CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC SỨC KHOẺ VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở ĐAN MẠCH

                                                      Mary E . Jarden và Jens Ole Jarden[1]

Đặc điểm của các nước Bắc âu

Điển hình truyền thống của Bắc âu là Chính phủ liên bang đảm nhận trách nhiệm về phúc lợi đối với người cao tuổi. Điều này có nghĩa là nhà nước, hội đồng quận và các thành phố chịu trách nhiệm tổ chức để đáp ứng các nhu cầu của người cao tuổi. Chính quyền liên bang quy định một giới hạn về ngân sách đối với từng quận và thành phố, trong khi đó, các nhà lãnh đạo địa phương đưa ra các chính sách và dịch vụ trong giới hạn này theo những nhu cầu đặc biệt của cộng đồng. Nhìn chung, cố gắng này được tổ chức thông qua sự sắp xếp được "thể chế hoá", qua đó việc chăm sóc được thực hiện hoặc ở các cơ sở đặc biệt hoặc tại nhà. Chính sách này nhằm vào tạo điều kiện cho người cao tuổi có thể ở tại nhà của họ trong thời gian lâu nhất có thể. Xu hướng này giúp cho việc chăm sóc tìm đến bệnh nhân thay vì đợi người bệnh tìm kiếm sự chăm sóc. Khi cần sự giúp đỡ hoặc chăm sóc đặc biệt, một mạng lưới y tá và bác sỹ được thành phố tuyển dụng sẽ đến khám cho người cao tuổi tại nhà hoặc những nơi người cao tuổi sinh sống. Nếu một người cao tuổi không thể ở nhà, họ sẽ được lựa chọn nơi ở để chăm sóc.

Các nước Bắc âu đã sử dụng thành công số lượng ngày càng tăng các trung tâm chăm sóc ban ngày cho người cao tuổi, ở đó sẵn có nhiều hoạt động cho người cao tuổi. Ngoài ra, Thuỵ Điển và Đan Mạch đã áp dụng những hoạt động tình nguyện xã hội, qua đó người cao tuổi có thể giúp đỡ lẫn nhau bằng nhiều cách.

Các bệnh viện lão khoa và các khoa chuyên về chứng mất trí, chỉnh hình, nội khoa và chăm sóc giai đoạn cuối cũng đồng thời được triển khai. Cách tiếp cận của Bắc âu là đưa ra một hệ thống chăm sóc tập trung vào các nhu cầu cá nhân của người bệnh.

Việc chăm sóc công dân cao tuổi là một truyền thống của người Scăng-di-na-vi bao trùm các nhóm xã hội không hoạt động trong thị trường lao động, gồm trẻ em và người tàn tật... Truyền thống này dựa trên pháp luật về quyền bình đẳng đảm bảo cho dân số cao tuổi tiếp cận toàn diện và thích hợp đối với chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ cần thiết khác. Đồng thời, những người làm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ được đảm bảo các điều kiện việc làm bình đẳng.

Dịch vụ xã hội truyền thống và mô hình chăm sóc sức khoẻ ở Bắc âu hiện đang tính đến một biện pháp chăm sóc tại nhà được tổ chức có tính chất tư nhân hơn. Một số thành phố tại Thuỵ Điển đã cho phép các doanh nghiệp tư nhân đảm trách việc chăm sóc tại nhà nhưng tại Đan Mạch, vấn đề tư nhân hoá mới chỉ  được thử nghiệm ở một số lĩnh vực như các dịch vụ về bữa ăn và lau dọn. Tuy nhiên, xu hướng này vẫn là ngoại lệ tại các nước Bắc âu và tại nhiều thành phố đang quan tâm tìm biện pháp mới để cắt giảm ngân sách thông qua sử dụng tư nhân, những thành phố khác vẫn dựa vào sự quản lý theo cách truyền thống đối với người cao tuổi.

Lão khoa ở Đan Mạch

       Xu thế hiện nay là thiết lập các đơn vị đặc biệt trong các bệnh viện ở các phân khu cho người cao tuổi, tức là các đơn vị lão khoa có các chuyên khoa về chứng mất trí, chỉnh hình, đột quỵ, nội khoa chung và chăm sóc giai đoạn cuối.

Trong tổng dân số từ 65 tuổi trở lên, có từ 4 đến 6% phải chịu đựng chứng mất trí tách biệt xã hội. Những bệnh nhân bị chứng mất trí không chỉ được chuẩn đoán và điều trị bởi các chuyên gia tâm thần mà cũng được chăm sóc bởi các chuyên gia lão khoa và chuyên gia thần kinh. Những khoa đặc biệt tại các bệnh viện và các nhà dưỡng lão cung cấp các dịch vụ cho những người bị suy nhược. Sự quan tâm gần đây đối với các bệnh nhân với chứng mất trí do tuổi già đã dẫn tới những cách tiếp cận đa ngành, sử dụng những chiến lược và những biện pháp điều trị mới. Những biện pháp hỗ trợ và phòng ngừa đã được đề xướng trong những trường hợp bị mất trí để phòng tránh, ví dụ, sự suy sụp về mặt xã hội của một gia đình có người bị mất trí. Những chiến lược phòng ngừa về lão khoa bao gồm các chương trình phòng chống bệnh tim mạch, ốm đau liên quan tới  việc mất khả năng hoạt động về thể lực, thoái hoá cột sống và giảm năng lực học tập. Việc đề xướng cách tiếp cận phòng ngừa này được phát triển để nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi, kể cả những người khoẻ mạnh cũng như những người bị chứng mất trí.

Công dân cao tuổi ở Đan Mạch

Hiện nay, tuổi thọ trung bình của người dân Đan Mạch là 76 tuổi. Tổng số dân của Đan Mạch là 5,2 triệu người, trong đó khoảng 790.000 người (16%) từ 65 tuổi trở lên và 189.000 người (3,6%) từ 80 tuổi trở lên. Trong 19 năm tới, số người từ 80 tuổi trở lên sẽ tăng ít nhất 20%, còn số người 65-79 tuổi sẽ duy trì ổn định.

Đan Mạch đã sửa lại hệ thống phân loại đối với những người từ 60 tuổi trở lên, những người trên 60 tuổi là nhóm tuổi thứ 3 và những người 80 tuổi trở lên thuộc nhóm tuổi thứ 4. Việc phân nhóm tuổi này là do thực tế gần như toàn bộ số người làm việc đã nghỉ hưu ở tuổi 70; 50% nghỉ hưu ở tuổi 60,6 và tuổi nghỉ hưu trung bình là 61,7. Trong số những người từ 65 tuổi trở lên, 20% yêu cầu được chăm sóc/khám sức khoẻ tại nhà, trong khi đó trên 80% những người trên 80 tuổi yêu cầu sự giúp đỡ này. Khoảng 80% người cao tuổi sống độc lập trong cộng đồng và 40% nhận được các dịch vụ y tế và xã hội do chính phủ bao cấp. Tuy nhiên, những người trên 65 tuổi chiếm tới 1/3 trong trường hợp nhập viện, và hơn 50% tổng số ngày nằm viện tại Đan Mạch. Do 1/5 dân số trên 60 tuổi, 1/3 số trường hợp nhập viện là của những người trên 60 tuổi; nói cách khác, cứ mỗi một giường bệnh ở Đan Mạch là do một bệnh nhân cao tuổi sử dụng. Từ 10 đến 20% tổng số trường hợp nhập viện của những người trên 65 tuổi là do những tác đụng phụ của thuốc, một ví dụ của vấn đề này là xu hướng lạm dụng thuốc chống tăng huyết áp, dẫn đến ngã làm gẫy xương và các biến chứng khác.

 

Hệ thống chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ xã hội ở Đan Mạch

Hệ thống chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ xã hội ở Đan Mạch dựa trên cơ sở những khoản lợi ích chăm sóc y tế và xã hội toàn diện miễn phí do chính phủ  tài trợ thông qua thuế cá nhân tương đối cao từ 50% đến 70% và thuế hàng hoá và dịch vụ là 25%. Khoảng 5,6% GNP của Đan Mạch được chi cho chăm sóc sức khoẻ, so với 10,7% của Mỹ. Con số này bao gồm cả chi phí cho chăm sóc, nghỉ ốm, nằm viện và chăm sóc sức khoẻ nói chung.

Chăm sóc người cao tuổi

Trước đây người ta cho rằng phần lớn các vấn đề về chăm sóc sức khoẻ và xã hội của người cao tuổi nên giải quyết thông qua sự chăm sóc theo tổ chức. Tuy nhiên, ý kiến này là tạo điều kiện để người cao tuổi được ở nhà càng lâu càng tốt. Số lượng bệnh nhân được một y tá y tế công khám đã tăng 52% trong giai đoạn 1981-1993, tần suất của số lần khám tăng 132%. Số bệnh nhân được chăm sóc tại nhà và tần suất của số lần khám tăng đáng kể là do gia tăng số người trên 67 tuổi trong cùng giai đoạn. Từ 1981 đến 1993, có sự nỗ lực phối hợp trong truyền thông và hợp tác giữa bác sĩ bệnh viện, bác sĩ tại gia đình và hệ thống chăm sóc sức khoẻ công. Uỷ ban chăm sóc sức khoẻ đã đưa ra một mô hình lồng ghép giữa chăm sóc công với chăm sóc tại gia đình vào năm 1989. Năm 1983, chỉ có 39 cộng đồng địa phương cung cấp các dịch vụ chăm sóc 24/24 giờ, năm 1995 con số này đã tăng lên 269. Qua 12 năm, tổng số hơn 230 cộng đồng đã hoàn thành xem xét lại các chính sách đối với việc chăm sóc người cao tuổi.

Hỗ trợ người cao tuổi tự giúp mình

Nhằm thoả mãn sự ưa thích của người cao tuổi ở tại nhà, chính quyền các thành phố đã triển khai nhiều dịch vụ giúp đỡ người cao tuổi tự giúp mình. Những dịch vụ này bao gồm giúp đỡ trong việc giặt giũ, mua sắm, rửa chén bát, chuẩn bị bữa ăn, chăm sóc và vệ sinh cá nhân. Có thể sử dụng chăm sóc tại gia để giúp đỡ hoặc làm nhẹ bớt sự chăm sóc của các thành viên trong gia đình đối với người bệnh hoặc tàn tật. Có hai dạng chăm sóc tại nhà: giúp đỡ tạm thời và giúp đỡ dài hạn. Chăm sóc dài hạn được cung cấp miễn phí, còn thăm khám, chăm sóc tạm thời tại nhà có thể dựa vào việc chi trả cá nhân phụ thuộc vào thu nhập của người nhận dịch vụ.

Chăm sóc y tế công cung cấp các dịch vụ chăm sóc cả ngày lẫn đêm bao gồm giáo dục, chăm sóc và điều trị bệnh nhân và giúp đỡ điền vào các tờ khai về các nhu cầu, thay đổi nơi ở, cứu trợ và giúp đỡ khẩn cấp cũng như xin vào ở tại các trung tâm người cao tuổi hoặc các cơ sở chăm sóc người cao tuổi ban ngày.

 Tất cả những người tàn tật hoặc ốm yếu có thể có một hệ thống điện thoại an toàn và khẩn cấp được kết nối cả ngày 24 giờ với dịch vụ chăm sóc y tế công.

Cuộc sống của người cao tuổi

Khi người cao tuổi muốn có một cuộc sống khác vì lý do sức khoẻ, họ sẽ được đưa đến một nơi ở mới phù hợp hơn. Có rất nhiều khả năng căn cứ theo nhu cầu cũng như mong muốn của từng cá nhân. Nơi ở cho người cao tuổi, các khu nhà ở biệt lập, các đơn vị giúp đỡ cuộc sống và các nhà dưỡng lão được thiết kế đặc biệt cho người cao tuổi và người tàn tật khi không còn khả năng tự chăm sóc, cung cấp căn hộ 1 hoặc 2 phòng, cầu thang máy, hệ thống liên lạc khẩn cấp cũng như các hoạt động xã hội. Những cơ sở này thường khác nhau về cách quản lý và một số nơi được liên kết với các nhà dưỡng lão cung cấp cứu trợ y tế. Hội đồng địa phương giới thiệu các nhu cầu của những người thường trú trong các cơ sở chăm sóc người cao tuổi.

Trung tâm chăm sóc ban ngày được giới thiệu lựa chọn cho những ai không muốn dời khỏi nhà hẳn, mà chỉ muốn chăm sóc thêm một giai đoạn ngắn hoặc dài hơn. Có bố trí phương tiện đi lại từ nhà đến trung tâm và ngược lại. Cũng có sự lựa chọn sử dụng nhà dưỡng lão trong một thời gian ngắn để gia đình có thời gian nghỉ ngơi.

Lương hưu và trợ cấp

Những người cao tuổi hưởng lương hưu toàn phần chịu trách nhiệm chi trả cho những dịch vụ cá nhân như các bữa ăn, giặt giũ, chăm sóc và thuê mướn. Tuy nhiên, số tiền thuê dịch vụ không vượt quá 15% tiền lương hưu.

 

ở tuổi 67, tất cả mọi người đều nhận được lương hưu của nhà nước. Ngoài ra, một sự mở rộng khác của hệ thống an toàn xã hội là khoản lương hưu thị trường lao động bổ xung do những người chủ chi trả và được bổ xung cho khoản lương hưu do nhà nước trả cho người cao tuổi. Một người nghỉ hưu được phép nhận khoản phụ cấp về tiền mặt miễn thuế đối với quỹ lương hưu của họ dựa trên tổng thu nhập của cá nhân hoặc của cả hai vợ chồng. Do đó, những chi phí như sưởi ấm, ốm đau, thuốc men, khám răng và kính đeo mắt thường được tài trợ.

Tất cả những người nghỉ hưu có thể xin thêm trợ cấp hoặc vay tiền thuê nhà kể cả khi họ thuê hoặc có nhà riêng. Những người cao tuổi sống ở nhà tập thể có thể xin những khoản này khi có 5 trong số những người cư trú ở đó ít nhất là 55 tuổi.

Việc chuyển tuyến đến các trung tâm tập luyện với mục đích phục hồi sẽ được miễn phí và điều trị theo liệu pháp vật lý với giá bao cấp 40%. Dịch vụ chăm sóc răng hàm mặt đặc biệt tại nhà có thể được bố trí ở tại nhiều quận. Dịch vụ về lương thực có sẵn các bữa ăn được cung cấp tại nhà với giá bao cấp. Các dịch vụ về nhà ở và sân bãi cho những người cao tuổi thông qua thành phố theo giá thấp.

Chương trình người cao tuổi giúp nhau

Tình nguyện là một hiện tượng mới ở Đan Mạch. Luật dịch vụ xã hội tháng 7/1998 cung cấp 700.000 đô la mỗi năm cho phát triển và mở rộng những nỗ lực tình nguyện xã hội ở Đan Mạch. Năm 1999, các quận địa phương cũng như ở thành phố đã sử dụng tới 46% quỹ này. Dự án này đã mở rộng tới 120 trong số 275 thành phố. Mục đích là để chống lại sự cô đơn bằng cách tạo ra một cộng đồng cho người cao tuổi. Trong vòng 3 năm tới, hoạt động này sẽ được triển khai ở 155 thành phố còn lại. Các hoạt động tình nguyện sẽ được mở rộng qua lồng ghép việc tình nguyện vào cuộc sống hàng ngày của người cao tuổi bất kể tuổi, trình độ, dân tộc của người tình nguyện, từ đó phát triển một "sự hiểu biết xã hội được chia sẻ" nhằm tăng cường hình ảnh về phúc lợi xã hội của Đan Mạch.

Giúp đỡ người cao tuổi tại nhà

Trong thập kỷ qua, sự phát triển xã hội đã khiến các gia đình có khó khăn trong việc chăm sóc các thành viên cao tuổi. Do vậy, chăm sóc người cao tuổi đã trở thành trách nhiệm xã hội. ít nhất 80% phụ nữ Đan Mạch đi làm và hơn 95% trẻ em được chăm sóc ban ngày. Việc các thành viên trẻ tuổi trong gia đình chăm sóc người cao tuổi không còn phổ biến. Chỉ có 5% người cao tuổi sống cùng gia đình  và từ 6 đến 7% những người 70 tuổi và 25% những người từ 80 tuổi trở lên đang sống tại các cơ sở dành cho người cao tuổi. Tuy nhiên, 80% người cao tuổi mỗi tuần thăm gia đình 1 lần, do 60% người cao tuổi sống cách nơi ở của gia đình chỉ nửa giờ đi xe. Phần lớn các gia đình sử dụng những nguồn lực có sẵn của gia đình, ví dụ, ở 2/3 gia đình giúp đỡ chăm sóc các cháu, làm vườn hoặc sửa chữa, giặt giũ quần áo, lau dọn và chuẩn bị bữa ăn.

Phần lớn người cao tuổi sống tại những nơi ở riêng đều có khả năng tự túc mặc dù họ có bệnh mãn tính và phải dùng nhiều loại thuốc hàng ngày. Trong số những người từ 75 tuổi trở lên, dưới 5% gặp khó khăn trong việc tự chuẩn bị bữa ăn và vệ sinh cá nhân, 15% mắt kém và 10% không nghe rõ.

Gìa hoá ở các nhóm thiểu số

Những người cao tuổi nhập cư ở Đan Mạch theo truyền thống được con cái và các thành viên trong gia đình chăm sóc. Tuy nhiên, truyền thống này sẽ thay đổi và theo chuẩn mực xã hội của người Đan Mạch. Người ta cho rằng những người di cư trẻ do trách nhiệm về việc làm và giáo dục, sẽ giao phó việc chăm sóc người cao tuổi cho thành phố. Số những người nhập cư trên 60 tuổi sẽ tăng gần gấp 3 trong những năm tiếp theo. Năm 1997, ở Đan Mạch có khoảng 34 nghìn người nhập cư từ 60 tuổi trở lên và dự đoán sẽ tăng lên 86 nghìn người vào năm 2020. Những rào cản về ngôn ngữ và văn hoá mà những người lớn tuổi nhập cư gặp phải gây ra sự cách biệt lớn, bởi những người này sẽ khó có thể tận dụng những cơ hội sẵn có. Những người nhập cư được khuyến khích học tiếng Đan Mạch và các nhân viên chăm sóc sức khoẻ được hướng dẫn đặc biệt về chăm sóc người nhập cư cao tuổi

Các mục tiêu và xu hướng chính trị trong chính sách

Quan tâm về chính trị đối với dân số cao tuổi đã được tăng cường và nhiều sáng kiến lớn đã được thực hiện để nâng cao chất lượng và hiệu quả trong kiểm soát chi phí các hệ thống chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ xã hội. Những điểm nổi bật của các xu hướng và mục tiêu chính trị là:

Năm 1977, Uỷ ban ưu tiên đã đề nghị chuyển trách nhiệm chính trong việc chăm sóc người cao tuổi từ bệnh viện sang ngành chăm sóc sức khoẻ công cộng, chú trọng đặc biệt đến việc nâng cao sức khoẻ và nỗ lực phòng ngừa. Kết quả của đề nghị này là năm 1985 đã tăng cường các điều kiện thanh toán và sự chăm sóc tiếp theo cho người cao tuổi tại nhà, trong thời gian nằm viện.

Năm 1984, Đan Mạch đã thông qua các mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đối với sức khoẻ trong "Sức khoẻ cho mọi người vào năm 2000", ưu tiên chăm sóc hỗ trợ và phòng tránh. Mục tiêu thứ 6 nói về tuổi già khoẻ mạnh, thêm sức khoẻ cho cuộc đời hơn thêm năm tháng cho cuộc sống. Tăng cường chăm sóc phù hợp trong khuôn khổ kinh tế có thể chấp nhận được, các chương trình cũng như các cơ sở mới cho công tác chăm sóc sức khoẻ dài hạn đã được xây dựng. Triết lý cơ bản là để duy trì càng lâu càng tốt khả năng vật chất cũng như tinh thần của người cao tuổi bằng sự giúp đỡ và chăm sóc phù hợp.

Báo cáo của Bộ Y tế năm 1993 nêu lên rằng nhu cầu chung về việc lập kế hoạch và hợp tác tốt hơn của các dịch vụ hệ thống chăm sóc sức khoẻ và xã hội cần được ưu tiên. Cá nhân người cao tuổi sẽ được đảm bảo điều trị, chăm sóc và phục hồi một cách tối ưu nhất, với mục tiêu là lấy lại mức độ chức năng trước khi ốm đau và giúp người cao tuổi đạt được khả năng độc lập cao nhất.

"Dự án Roedovre" năm 1984 đã tạo cơ sở cho luật mới về việc thăm khám phòng bệnh tại nhà (tháng 7/1996), cung cấp tư liệu về hiệu quả của việc phòng tránh bệnh tật, ốm yếu và các vấn đề tâm lý, xã hội. Những người trên 75 tuổi hàng năm được khám 2 lần tại nhà. Mục tiêu của những lần thăm khám này là để đảm bảo an toàn và phúc lợi dựa vào nguồn lực của thành phố.

Một thay đổi khác trong chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ xã hội vào những năm 1990 ở cấp quốc gia là tất cả mọi người từ 70 tuổi trở lên có thể được y tá công đến khám không chậm quá 3 ngày sau khi ra viện. Y tá này có trách nhiệm theo dõi và đảm bảo sẵn sàng giúp đỡ tại nhà.

Kết luận

Nhờ có sự quan tâm tích cực của Chính phủ tới dân số cao tuổi, chuyên gia y tế và xã hội, thực hành chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ xã hội đã mở rộng bảo vệ trực tiếp và nâng cao chất lượng cuộc sống của các công dân cao tuổi. Trong khi, Đan Mạch chú trọng nhiều vào cung cấp của nhà nước, một hệ thống chăm sóc tạo điều kiện linh hoạt hơn trong điều kiện sống và môi trường xã hội của người cao tuổi đã được phát triển. Tuy nhiên, không phải là không có những thách thức trước sự gia tăng về chi phí chăm sóc sức khoẻ và đối mặt với vấn đề làm thế nào để cung cấp dịch vụ một cách phổ cập mà hạn chế chi phí.

 

Nguyễn Trung Kiên

Dịch từ tài liệu của Global Action on Aging

website: www.globalaging.org



[1] L·o khoa l©m sµng, bÖnh viÖn Amager, §an M¹ch