CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC DÂN SỐ, SỨC KHỎE SINH SẢN

VÀ KẾ HOẠCH GIA ĐÌNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TS. Đỗ Ngọc Tấn*

Phạm Minh Sơn**

 

1. Đặt vấn đề

Hiện nay các vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) vị thành niên (VTN) trở thành vấn đề nổi cộm ở nhiều nước trên thế giới. Hàng năm trên thế giới có khoảng 15 triệu trẻ em gái từ 15-19 tuổi sinh con, chiếm 10% tổng sổ trẻ em sinh ra trên toàn thế giới. Trong các trường hợp mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, cứ 20 người mắc bệnh thì có 1 người ở tuổi VTN.

Việt Nam hiện cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề liên quan đến những nguy cơ về SKSS  vị thành niên.

Qua nhiều công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi của trẻ vị thành niên về vấn đề giáo dục dân số/SKSS vị thành niên cho thấy nhận thức và hiểu biết của trẻ VTN về những nội dung SKSS vị thành niên còn ít ỏi. Phần lớn các em không hiểu biết về vấn đề quan trọng và gần với hành vi tình dục của các em như cấu tạo, chức năng cơ quan sinh dục nam nữ, khi nào con trai, con gái có khả năng có con, khi nào dễ thụ thai nhất, các dấu hiệu của thai nghén.... Sự hiểu biết của các em phụ thuộc vào trình độ học vấn và một số yếu tố xã hội. Sự thiếu hiểu biết này và dưới sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, các tiêu cực của xã hội, những sản phẩm văn hóa độc hại chưa được quản lý và kiểm soát chặt chẽ, sự lôi kéo của những tư tưởng và thế lực thù địch... đang hàng ngày ảnh hưởng đến tâm lý,tình cảm của tuổi học sinh, nhiều nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trong cho các em như quan hệ tình dục sớm, có thai sớm, nạn lạm dụng tình dục trẻ em và tỷ lệ trẻ em nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS ngày càng có xu hướng tăng nhanh. Chính vì vậy, giáo dục SKSS đối với VTN và đặc biệt là học sinh trung học phổ thông (THPT) có một vị trí rất quan trọng, mang ý nghĩa chiến lược.

SKSS ngày càng được khẳng định với vai trò quan trọng trong các hoạt động dân số/KHHGĐ. Trong đó SKSS vị thành niên cũng đã chính thức trở thành một nội dung thiết yếu và đã được đề cập đến trong hầu hết các hội nghị, các tài liệu ở trong và ngoài nước về lĩnh vực SKSS. Nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đã xây dựng nội dung giáo dục SKSS và đưa vào chương trình giáo dục trong nhà trường phổ thông, có ưu tiên cho những năm cuối phổ thông.

Để đạt được mục tiêu phát triển dân số một cách bền vững việc đưa giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ vào nhà trường là một giải pháp hữu hiệu. Với tổng số giáo viên và học sinh hiện nay ở Việt Nam chiếm gần 1/3 số dân, việc thực hiện giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ đã và sẽ tác động vào lực lượng quan trọng này, giúp họ nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi, trở thành các thành viên tích cực tuyên truyền về dân số cho đất nước.

Sự gia tăng dân số gây sức ép nặng nề đối với giáo dục. Trong vòng 10 năm (từ 1994 trở lại đây), tỷ lệ nhập học ròng (đúng tuổi) đã tăng từ 87% lên hơn 93% và tương đối ổn định từ 2000 tới nay. Tỷ lệ này tăng mạnh ở bậc trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT): Đối với bậc THCS, từ 30% năm 1994 lên gấp đôi vào năm 2000 và tới năm 2003 đạt hơn 80,6%. Đối với bậc THPT, tỷ lệ này tăng  gấp 6 lần (từ 7% năm 1994 lên 39,6% năm 2003).[1]

2. Thách thức chính đối với SKSS vị thành niên:

* Quan hệ tình dục sớm ở tuổi học sinh

       Những năm gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong nhiều nghiên cứu và các cuộc hội thảo chuyên đề liên quan đến chủ đề sức khoẻ thanh thiếu niên, vấn đề quan hệ tình dục sớm ở lứa tuổi này luôn được đề cập và đang là hiện tượng phổ biến: điều tra trên 252 nam và 248 nữ thanh niên sống độc thân ở TP Hồ Chí Minh cho thấy: 27,8% nam và 7,2% nữ đã có quan hệ tình dục. Theo một nghiên cứu của Hoàng Gia Trang với đối tượng là học sinh trung học phổ thông (THPT) cho thấy 2,5% các em học sinh đã có quan hệ tình dục. Khảo sát, đánh giá của Viện Khoa học dân số, gia đình và trẻ em về hoạt động giáo dục dân số/SKSS và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) tại 10 trường THPT với 3.282 học sinh và vị thành niên ngoài nhà trường cùng lứa tuổi ở 5 tỉnh cho thấy: có 27,2% số đối tượng cho biết bạn thân với họ đã có quan hệ tình dục. Điều đó khẳng định thêm hiện trạng mang tính xã hội: quan hệ tình dục tuổi học sinh đã là hồi chuông báo động về một thực tế đáng lo ngại mà cộng đồng xã hội cần quan tâm để tìm nguyên nhân và giải pháp ngăn ngừa.

*  Tình trạng nạo hút thai  ở VTN:

Từ sự gia tăng quan hệ tình dục sớm đã dẫn đến sự gia tăng về tỷ lệ mang thai, sinh đẻ và nạo hút thai. Mỗi năm ở Việt Nam, số nạo hút thai vào khoảng từ 1,2 đến  1,4 triệu lượt, trong đó ước tính có khoảng 25-30% là thanh thiếu niên [2]. Theo số liệu của Bộ Y tế, tình trạng nạo hút thai ở tuổi vị thành niên có xu hướng gia tăng, khoảng 12.000 ca/năm. (chiếm 10% số người nạo phá thai ở các nhóm tuổi khác nhau).

 ở Việt Nam dù chưa có công bố chính thức liên quan đến tử vong và nạo phá thai nhưng hậu quả của nạo phá thai rõ ràng là có ảnh hưởng đến sức khoẻ  và tinh thần. Hàng năm trên thế giới có xấp xỉ 70.000 phụ nữ  chết do nạo phá thai không an toàn. ở một số nước, trong số bệnh nhân phải vào bệnh viện do biến chứng nạo thai thì bệnh nhân tuổi VTN chiếm 60%.

* Tình trạng sinh con sớm ở VTN.

Theo điều tra của Tổng cục thống kê, những năm gần đây ở nước ta có tới 5% các em gái dưới 18 tuổi đã làm mẹ và các bà mẹ trẻ này gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống. Đối với những người ở lứa tuổi 15 –19, nguy cơ chết do sinh đẻ lớn gấp 3 lần so với phụ nữ thuộc lứa tuổi 20- 24. Ngoài ra, hậu quả của nó là tình trạng bỏ học của các em gái, trình độ nghề kém, gia đình ruồng bỏ, chán đời, dễ dàng tham gia vào các tệ nạn xã hội...

* HIV/AIDS

Hiện nay, nguy cơ mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS, sự phát triển lây lan HIV/AIDS đã và đang ở mức báo động. Tính đến hết tháng 10 năm 1998 nước ta đã phát hiện hơn 8.000 người bị nhiễm HIV thì 69,6% ở tuổi thanh thiếu niên[3]. Tỷ lệ nhiễm HIV tăng đột ngột trong lứa tuổi vị thành niên, đặc biệt ở nhóm tuổi 13-19 tăng 8,3 lần so với năm 1995, độ tuổi từ 20-29 cũng tăng 6,2 lần.

3. Xu hướng giáo dục DS/SKSS/KHHGĐ ở một số nước trong khu vực

Giáo dục dân số đã được nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là  các nước đang phát triển quan tâm như một ưu tiên trong chính sách dân số quốc gia. Trước năm 1994, chính sách dân số và nội dung của giáo dục dân số các nước đều tập trung quốc tế về Dân số Phát triển quy mô dân số, di cư, kế hoạch hoá gia đình.... Năm 1994, Hội nghị (ICPD) tại Cairô đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay đổi chính sách dân số của các quốc gia và do đó cũng làm thay đổi mục tiêu giáo dục dân số các quốc gia. ICPD đã kêu gọi các nước chú trọng hơn vào sức khoẻ sinh sản, đặc biệt là SKSS vị thành niên.

ở Châu á, chương trình giáo dục dân số quốc gia lần đầu tiên được thực hiện ở các nước ấn Độ (1969), Philíppin và Hàn Quốc (1970). Các nhà lập kế hoạch về phát triển và xây dựng chính sách quốc gia ở các nước châu á đã ý thức được sự cần thiết làm cho nhân dân hiểu được mối quan hệ nhân quả giữa phát triển dân số và tiến bộ xã hội. Người ta cũng cho nhà trường là cơ quan thích hợp nhất để tiến hành công việc này. Tại châu Mỹ La tinh, chương trình giáo dục dân số bắt đầu từ năm 1967 tại trường Đại học tổng hợp Dell Valle ở Colombia. Chương trình cũng được đưa vào trường đại học sư phạm ở Chi Le cuối thập kỷ 60. Văn phòng UNESCO ở Santiago (Chile) đã tổ chức hai hội nghị cho các chuyên gia: năm 1970 về giáo dục dân số và 1971 về giáo dục giới tính. Cũng năm 1971, văn phòng giáo dục dân số ở châu Phi (Dakar) đã tổ chức Hội thảo về chủ đề dân số, giáo dục và phát triển.

Năm 1970, một Hội thảo về giáo dục dân số đã được tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan). Tại hội thảo này đã thống nhất một định nghĩa về giáo dục dân số: Giáo dục dân số là chương trình giáo dục về dân số ở mức độ gia đình, cộng đồng đất nước và thế giới nhằm mục đích tạo ra cho mọi người thái độ và phong cách ứng xử hợp lý và có trách nhiệm về vấn đề này. Sau đó, đã có hàng loạt sự kiện đánh dấu sự phát triển của chương trình giáo dục ở khu vực Châu á - Thái bình dương như Hội nghị tư vấn khu vực được tổ chức năm 1978, 1982. Hội nghị chuyên đề khu vực về đánh giá và nghiên cứu giáo dục dân số...

Có thể khái quát  một số xu hướng giáo dục DS/SKSS đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm như sau:

Giáo dục DS/SKSS được hầu hết các nước trên thế giới và trong khu vực coi là một bộ phận không thể tách rời trong các chính sách và kế hoạch phát triển của mỗi quốc gia.

Các chương trình DS/SKSS đều được tiến hành theo những phương pháp linh hoạt, tùy từng quốc gia, từng nền văn hóa, được phát triển theo hướng không gò bó, trong các mục tiêu của chương trình. Tuy vậy các mục tiêu rất rõ ràng và đều hướng vào việc làm cho cộng đồng, mà trọng tâm là làm cho giới trẻ chấp nhận qui mô gia đình nhỏ, có ý thức trách nhiệm về các hành vi sinh sản của mình.

Giáo dục DS/SKSS được coi là cần thiết cho những nước có qui mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân số nhanh; đồng thời các nước tuy có qui mô dân số nhỏ nhưng tốc độ gia tăng dân số cao cũng rất coi trọng việc tổ chức các hoạt động giáo dục DS/SKSS.

Trên cơ sở nhận thức về vai trò của giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nhiều quốc gia đưa những nội dung giáo dục DS/SKSS vào giảng dạy trong nhà trường. Có sự ưu tiên cho giáo dục phổ thông bậc sơ trung và cao trung.

Các nội dung giáo dục DS/SKSS được kết hợp với giáo dục giới tính và giáo dục đời sống gia đình. Đồng thời giáo dục giới tính, giáo dục tình dục, kỹ năng sống và giáo dục đời sống gia đình đóng một vai trò quan trọng trong các nội dung giáo dục dân số và giáo dục SKSS.

Giáo dục DS/SKSS còn được kết hợp với các nội dung khác có liên quan như giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống suy dinh dưỡng và giáo dục phòng chống HIV/AIDS.

Giáo dục DS/SKSS vừa giúp cho học sinh nâng cao hiểu biết các vấn đề DS/SKSS, vừa khắc họa, giúp cho học sinh có thái độ đúng đắn và có những hành vi đúng, hành vi an toàn, hành vi có trách nhiệm trong cuộc sống cộng đồng, trong quan hệ nam - nữ, trong tình bạn, tình yêu.

Không những được quan tâm ở các trường phổ thông, giáo dục  DS/SKSS còn được quan tâm ở các trường sư phạm, các trung tâm Giáo dục - Đào tạo không chính qui và cả những cơ sở học tập tại cộng đồng.

Giáo dục DS/SKSS được mở rộng ra cộng đồng phù hợp với chiến lược phát triển của quốc gia và được xây dựng cho các cấp, trong đó nhà trường được xác định có vai trò chủ chốt.

 Các phương pháp giáo dục DS/SKSS cũng đang cố gắng tìm tòi để xây dựng những phương pháp phù hợp với từng địa phương, từng quốc gia, từng nền văn hóa khác nhau trên cơ sở huy động cộng đồng tham gia trực tiếp và tích cực vào các hoạt động giáo dục DS/SKSS. Các loại hình thường được áp dụng như tổ chức các “Đội tuyên truyền viên DS/SKSS”, các Câu lạc bộ, “đóng kịch”, “trò chơi sắm vai”, “bắt chước”...

Trong khu vực ASEAN, các nước Thái Lan, Inđônêxia, Philíppin... là những nước có nhiều kinh nghiệm về giáo dục DS/SKSS cho học sinh phổ thông và VTN, gần đây cũng đã có những cuộc tiếp xúc, trao đổi kinh nghiệm với các nhà sư phạm Việt Nam.

 4. Quá trình triển khai thực hiện chương trình giáo dục về DS/SKSS/KHHGĐ ở trường THPT tại Việt Nam

Giáo dục dân số trong nhà trường Việt Nam được ngành giáo dục quan tâm đặc biệt vì nó có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Vào cuối thập kỷ 80 các đề án thực nghiệm giáo dục dân số mã hiệu VIE/88/P09, VIE/88/P10 đã triển khai vào các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông có tính thực nghiệm về giáo dục dân số nói chung, giáo dục giới tính và đời sống gia đình nói riêng đã thu được những kết quả nhất định.

Từ 1982–1992, được sự tài trợ của UNFPA (Quỹ dân số của Liên hợp quốc), ngành Giáo Dục & Đào tạo đã tiến hành 3 dự án: Dự án giáo dục dân số trong nhà trường phổ thông; Dự án giáo dục giới tính và đời sống gia đình; Dự án giáo dục các bậc cha mẹ có con dưới 6 tuổi tại 17 trong số 53 tỉnh thành phố trong cả nước đã tham gia vào các dự án.

Những kết quả thực nghiệm này đã tạo ra tiền đề và điều kiện thuận lợi cho ngành giáo dục tiến hành mở rộng giáo dục dân số - kế hoạch hoá gia đình trong các cấp học vào những năm 1990. Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo - Công đoàn Giáo dục Việt Nam yêu cầu phải coi công tác giáo dục dân số cho học sinh, kế hoạch hoá gia đình trong đội ngũ giáo viên như một thành tố quan trọng của quá trình đào tạo (chỉ thị 11/CTLT ngày 22/5/1992).

Uỷ ban quốc gia DS/KHHGĐ (nay là ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) hỗ trợ cho ngành Giáo dục-Đào tạo ngay từ những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ trước để đào tạo giáo viên tiểu học, giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp dạy nghề, một bộ phận các trường đại học trọng điểm những kiến thức về dân số học và phương pháp giáo dục dân số trong sinh viên học sinh. Quỹ dân số của Liên hợp quốc (UNFPA) cũng đã giúp đỡ cho ngành thực hiện các dự án giáo dục dân số trong bậc Trung học phổ thông.

 Kết quả  gây ấn tượng trong thập niên 90 của thế kỷ trước là việc thực hiện các dự án VIE/93/P01 và VIE/97/P13. Dự án VIE/97/P13 đưa giáo dục dân số vào trường trung học phổ thông. Dự án này thừa kế kết quả của các chương trình trước đó và bước đầu tích hợp giáo dục dân số, vấn đề giáo dục sức khoẻ sinh sản theo mục tiêu kế hoạch hoá gia đình của nhà nước ta và Chương trình hành động ICPD).

Dự án VIE/97/P13 đã biên soạn tài liệu dạy giáo dục dân số - sức khoẻ sinh sản trong nhà trường THPT. Bộ tài liệu này được triển khai tại 8 tỉnh trọng điểm trên toàn quốc và được các nhà sư phạm và các nhà chuyên môn về dân số đánh giá là khá tốt cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục dân số - sức khoẻ sinh sản vị thành niên. Việc triển khai huấn luyện giáo viên dạy cho học sinh trong các trường THPT cũng có nhiều kết quả. Tuy nhiên phạm vi phổ biến của tài liệu này còn hẹp mới có 8 tỉnh trong số 61 tỉnh thành (thời điểm những năm 1990) được thụ hưởng kết quả của dự ánVIE/97/P13.

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được và để tháo gỡ những bất cập trong quá trình triển khai thực hiện chương trình, năm 2000, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban quốc gia DS/KHHGĐ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo đã thống nhất quyết định phải khai thác các nguồn lực của hai ngành để phát triển các kết quả của dự án VIE/97/P13 cho các khu vực khác mà dự án này chưa phủ được. Ngày 19/6/2001 Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia dân số/KHHGĐ đã có quyết định 174/QĐ-UB thành lập Tiểu dự án giáo dục dân số thuộc Dự án Dân số - Sức khoẻ gia đình với nhiệm vụ tổ chức các hoạt động nhằm nâng cao một bước chất lượng giáo dục dân số sức khoẻ sinh sản vị thành niên trong các trường THPT ở các tỉnh mà Dự án VIE/97/P13 trước đây chưa bao quát tới. Từ 2001- 2003 Tiểu Dự án Giáo dục dân số đã triển khai các hoạt động bao gồm:

Hoạt động 1: tập huấn cho 284 giảng viên cấp tỉnh của 53 tỉnh/TP về chủ đề ” Nội dung, phương pháp huấn luyện giáo viên trường THPT để giảng dậy những chủ đề nhạy cảm trong giáo dục dân số/SKSS vị thành niên”

Hoạt động 2: tập huấn cho 5735 giáo viên đang dậy các môn sinh, Địa, Giáo dục công dân trong các trường THPT của 36 tỉnh/TP về “Nội dung, phương pháp giảng dậy những chủ đề nhạy cảm trong giáo dục dân số/SKSS vị thành niên”

Hoạt động 3: Tập huấn cho 1010 cán bộ quản lý trường THPT và 34 cán bộ quản lý sở Giáo dục - đào tạo về chủ đề “ Nâng cao năng lực quản lý chương trình giáo dục dân số/SKSS vị thành niên”

Hoạt động 4: Nhân tài liệu phục vụ các khóa tập huấn giảng viên cấp tỉnh và giáo viên ba môn Sinh, Địa và Giáo dục công dân”

Hoạt động 5: Đánh giá hiệu quả hoạt động giáo dục dân số trong trường THPT tại 36 tỉnh dự án.[4]

Trong thời gian gần đây, những nội dung giáo dục SKSS đã được nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều tổ chức xã hội quan tâm chỉ đạo và tổ chức triển khai các hoạt động cụ thể. SKSS đã từng bước trở thành nội dung quan trọng của hầu hết các hoạt động dân số; các mục tiêu của SKSS cũng là những mục tiêu cần đạt được của KHHGĐ. Tháng 5/1998 Uỷ ban quốc gia DS/KHHGĐ đã thông qua Dự án “Tăng cường giáo dục dân số cho học sinh độ tuổi trung học, từ 12 đến 18 tuổi”. Dự án tập trung vào việc nâng cao nhận thức cho học sinh về giới tính, đời sống gia đình, SKSS, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội và nâng cao chất lượng dân số. Từ đó giúp cho học sinh có thái độ đúng, có lối sống lành mạnh, hình thành và phát triển nhân cách, thực hiện tốt những quy định của nhà nước về DS/KHHGĐ.

Đầu năm 1998 Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã triển khai Dự án “Hỗ trợ tăng cường SKSS VTN-VIE/97/P12” và gần đây đã triển khai “Chương trình chăm sóc SKSS” (RHITA) cho VTN và thanh niên Việt Nam.

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn ma tuý, mại dâm... đã phối hợp với một số cơ quan hữu quan triển khai chương trình “Giáo dục kỹ năng sống cho VTN”, huy động nhiều lực lượng xã hội và nhiều tổ chức quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam, tham gia tổ chức các hoạt động truyền thông, hoạt động can thiệp tại cộng đồng, tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực trạng tình hình, đánh giá những yếu tố tác động của đại dịch HIV/AIDS và của các tệ nạn xã hội đối với thanh thiếu niên, trong đó có đối tượng VTN, trẻ em đường phố... 

Tóm lại: Việc triển khai giáo dục dân số/SKSS/KHHGĐ cho học sinh các trường THPT và vị thành niên ngoài nhà trường là một hoạt động cần thiết và cần được đầu tư tăng cường. Để nâng cao hiệu quả của hoạt động này, cần phải có các giải pháp đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành, trên cơ sở có những nghiên cứu, đánh giá toàn diện và đưa các nội dung về dân số/SKSS/KHHGĐ phù hợp và đủ lượng vào các môn học trong nội dung chính khóa cho từng khối lớp. Đồng thời tăng cường vai trò, trách nhiệm của ba yếu tố của môi trường giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội để giúp cho học sinh và vị thành niên có đầy đủ thông tin, có sự hiểu biết thật sự, từ đó sẽ có những hành vi ứng xử đúng mức, góp phần làm giảm những nguy cơ ảnh hưởng đến SKSS học sinh, vị thành niên, đảm bảo chất lượng cuộc sống.



* Tr­ưëng phßng, ViÖn Khoa häc d©n sè, gia ®×nh vµ trÎ em, Uû ban DS,G§&TE

** Phã tr­ëng phßng, Trung t©m Th«ng tin, Uû ban DS,G§&TE

[1] KÕ ho¹ch ph¸t triÓn vµ ®µo t¹o n¨m 2005, Hµ Néi 8/2004-Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o

[2] Trung t©m gi¸o dôc SKSS/KHHG§, §¹i häc kinh tÕ quèc d©n, Hµ Néi 12/1998 - Søc kháe sinh s¶n vÞ thµnh niªn

[3] Trung t©m gi¸o dôc SKSS/KHHG§, §¹i häc kinh tÕ quèc d©n, Hµ Néi 12/1998 - Søc kháe sinh s¶n vÞ thµnh niªn

[4] B¸o c¸o ®¸nh gi¸ hiÖu qu¶ ho¹t ®éng gi¸o dôc d©n sè trong c¸c tr­êng THPT t¹i 36 tØnh dù ¸n, Hµ Néi 5-2003 –Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o