XÁC LẬP CÁC TIÊU CHÍ MÔI TRƯỜNG CHO ĐIỂM TÁI ĐỊNH CƯ BỀN VỮNG  NGHIÊN CỨU TẠI THÁI NGUYÊN VÀ QUẢNG NAM

Nguyễn Đình Hoè*

Giới thiệu chung

Tái định cư – TĐC (Resetlement) là việc lập một nơi ở, một quần cư mới cho một nhóm hộ gia đình hoặc một cộng đồng vì những lý do rất khác nhau, theo Ngân hàng thế giới, cứ mỗi thập kỷ trên toàn cầu lại có khoảng 100 triệu người phải TĐC. ở nước ta, theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn năm 2003, mỗi năm có khoảng 40-50 dự án TĐC với số lượng hộ dân phải di chuyển trung bình là 100 ngàn hộ.

Tổng kết sự thành bại của nhiều dự án TĐC trên toàn cầu (đại bộ phận là ở các nước đang phát triển), tổ chức Nông-Lương thế giới (FAO) đã nhận ra một quy luật: “Đánh giá môi trường đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định tính khả thi của một mô hình TĐC”, và “việc lập kế hoạch TĐC sơ sài làm cho con người dễ bị tấn công bởi hàng loạt hiểm hoạ như ngập lụt, bệnh tật, nghèo đói…”. Chính vì thế, năm 1991, FAO đã công bố tài liệu “Chỉ dẫn cho dự án Tái định cư ở vùng nhiệt đới ẩm”. Tuy nhiên nội dung các tiêu chí môi trường của Chỉ dẫn chỉ tập trung vào thiên tai ở điểm TĐC và những kiểm kê tài nguyên thiên nhiên. Đó cũng là các tiêu chí định tính, có giá trị lược duyệt. Trên thực tế bản “Chỉ dẫn…” của FAO vẫn chưa hề được ứng dụng đầy đủ cho các dự án TĐC trong nước, nhất là các dự án do cấp tỉnh và huyện quản lý và thực hiện.

Trên thực tế, việc lựa chọn điểm TĐC trong nước hiện nay mới chỉ tập trung vào các tiêu chí kinh tế – kỹ thuật, xã hội và an ninh quốc phòng. Các tiêu chí môi trường hầu như không được đề cập, làm cho không ít dự án TĐC không thực sự thành công. Có nhiều lý do khác nhau của thực tế này, nhưng quan trọng hơn cả là các hướng dẫn môi trường cho dự án TĐC, hoặc thiếu, hoặc quá rườm rà và định tính khiến cho việc đáp ứng các đòi hỏi này trong khâu lập dự án thường bị bỏ qua hoặc được làm chiếu lệ. Trên thực tế, trừ các dự án TĐC có vay vốn hay tài trợ quốc tế đòi hỏi phải lập báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) nghiêm ngặt, các dự án TĐC từ nguồn tài chính trong nước cho đến nay thường bỏ qua hoặc làm chiếu lệ khâu xây dựng và thẩm định báo cáo ĐTM, nhất là các dự án cấp tỉnh trở xuống.

Thực tế trên đòi hỏi phải lựa chọn, tinh giảm các tiêu chí môi trường sao cho, một mặt đảm bảo tính an toàn về môi trường của điểm TĐC được chọn, mặt khác dễ áp dụng, dễ thẩm định và kiểm soát bởi các chuyên gia xây dựng và thẩm định dự án. “Không quá phức tạp để tránh bị bỏ qua” - đây chính là nguyên tắc tối thiểu, tuy thực dụng nhưng không hề kém hiệu quả trong thực tế lựa chọn và xây dựng các điểm TĐC.

Các tiêu chí môi trường cần cho một điểm TĐC bền vững

Các tiêu chí môi trường tối thiểu cho một điểm TĐC bền vững gồm 2 nhóm:

Nhóm tiêu chí an toàn sinh thái gồm 6 tiêu chí:

Không xảy ra các loại thiên tai sau đây: lũ quét, trượt lở, xói lở, lún sụt, lũ lụt hàng năm, sét đánh (trên 3 lần/năm). Đây là các loại thiên tai gắn với bản chất của hệ thống địa sinh thái bất lợi.

Không có dị thường phóng xạ tự nhiên cao hơn tiêu chuẩn môi trường: đây là phóng xạ tạo ra do đất đá có chứa các khoáng vật xạ. Tiêu chuẩn tạm thời của Việt Nam (1983) là cường độ phóng xạ nhỏ hơn 0,1 Rem/năm.

Không nằm trong các hệ sinh thái tự nhiên nguy hiểm: các ổ dịch địa phương hình thành tại các hệ sinh thái độc hại (sán lá phổi, sán máng, sốt vàng, dịch hạch…) hoặc điểm TĐC có chế độ vi khí hậu độc hại đến mức phát sinh bệnh tật.

Không còn sót bom mìn hay chất độc hoá học từ thời chiến tranh chưa được làm sạch.

Không nằm trong hành lang bảo vệ của các đường điện cao thế có điện thế từ 35 KV trở lên.

Có khoảng cách an toàn tới các trung tâm phát xả ô nhiễm nghiêm trọng: nghĩa địa đang hoạt động (nhất là nghĩa địa nằm ở phía đầu nguồn nước), bãi chôn lấp phế thải (kể cả chất thải nguy hại và bãi rác sinh hoạt) đang hoạt động, trong phạm vi xả thải trên tiêu chuẩn môi trường của khí thải nhà máy, trong phạm vi xả nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường của hầm mỏ hay các xí nghiệp công nghiệp, khoảng cách không an toàn đến các kho xăng dầu, kho hoá chất, bom đạn,…

Khi xem xét 6 tiêu chí an toàn sinh thái của một điểm TĐC, chỉ cần 1 trong số 6 tiêu chí đó không đảm bảo, thì điểm TĐC sẽ không an toàn và cần lựa chọn vị trí khác.

Nhóm tiêu chí dịch vụ môi trường tối thiểu. Dịch vụ môi trường có thể được cải thiện nhờ đầu tư, vì thế tuy có vai trò quan trọng, nhưng khả năng sẵn có của 1 điểm TĐC chỉ mang ý nghĩa thứ yếu nếu so với các chức năng thứ nhất. Dịch vụ môi trường tối thiều được đo bằng 3 tiêu chí sau:

Khả năng cung cấp nước sạch cho sinh hoạt của cộng đồng TĐC: có thể là nước tại chỗ (nước mặt, nước ngầm, nước mưa) hoặc nước đường ống dẫn từ ngoài phạm vi điểm TĐC về. Tiêu chuẩn cấp nước cho địa bàn nông thôn của Việt Nam hiện nay là 60 lít/người/ngày, đến 2010 là 80 lít/người/ngày.

Đủ diện tích để xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải (khi cần thiết).

Đủ diện tích để xây dựng tuyến thu gom và xử lý rác sinh hoạt. Bãi chôn lấp rác sinh hoạt cần phải đủ để chôn lấp rác liên tục trong 20-25 năm. Cần tính diện tích dự phòng lập bãi rác mới khi bãi rác cũ đã đầy.

Việc tính toán dịch vụ môi trường của điểm TĐC cần phải được quy hoạch dài hạn, có tính đến khả năng tăng dân số tự nhiên và tăng cơ học sau khi dự án TĐC hoàn tất.

Chỉ số độ đo dịch vụ môi trường (tối thiểu) ESM (Environmental Service Measure), được đề xuất lần đầu, trong bài báo này, được sử dụng để quy hoạch điểm TĐC. Chú ý rằng chỉ tính đến chỉ số này khi điểm TĐC đã được đảm bảo an toàn sinh thái.

Trong đó:   

I1 là tỷ lệ giữa khả năng cung cấp nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt của điểm TĐC so với lượng nước sạch kỳ vọng tính theo chiến lược nước sạch và vệ sinh môi trường Quốc gia quy định, trọng số 2

I2 là tỷ lệ diện tích thực tế của điểm TĐC dành cho xây dựng hệ thống nước thải so với diện tích kỳ vọng theo quy chuẩn quy hoạch xây dựng điểm dân cư, trọng số 1.

I3 là tỷ lệ diện tích thực tế của điểm TĐC dành cho xây dựng hệ thống thu gom và xử lý rác thải so với diện tích kỳ vọng theo tiêu chuẩn xây dựng điểm dân cư, trọng số 1.

ESM có giá trị biến thiên từ 0,0 (không đủ khả năng cung cấp dịch vụ môi trường), đến 1,0 (đủ cung cấp dịch vụ môi trường kỳ vọng)

3. Nghiên cứu trường hợp: một số điểm TĐC ở Quảng Nam và Thái Nguyên

Tái định cư là lĩnh vực bức xúc, đang thu hút nhiều nguồn lực của Quảng Nam. Những hình thức chủ yếu là: tái định cư cho các cộng đồng chịu ảnh hưởng sạt lở và lũ lụt ven các hệ thống sông Thu Bồn và Vu Gia; định cư một bộ phận đồng bào miền núi có chỗ ở chưa ổn định ra dọc tuyến xa lộ Hồ Chí Minh; tái định cư kèm theo giải phóng mặt bằng phục vụ cho phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị và xây dựng các khu công nghiệp tập trung. Số hộ cần TĐC trong tỉnh, theo tài liệu của Chi cục Định canh Định cư và vùng kinh tế mới Quảng Nam tính đến năm 2003 là gần 19 ngàn hộ với dân số xấp xỉ 100 ngàn người. Trong những năm tới, 36 xã dọc tuyến xa lộ Hồ Chí Minh và các tuyến đường nhánh ở miền núi phía tây Quảng Nam nằm trong diện phải cung cấp các điểm TĐC mới. 3 điểm TĐC cho dân vùng sạt lở ở huyện Đại Lộc và 2 điểm TĐC mới dọc xa lộ Hồ Chí Minh ở huyện Đông Giang đã hoàn tất và được lựa chọn để nghiên cứu.

Huyện Đại Từ – Thái Nguyên có 3 xã nằm trong diện giải phóng mặt bằng cho dự án khai thác mỏ đa kim. Dự kiến mỏ sẽ bắt đầu hoạt động từ 2007. Hơn 1400 hộ với khoảng 7000 nhân khẩu sẽ phải tái định cư. Có 5 điểm TĐC mới đã được dự kiến để lựa chọn, đây cũng là đối tượng nghiên cứu của bài báo này.

Mô tả tóm tắt đặc điểm môi trường của 10 điểm TĐC thuộc 2 tỉnh Quảng Nam và Thái Nguyên được trình bày trong bảng sau (tên của điểm TĐC được viết tắt).


TT

Tên điểm TĐC

Mức độ đạt các tiêu chí

Đánh giá và kiến nghị

1

PT – xã Đại Quang, Đại Lộc, Quảng Nam

- Điểm TĐC dân vùng sạt lở ven sông Vu Gia, đảm bảo đủ 6 tiêu chí an toàn sinh thái, đủ diện tích để xây dựng các công trình vệ sinh môi trường. Điểm TĐC xây dựng trên nền đất đá kém thấm, vào mùa khô thường thiếu nước sinh hoạt. Khả năng dẫn nước đường ống không khả thi vì xa nguồn cấp. Nước giếng đào chất lượng đảm bảo nhưng khả năng cung cấp hiện nay chỉ khoảng 50 lít/người/ngày

ESM = 0,78

Điểm TĐC đạt các yêu cầu về môi trường. Nước sinh hoạt là một khó khăn khó đáp ứng. Nếu không có dự án cấp nước trong tương lai, quy mô dân số của điểm TĐC sẽ không thể mở rộng đủ đáp ứng cho nhu cầu gia tăng dân số tự nhiên và cơ học.

2

SC – xã Đại Lãnh, Đại Lộc, Quảng Nam

Có vấn đề về an toàn sinh thái: nằm dưới trường điện cao thế 110 KV, nằm sát dưới nghĩa địa đang hoạt động của địa phương (nghĩa địa phía trên sườn dốc, cao hơn điểm TĐC)

Điểm tái định cư không an toàn

3

AT – xã Đại Minh, Đại Lộc, Quảng Nam

Đảm bảo 6 tiêu chí an toàn sinh thái. Đủ nước sinh hoạt (nước giếng) đủ diện tích xây dựng hệ thống quản lý rác. Quy hoạch không có diện tích xây dựng hệ thống quản lý nước thải. Nước thải ứ đọng trong khu dân cư.

ESM = 0,75

Cần giải toả một số diện tích đã giao cho dân để quy hoạch hệ thống nước thải (việc này rất khó khăn với cấp xã vì  đất đã giao hết cho dân xây dựng)

4

Bắc PR - Đông Giang – Quảng Nam

Điểm TĐC nằm dưới sườn dốc có nguy cơ trượt lở cao. Khoảng 25% mặt bằng xây dựng là đất bở vụn san lấp sông suối. Nguy cơ lũ ống vào mùa mưa.

Điểm tái định cư không an toàn

5

AS – Đông Giang – Quảng Nam

Đảm bảo 6 tiêu chí an toàn sinh thái và mặt bằng cho xây dựng các hệ thống vệ sinh môi trường. Nước sinh hoạt dồi dào về lượng nhưng là nước cứng (nước đá vôi) gây nguy cơ phát triển bướu cổ và một số bệnh đường tiêu hoá.

ESM=0,75

Việc xử lý nước cứng rất khó khăn cần có điều tra xây dựng hệ thống cấp nước an toàn từ ngoài vùng.

6

LC - Đại Từ – Thái Nguyên

Điểm dự kiến TĐC nằm sát trên hầm lò khai thác than đá. Nguồn nước giếng rất hạn chế do thất thoát theo hầm lò. Nguy cơ lún sụt lan toả từ hầm lò.

Điểm dự kiến TĐC không đạt yêu cầu.

7

KTT - Đại Từ – Thái Nguyên

Ô nhiễm đất và nước nghiêm trọng do ảnh hưởng của vỏ phong hoá giầu kim loại nặng. Vi khí hậu lạnh ẩm trong mùa đông gây bệnh hô hấp và khớp.

Điểm dự kiến TĐC không đạt yêu cầu.

8

SC1 - Đại Từ – Thái Nguyên

Điểm TĐC là vùng san lấp hạ lưu một dòng suối. Nguy cơ lũ và xói lở.

Điểm dự kiến TĐC không đạt yêu cầu.

9

SC2 - Đại Từ – Thái Nguyên

Điểm TĐC là vạt phù sa nằm ở bờ lở của sông Công. Nguy cơ xói lở và lụt.

Điểm dự kiến TĐC không đạt yêu cầu

10

BT - Đại Từ – Thái Nguyên

Điểm TĐC xem ghép trong khu dân cư cũ, đảm bảo 6 tiêu chí an toàn sinh thái. Nước giếng phong phú vì điểm TĐC nằm trên thềm phù sa cổ, dư diện tích xây dựng các công trình vệ sinh môi trường.

ESM=1,0

Điểm TĐC lý tưởng, có thể đưa vào xây dựng.

Nhận xét: Căn cứ vào các tiêu chí môi trường đã chọn, trong số 10 điểm TĐC nghiên cứu, có:

1 điểm (BT - Đại Từ – Thái Nguyên) đạt yêu cầu kỳ vọng về môi trường

3 điểm (PT, AT, AS – Quảng Nam) cần đầu tư nâng cấp khả năng dịch vụ môi trường.

6 điểm còn lại không đạt yêu cầu về an toàn sinh thái.

Kết luận:

Đã xác định được 6 tiêu chí an toàn sinh thái và 3 tiêu chí dịch vụ môi trường theo nguyên tắc “tối thiểu”, dễ áp dụng để xác định một điểm TĐC bền vững. Chỉ số dịch vụ môi trường ESM được đề xuất lần đầu có thể áp dụng để tính toán mức độ đáp ứng về môi trường một cách định lượng để xây dựng phương án đầu tư cơ sở hạ tầng của điểm TĐC.

áp dụng các tiêu chí trên cho thấy, trong 10 điểm TĐC hoặc dự kiến làm điểm TĐC ở Quảng Nam và Thái Nguyên, chỉ rất ít (4/10) có đủ điều kiện để xây dựng điểm TĐC bền vững với sự đầu tư hơn nữa cho dịch vụ môi trường. 6 điểm còn lại không đảm bảo an toàn sinh thái, lý do chính là các tiêu chí môi trường không được tính đến khi lựa chọn điểm TĐC.