu NNL theo các độ tuổi; theo nông thôn - thành thị; theo ba khu vực lớn của nền kinh tế.

a) Cơ cấu NNL theo theo các độ tuổi

NNL Việt Nam tập trung ở nhóm người trẻ, từ 15-34 tuổi chiếm hơn 50%. Nhóm người ở độ tuổi trung niên từ 35 – 54 tuổi chiếm hơn 42%. Số nhân lực cao tuổi chiếm khoảng 7%. NNL trẻ gắn với những điểm mạnh như sức khỏe tốt, năng động, đễ tiếp thu cái mới, nắm bắt công nghệ nhanh, di chuyển dễ dàng. Nếu được học văn hoá, học nghề đến nơi đến chốn, họ sẽ phát huy tác dụng rất tốt (năng suất lao động, chất lượng sản phẩm).

b) Cơ cấu NNL theo nông thôn, thành thị

NNL ở nông thôn chiếm đại bộ phận: 76% NNL thành thị chiếm 24%. (Bảng cơ cấu nguồn nhân lực qua các năm1)

Sự biến động thay đổi theo hướng NNL ở thành thị tăng, NNL ở nông thôn giảm là biểu hiện đúng xu hướng của công nghiệp hoá. Tuy nhiên, sự biến đổi diễn ra còn chậm, chưa được nhiều vì tỷ trọng của NNL nông thôn vẫn còn rất lớn. Xét theo cơ cấu lao động trên, Việt Nam về cơ bản còn là một nước nông nghiệp.

b) Cơ cấu NNL theo 3 khu vực lớn của nền kinh tế

Ta thấy, NNL Việt Nam có cơ cấu còn khá lạc hậu. So sánh với một số nước trong khu mới công nghiệp hoá và một số nước công nghiệp phát triển trên toàn thế giới sẽ thấy Việt Nam còn nhiều để dịch chuyển cơ cấu NNL của mình theo hai chặng đường: công gnhiệp hoá và hậu công nghiệp (thực hiện của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại).

Cơ cấu nguồn nhân lc qua các năm

 

 

1996

1997

1998

1999

2000

2003

Nông thôn

80,96

79,80

79,56

77,71

77,44

76

Thành thị

19,06

20,20

20,45

22,29

22,56

24

Cơ cấu NNL theo 3 khu vực

 

Nước

Khu vực I

(Nông-lâm-ngư)

Khu vực II

(Các ngành công nghiệp)

Khu vực III

(Các ngành dịch vụ)

Việt Nam

59

16,4

24,6

Singapore

 

34

66

Hàn Quốc

15

33

52

Malaysia

26

28

46

Anh

2

30

68

Pháp

5

28

67

Mỹ

3

24

73

úc

5

24

71

Nhật

6

34

60

Nguồn: ILO, World Labour Report, 1995

Cơ cấu NNL càng nghiêng về khu vực I nhiều, có nghĩa xã hội đó có trình độ năng suất lao động xã hội còn thấp. Khi năng suất lao động xã hội cao, không cần phải đông NNL trong các ngành sản xuất vật chất như trước mà NNL đại bộ phận di chuyển sang khu vực III gồm những ngành không sản xuất vật chất. Điều này hoàn toàn diễn ra đúng như sự đoán của C.Mác.

4. Phân bố  NNL nông thôn trên ha đất nông nghiệp

Hiện nay, đại bộ phận NNL phân bố làm nông nghiệp. Nhưng quỹ ruộng đất nông nghiệp của Việt Nam không lớn: 7 triệu ha. Vì vậy số người lao động bình quân cả nước tham gia canh tác trên 1 ha đất nông nghiệp là 3,34. Nếu tính theo 7 vùng kinh tế, mật độ laio động nông nghiệp/ha đâts nông nghiệp chênh lệch nhau. Đặc biệt, vùng đồng bằng sông Hồng: 7,47 người lao đông/ha, nói lên rất rõ  NNL đông trong khi ruộng đất ít.  NNL ở đây còn tiếp tục tăng nhưng ruộng đất vẫn đứng nguyên. Trong khi đó ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có mật độ còn thấp hơn nhiều so với đồng bằng sông Hồng. Các vùng kinh tế khác như Khu IV cũ, duyên hải miền Trung, miền núi Bắc Bộ có những đặc điểm về địa lý tự nhiên của từng vùng. Nhưng nhìn chung về địa hình, về khí hậu, thời tiết không được thuận lợi nhiều so với sản xuất nông nghiệp so với các vùng đồng bằng.

Phân bố NNL không đều, làm hạn chế việc khai thác tiềm năng của đất, của biển và vùng ven biển còn đang chứa đựng nhiều khả năng tiềm tàng để Việt Nam tăng GDP.

NNL thủ công và  NNL được đào tạo

Tính đến 1/7/2003 NNL được đào tạo 8,8 triệu người chiếm 21%. Đó là một tỷ lệ còn rất thấp so với yêu cầu. Cũng có nghĩa là, số người chưa qua đào tạo, làm lao động thủ công còn quá lớn, sấp sỉ 80%. Số người chưa qua đào tạo tập trung ở nông thôn nhiều (gần 88% NNL ở nông thôn). Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này kỹ hơn khi bàn về khi bàn về phát triển NNL ở mục dưới.

6.  NNL trong nông nghiệp, nông thôn chưa được sử dụng hết nên còn thừa nhiều

 NNL trong nông nghiệp, nông thôn gồm 32 triệu người. Nói cách khác, nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang là lĩnh vực dung nạp nhiều NNL nhất, tạo ra nhiều việc làm thủ công nhất. Tuy nhiên, ở tất cả các vùng kinh tế, tỷ lệ thời gian được sử dụng vào hoạt động kinh tế còn chưa cao.

Như vậy, nông nghiệp, nông thôn bình quân mới sử dụng được 75% quỹ thời gian lao động bị thiếu việc làm.

Theo kết quả điều tra của Trung tâm Dân số và nguồn lao động (Bộ Lao động): quỹ thời gian lao động của một lao động nông nghiệp trong năm bằng 280 ngày (sau khi đã trừ đi các ngày nghỉ tết, lễ hội, ốm khoảng 85 ngày). Vì vậy 25% quỹ thời gian lao động – năm 70 ngày, tức hơn 2 tháng. Thiếu việc làm sẽ giảm thu nhập (bằng hiện vật hoặc bằng tiền) do đó, ảnh hưởng đến mức sống. Công việc làm thiếu, lao động giản đơn thừa nên đã hình thành dòng người di cư tạm thời nông thôn – thành thị để kiếm công việc làm, tăng thêm thu nhập, bù đắp thêm cho thu nhập do nông nghiệp đưa lại không đủ sống cả năm (đặc biệt rõ ở các thành phố lớn).

Như vậy, NNL ở nông nghiệp, nông thôn nổi lên hai vấn đề: lao động thủ công chưa được đào tạo con thiếu và còn thiếu việc làm.

Trong các đô thị, NNL còn thất nghiệp khoảng 7%

Thất nghiệp ở đô thị thường luôn biến đông, khi tăng, khi giảm, và gắn liền với các cơ chế thi trường. Nói cụ thể hơn, gắn với cung cầu trên thi trường lao động. Theo điều tra lao động  - việc làm năm 2001, trong đô thị tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15 –24 tuổi) là 13,7% (Nguồn tư liệu: Trịnh Việt Khánh “Việc làm cho thanh niên, những thách thức mới”. Hà Nội, 23/10/2003). Nguyên nhân thất nghiệp ở các đô thị lớn ở Việt Nam có liên quan đến:

- Người bước vào tuổi lao động không đáp ứng được với cầu của thị trường lao động.

- Việc phân luồng đối với học sinh ở THCS và THPT chưa tốt. Số người rẽ sang học nghề (công nhân kỹ thuât và trung học chuyên nghiệp) còn thấp. Do tâm lý, do cơ chế, do tổ chức, do nhận thức nên dồn lên thi ở bậc cao đẳng và đại học nhiều.

- Khi học hết văn hoá ở PTCS và PTTH, thôi học nhưng chưa có nghề

- Đào tạo thừa so với nhu cầu thị trường lao động

- Tốt nghiệp xong không muốn làm việc xa thành phố, chen nhau tìm việc trong khi cầu đã được thoả mãn.

- Bộ đôi hết nghĩa vụ quân sự về không được dậy nghề trước khi xuất ngũ (thanh niên xung phong cũng có tình hình tương tự)

       - Cơ quan, xí nghiệp giảm biên chế

       - Người đi tù, đi cải tạo về

       - .v.v…

Chất lượng NNL còn bộc lộ những điểm bất cập so với yêu cầu của công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế thế giới:

- Về thể lực (cân nặng, chiều cao, độ dẻo dai)

- Về số người được đào tạo

Về kiến thức khoa học và công nghệ

Về kỹ năng, kỹ sảo trong sản xuất (tay ngề, năng lực thực hành)

Về cơ cấu đào tạo

Do đó, trong chiến lược phát triển NNL chúng ta cần khắc phục nhằm nâng cao chất lượng NNL (so với một số nước trong khu vực và so với quốc tế).

Việc phân tích NNL ở trên nhằm làm rõ các đặc điểm chủ yếu cả về hai mặt số lượng và chất lượng NNL. Tuy nhiên việc tiến hành công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế ở thời đại khoa học công nghệ hiện đại, vấn đề phát triển NNL như  thế nào là vấn đề cần đặt lên hàng đầu.

III. Phát triển NNL Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp

hoá và hội nhập kinh tế thế giới.

1. Thực chất, tầm quan trọng và những yêu cầu cơ bản

Phát triển NNL Việt Nam là tạo ra sự thay đổi về chất lượng của NNL về các mặt thể lực, trí lực, chuyên môn khoa học – kỹ thuật, phẩm chất và nhân các để đáp ứng đòi hỏi cao của kinh tế, văn hoá, xã hội, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và xu hướng phát triển của kinh tế thế giới.

Đó là sự nghiệp co tầm quan trọng quyết định đến công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam. Nói cách khác, muốn công gnhiệp hoá và hội nhập kinh tế thế giới thành công cần có nhiều điều kiện, trong đó phát triển.

Như vậy, vị trí, vai trò của Nhà nước trong việc thúc đẩy thị trường lao động phát triển là rất rõ ràng.

Nhà nước thực hiện chức năng và quyền lực can thiệp vào rhi trường lao động thông qua công cụ pháp luật.

Nhà nước hướng dẫn thị trường lao động theo định hướng xã hội chủ nghĩa để đảm bảo thực hiện các mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Nhà nước khuyến khích mọi người làm giàu bằng chính sức lao động, tài năng, tài sản và vốn kinh doanh của mình một cách chính đáng, không được lừa bịp, làm trái pháp, không tôn trọng nhân phẩm của con người, lao động và sống có văn hoá.

Nhà nước là người tổ chức và thúc đẩy cho thị trường lao động ra đời, phát triển thông qua nhiều chủ trương, chính sách và hoạt động của mình. Ví dụ: tổ chức, thúc đẩy thị trường cho xuất khẩu lao động.

Tuy nhiên, Nhà nước để thị trường lao động vận hành một cách tự nhiên theo cơ chế thị trường (cung, cầu, cân bằng, không cân bằng, giá cả sức lao động điều tiết cung cầu).

IV. Các yếu tố tác động và xu hướng phát triển NNL

Các yếu tố tác động đến NNL và phát triển NNL

Quá trình phát triển NNL ở Việt Nam, diễn ra dưới sự tác động của các yếu tố dưới đây:

Công nghiệp hoá và hiện đại hoá.

Hội nhập kinh tế thế giới.

Đổi mới khoa học, công nghệ.

- Phát triển thị trường trong và ngoài nước. (trong đó có thị trường lao động)

Các yếu tố trên vừa thúc đẩy, vừa đòi hỏi sự phát triển NNL phải nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của chúng.

a)Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tác động đến NNL và phát triển NNL .

Thực chất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình biến đổi một cách căn bản nền kinh tế cũ (cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất) vốn nghèo, lạc hậu, dựa trên sản xuất thủ công, năng suất lao động thấp, tự cung tự cấp là chính sang một nền kinh tế khác hẳn về chất. Nền kinh tế đã hoàn thành công nghiệp hoá, hiện đại hoá dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật cao hơn hẳn, lực lượng sản xuất phát triển với hệ thống quan hệ sản xuất thích hợp, năng suất lao động xã hội cao, tổng sản phẩm trong nước (GDP) có quy mô lớn v.v… Các quá trình thay đổi lớn và mạnh mẽ đơ sẽ tác động toàn diện đến mọi mặt sản xuất cũng như đời sống xã hội ở Việt Nam. Đối với NNL, qua trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ thúc đẩy sự phát triển, sự thay đổi về nhiều mặt. Chẳng hạn, nó làm thay đổi cơ cấu NNL, làm biến chuyển từ cơ cấu lạc hậu sang một cơ tiến bộ hơn: cơ cấu các khu vực lớn trong kinh tế, cơ cấu NNL ở từng vùng, từng địa phương cho đến cơ cấu NNL trong nội bộ từng doanh nghiệp. Về phương diện lý luận, đây là điều hiển nhiên. Vì lẽ, yếu tố lao động trong kinh tế được coi là yếu tố dẫn xuất; vì nhu cầu về yếu tố sản xuất này được dùng để sản xuất. Đến lượt nó sản lượng sản xuất lại phải nhắm vào nhu cầu của thị trường.

Do đó, có thể nói, công nghiệp hoá và hiện đai hoá là một yếu tố tác động rất mạnh đến NNL và phát triển NNL.

b) Hội nhập kinh tế thế giới tác động đến NNL và phát triển NNL

Quá trình hội nhập kinh tế thế giới là một quá trình giao lưu, trao đổi giữa Việt Nam và các nước trên thế giới về hàng hóa, dịch vụ, tiền tệ, công nghệ mới, NNL… theo hai chiều ra, vào. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ mới vào Việt Nam kéo theo công việc làm, kéo theo các nghề mới, kéo theo kinh nghiệm và kỹ năng quản lý… Những diễn biến này tác động trực tiếp vào NNL  và phát triển NNL của Việt Nam phải có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường thế giới. Muốn cạnh tranh được, muốn bán được hàng cần có nhiều điều kiện. Tuy nhiên, có hai điều kiện quyết định là, hàng hoá phải có chất lượng và giá cả phải được thị trường chấp nhận. Muốn đạt được hai điều đó phải dựa vào công nghệ mới và NNL (công nhân, kỹ sư, nhà kinh tế) có chất lượng tốt.

c) Đổi mới khoa học, công nghệ tác động đến NNL vàphát triển NNL

ở Việt Nam đang diễn ra quá trình đổi mới khoa học, công nghệ. Quá trình đó bao gồm nhiều mặt, nhiều dạng hoạt động nhưng chủ yếu tập trung chú ý vào đổi mới công nghệ: nhập công mới, nắm bắt và đưa công nghệ mới vào sản xuất, cải tiến và sáng tạo ra công nghệ. Công nghệ mới bao gồm các thành phần chính: thiết bị, kỹ thuật; phương pháp chế tạo sản phẩm (còn có khi gọi là bí mật sản xuất); công nhân, kỹ sư am hiểu công nghệ mới; tổ chức, quản lý công nghệ mới. Quá trình đổi mới công nghệ diễn ra rộng khắp, từ các doanh nghiệp, các công ty, hợp tác xã, các ngành, các địa phương. Quá trình này kéo theo sự đổi mới về NNL, nhiều khi đột biến. Vì  có một số ngành, một số lĩnh vực, Việt Nam chủ trương đi thẳng lên trình độ công nghệ hiện đại: hàng không, công nghệ thông tin, thăm dò, khai thác, chế biến dầu lửa; bưu chính viễn thông v.v…

Trong lịch sử phát triển của loài người, bao gồm các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cũng dẫn đến sự biến đổi có tính cách mạng, sự biến đổi về chất của lực lượng sản xuất ấy. Trường hợp của Việt Nam cũng là như thế. Sự đổi mới khoa học, công nghệ đang và sẽ tác động ngày càng mạnh đến NNL và phát triển NNL .

Phát triển thị trường và ngoài nước (trong đó có thị trường lao động).

Phát triển thị trường đồng nghĩa với phát triển, mở rộng cả nước và ngoài nước (trong đó bao gồm cả thị trường lao động).

Thị trường là nơi phát ra những tín hiệu về nhu cầu đủ loại trong đó có nhu cầu của thị trường về các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, đất đai. Nhu cầu lớn, đa dạng, có chất lượng (thạm chí chất lượng cao và rất cao) của thị trường đối với yếu tố lao động thường xuyên tác động mạnh đến NNL và phát triển NNL. NNL cũ, lạc hậu, không nắm bắt được công nghệ mới, năng suất lao động thấp, không được học tập văn hoá, không được đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật… sẽ khó gia nhập thị trường trong và ngoài nước; đặc biệt là các thị trường kén chọn kỹ chất lượng NNL (khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao…).

Như vậy, ta thấy, NNL và phát triển NNL ở Việt Nam có sự tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố. Các yếu tố đó đồng thời cùng diễn ra trong quá trình công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế thế giới.Từng yếu tố có sức tác động riêng đến NNL và phát triển NNL nhưng chúng không tách rời nhau mà có sự bổ sung cho nhau. Mặt khác, chúng có liên quan chặ chẽ với nhau. Chẳng hạn, giữa công nghiệp hoá và đổi mới khoa học công nghệ (vì thực chất công nghiệp hoá là thực hiện cách mạng khoa học, công nghệ); hoặc giữa phát triển thị trường và hội nhập kinh tế thế giới (muốn mở rộng, phát triển thị trường và hội nhập và ngược lại, hội nhập sẽ mở rộng quy mô của thị trường).


* §¹i häc kinh tÕ quèc d©n, Hµ Néi

1Số liệu từ 1996 - 2000 trích kết quả điều tra lao động - việc làm 1/7/2000, Thông tin Dân số 6 -2000