NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI

CỦA VỊ THÀNH NIÊN VỀ SỨC KHOẺ SINH SẢN Ở MIỀN NÚI QUẢNG NAM

 

                                           ThS. Nguyễn Tấn Thắng*

Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội miền núi tỉnh Quảng Nam, công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống luôn được coi là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, sức khoẻ sinh sản vị thành niên (SKSS VTN) và công tác giáo dục SKSS VTN (giai đoạn từ 10 đến 19 tuổi) lại chưa được chú ý đúng mức. Đây là giai đoạn phát triển có tính bản lề về sinh học và xã hội, là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng từ tuổi ấu thơ đến tuổi trưởng thành với những chức năng sinh học và xã hội cơ bản chưa được định hình và xác lập vững chắc.

Bài này tóm tắt những kết quả chính từ khảo sát trên 1352 vị thành niên trong và ngoài nhà trường tại miền núi Quảng Nam.

1. Tiếp cận với nội dung giáo dục SKSS VTN

1.1 Nếu tỷ lệ khá cao (91,6%) vị thành niên trong tổng số người được hỏi đã từng được nghe và biết về nội dung kế hoạch hoá gia đình thì chỉ hơn một nửa VTN đã nghe và biết về nội dung SKSS (55,8%) và SKSS VTN (51,5%). Tỷ lệ VTN đã nghe và biết về nội dung SKSS VTN càng chênh lệch hơn khi phân tích theo giới tính nữ-nam (50,7%-52,4%); vùng núi cao-vùng đồng bằng (50,7%--53%); dân tộc thiểu số-Kinh (40,1%-58,2%, đặc biệt dân tộc Giẻ-Triêng chỉ có 21,3%); ngoài nhà trường-trong nhà trường (34,7%-56%) và học sinh THCS-THPT (43,7%-61%).

1.2 Chủ đề giáo dục SKSS VTN thường được nghe nhiều nhất là Phòng tránh HIV/AIDS, kế tiếp là Các bệnh lây truyền qua đường tình dục, Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình. Ngược lại, những chủ đề SKSS VTN ít được nghe, biết là Quan hệ tình dục giữa nam và nữ, Những thay đổi về tâm- sinh lý tuổi dậy thì, Sinh lý thụ thai, Các biện pháp tránh thai và Phòng tránh phá thai ở tuổi vị thành niên.

1.3 Nguồn thông tin về các chủ đề SKSS VTN được các đối tượng tiếp nhận chủ yếu là qua các cơ quan thông tin đại chúng (75%), nhà trường (66,8%), cộng đồng (65,9%), gia đình (53,8%), đặc biệt là qua bạn bè (47%), và tự tìm hiểu (36,4%).

2. Nhận thức, thái độ và hành vi đối với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình

2.1 Nhận thức

Hiểu biết đúng của VTN về tình bạn, tình yêu và hôn nhân, gia đình đạt ở mức độ khá. 71,9% VTN đã chọn khái niệm Tình bạn là một loại tình cảm gắn bó hai người hoặc một nhóm người có cùng sở thích, quan niệm sống, ước mơ...Đồng thời, 70,7% phân biệt được tình bạn cùng giới và khác giới khi cho rằng tình bạn khác giới cũng có những đặc điểm của một tình bạn tốt, nhưng có những khoảng cách tế nhị hơn so với tình bạn cùng giới. 60,6% quan niệm  tình yêu là một loại tình cảm đặc biệt, một biểu hiện cao đẹp nhất của tình bạn, làm cho con người trở nên thanh cao hơn, giàu sức sáng tạo hơn

Tuy nhiên, vẫn còn tỷ lệ khá cao VTN hiểu và biết chưa chính xác về tuổi được kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Chỉ có 56% trả lời đúng tuổi của nam được lấy vợ lúc 20 và tuổi của nữ được lấy chồng lúc 18. Đặc biệt, còn một số nhóm đối tượng đặc thù chưa phân biệt được, thậm chí đồng nhất tình bạn khác giới và tình yêu nam nữ. 11% VTN sống ở vùng núi cao Trà My, 25,9% VTN dân tộc Xơ Đăng và 42,8% VTN không biết chữ cho rằng Hai người bạn khác giới chơi thân với nhau là đã yêu nhau.

2.2 Thái độ và hành vi

Thái độ của VTN được khảo sát đối với vấn đề yêu đương và có vợ/chồng ở tuổi VTN chưa thực sự tích cực và khác biệt trong các nhóm đối tượng đặc thù và luôn dao động

Về quan niệm Yêu đương ở tuổi VTN là chuyện bình thường, có 47% người được hỏi không đồng ý, 25% đồng ý và 28% phân vân; 74,5% đồng ý nên dừng ở tình bạn và không nên yêu quá sớm; và 51% đồng ý Với sự bồng bột của tuổi trẻ, yêu sớm có thể dẫn đến quan hệ tình dục sớm

Tuy nhiên, với quan niệm có vợ chồng ở tuổi VTN là chuyện bình thường, tỷ lệ VTN không đồng ý khá cao (80%); 60% đồng tình với nhận định tuổi VTN chưa đủ trưởng thành về tâm lý và sinh lý để kết hôn. Mặc dù vậy, có đến 42% VTN không đồng ý hoặc phân vân về việc Kết hôn ở tuổi VTN là vi  phạm pháp luật.

Về thực trạng và hành vi yêu đương trong tuổi VTN, 25,3% người được hỏi cho là rất phổ biến, 21% thừa nhận là phổ biến; còn về việc lập gia đình sớm, 27% cho là hiện tượng rất phổ biến hoặc phổ biến. Những thông tin này phù hợp với các số liệu thống kê hàng năm của Uỷ ban DS, GĐ&TE tỉnh về các trường hợp tảo hôn và lập gia đình nhưng không làm giấy kết hôn, như năm 2003, tại các huyện miền núi của tỉnh Quảng nam có đến 148 cuộc hôn nhân không được đăng ký vì không đủ tuổi theo quy định.

3. Nhận thức, thái độ và hành vi đối với vấn đề quan hệ tình dục và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

3.1 Nhận thức

Nhận thức và hiểu biết đúng đắn của VTN được khảo sát về các quan niệm tình dục và quan hệ tình dục ở tuổi VTN chiếm tỷ lệ khá cao. 70% VTN cho rằng quan hệ tình dục không đơn thuần chỉ là sự giao hợp mà còn gắn liền với yếu tố đạo đức, tâm lý, trách nhiệm; 76,8% hiểu rằng chỉ nên có quan hệ tình dục trong quan hệ vợ chồng; và 76,2% không quan niệm tình dục chỉ là vấn đề giải trí, vui vẻ.

Phần lớn, VTN kể tên được các loại bệnh lây truyền qua đường tình dục: HIV/AIDS (95,6%), giang mai (48%), lậu (46%), bệnh phụ khoa (16,5%); hiểu biết tốt các nguyên nhân mắc bệnh: sinh hoạt tình dục với nhiều người, đặc biệt là gái mại dâm mà không dùng bao cao su (77%) và không giữ vệ sinh bộ phận sinh dục (41%); hiểu biết đúng đắn về cách phòng tránh, và hiểu biết chính xác về cách và yêu cầu điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục (73% biết phải bắt buộc điều trị cả hai người: người bị bệnh và bạn tình).

Quan niệm và thái độ của VTN được khảo sát về quan hệ tình dục trước hôn nhân không còn quá khắt khe và việc chấp nhận nó có phần dễ dàng hơn trước đây là một thực tế. Vấn đề có thể có quan hệ tình dục ở tuổi VTN nhưng tránh có thai, chỉ có 55,7% người được hỏi không đồng ý; 18,7% đồng ý, và số còn lại (25,6%) lưỡng lự, và phân vân khi trả lời. Đồng thời, có sự khác biệt và chênh lệch lớn về đặc điểm nhân khẩu học trong số những người không đồng ý với quan niệm trên: nữ 63,3%-nam 47,3%; vùng núi thấp 62,1%-núi cao 52,2%; dân tộc Kinh: 64,5%-dân tộc thiểu số 41%; trong nhà trường 57,8%-ngoài nhà trường 45,3%.

Về việc Quan hệ tình dục trước hôn nhân sẽ bị xã hội chê cười, chỉ có 53,7% người được hỏi đồng ý; 21,7% không đồng ý và 24,6% phân vân khi trả lời.

3.2 Thái độ và hành vi

Đa số VTN được khảo sát có thái độ an ủi, bao dung, và sẵn sàng giúp đỡ nếu nếu người thân mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là người bị nhiễm HIV. Chỉ có một số ít VTN tỏ thái độ lo sợ và xa lánh những người bị nhiễm HIV. Hơn nữa, nhiều VTN tin tưởng vào lòng tốt sẽ giúp những bệnh nhân AIDS tiếp tục hoà nhập với cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn trên 12% người được khảo sát có thái độ phân vân. Điều này cho thấy những người bị nhiễm HIV/AIDS sẽ có cuộc sống hoà nhập thực sự trong cộng đồng là một việc làm không hề dễ dàng.

4. Nhận thức, thái độ và hành vi đối với sinh lý thụ thai, các biện pháp tránh thai (BPTT) và phá thai

4.1 Nhận thức:

Ngoài số đông VTN (72,5%) hiểu biết rõ nếu không có quan hệ tình dục người ta sẽ không có thai, nhìn chung nhận thức và hiểu biêt của VTN về sinh lý thụ thai rất hạn chế và còn nhiều sai lệch. Phần lớn nhầm lẫn rằng nữ giới không thể có thai nếu còn ở độ tuổi VTN hoặc còn trẻ (76,7%), có quan hệ tình dục lần đầu (14,1%), chưa đến chu kỳ kinh nguyệt (50,3%), đang hành kinh (26,5%); đặc biệt, chỉ có 37,4% VTN hiểu biết được nếu áp dụng các BPTT hiện đại người ta sẽ không có thai

Phần lớn VTN kể tên được các BPTT hiện đại (vòng, bao cao su, thuốc tiêm, thuốc uống, triệt sản nam-nữ), hiểu biết tốt về tác dụng và hiệu quả tránh thai cao của các BPTT hiện đại (rất ít VTN nhắc đến biện pháp tính vòng kinh). Tuy nhiên, hiểu biết của VTN về các BPTT phù hợp với lứa tuổi VTN của mình rất thấp, thậm chí sai lệch. Chỉ có 21% VTN nói về bao cao su, 16% về thuốc tránh thai, và chỉ có 3% nhắc đến thuốc tránh thai khẩn cấp. Một số khác hiểu biết hoàn toàn không chính xác khi cho rằng VTN có thể sử dụng vòng tránh thai (3%), triệt sản nam (4,8%), và triệt sản nữ (6%), thậm chí có 5,5% VTN cho rằng phá thai cũng là một BPTT.

4.2 Thái độ và hành vi

Về vấn đề phá thai, 81% không đồng tình. Tuy nhiên, 5,5% VTN đồng ý và coi đó là chuyện bình thường vì nó chỉ là một BPTT mà thôi, và vẫn còn 13,4% VTN lưỡng lự về việc nên hay không nên phá thai ở tuổi VTN

Về thực trạng và hành vi sử dụng BPTT ở lứa tuổi VTN, 4,8% VTN cho là rất phổ biến, 9,7% thừa nhận phổ biến; còn tình trạng phá thai trong tuổi VTN có tỷ lệ không đáng kể. Thông tin này có cơ sở thực tế vì một mặt do phong tục tập quán, mặt khác do các thiếu thông tin và dịch vụ, khi mang thai, người ta ít phá thai mà thường giữ lại để sinh con. Đó là lý do chính, bình quân hàng năm, giai đoạn 1999-2003, tại vùng này có khoảng 380 bà mẹ trẻ đã sinh nở ở tuổi dưới 19.

5. Nhận xét và khuyến nghị

5.1 Nhận xét

- Nhìn chung, nhận thức, thái độ và hành vi của VTN ở miền núi Quảng Nam về nội dung giáo dục SKSS VTN còn nhiều bất cập. Tình bạn, tình yêu, hôn nhân, gia đình, hoạt động tình dục, mang thai, sinh con...luôn là những vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với VTN; đồng thời nó còn mang theo những nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất, tinh thần và xã hội của chính VTN.

- Hiểu biết của họ về nội dung giáo dục SKSS còn phiến diện và thiếu hụt. Quan niệm trong số đông VTN về những vấn đề thiết thân liên quan đến SKSS VTN chưa thực sự phù hợp, thậm chí lệch chuẩn, so với định hướng và mục tiêu giáo dục của xã hội về lĩnh vực này. Do thiếu hiểu biết và quan niệm sai lệch về SKSS, VTN không thể lường trước nhiều hậu quả, không biết cách chủ động tự bảo vệ bản thân, và hệ quả là tình trạng tảo hôn và sinh con sớm ở tuổi VTN chưa có xu hướng giảm thiểu ở vùng này.

5.2 Khuyến nghị

- Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý chương trình DS/SKSS trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp; thống nhất trong đánh giá thực trạng tình hình SKSS VTN và tạo dư luận xã hội rộng rãi ủng hộ và cam kết trách nhiệm về giáo dục và chăm sóc SKSS VTN bằng các chương trình, kế hoạch, và các hoạt động cụ thể phù hợp tại cộng đồng.

- Xây dựng các chương trình giáo dục SKSS VTN và mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, thái độ và kỹ năng thực hành giáo dục SKSS VTN trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở cơ sở, những người có uy tín trong cộng đồng, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, cán bộ y tế, dân số, và các đoàn thể, đặc biệt là Đoàn TNCS HCM các cấp.

 

- Thực hiện đầy đủ và có hiệu quả chương trình giảng dạy về SKSS VTN trong nhà trường thông qua giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và các hoạt động ngoại khoá; nâng cao trách nhiệm và hiệu quả giáo dục của gia đình, duy trì các sinh hoạt định kỳ của các hội, đoàn thể nhân dân  nhằm cung cấp thông tin, kiến thức, kỹ năng, và các hướng dẫn cho các bậc cha mẹ trong giáo dục SKSS VTN

- Đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, giáo dục chuyển đổi hành vi về SKSS VTN, phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, các chiến dịch truyền thông lồng ghép, tư vấn nhóm đông, tư vấn tại nhà, cung cấp và phân phát các loại tài liệu tuyên truyền về SKSS, SKSS VTN.

- Phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, Đoàn TN và ngành DS các cấp trong việc xây dựng và duy trì các mô hình can thiệp truyền thông khác nhau nhằm thu hút và phát huy tối đa tính chủ động của VTN trong chuyển đổi hành vi về SKSS  như các CLB SKSS VTN, CLB tiền hôn nhân, CLB bạn gái, trung tâm tư vấn, các cuộc thi, giao lưu, dã ngoại; đặc biệt là mô hình tư vấn đồng đẳng, một hình thức giáo dục có sự tham gia của bản thân VTN và cộng đồng người hưởng lợi, không chỉ là phương tiện mà còn là mục tiêu bền vững của chương trình giáo dục SKSS VTN, rất phù hợp và có hiệu quả cao hiện nay.



* Chñ nhiÖm Uû ban D©n sè, Gia ®×nh vµ TrÎ em tØnh Qu¶ng Nam