CHĂM SÓC SỨC KHOẺ SINH SẢN CHO CÁC ĐỐI TƯỢNG

LAO ĐỘNG TỰ DO ĐẾN ĐÔ THỊ

 

Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế - xã hội của Việt Nam, những năm gần đây, tốc độ phát triển của các đô thị cũng tăng nhanh. Nhiều khu kinh tế văn hoá lớn, nhiều công trình phúc lợi được tu tạo xây mới, cơ sở hạ tầng được nâng cấp. Nhiều công trình tầm cỡ quốc gia được xây dựng,  các dự án chung cư lớn các khu phố mới hình thành... đã thu hút một lượng lao động với đủ  các tầng lớp trình độ chuyên môn tay nghề khác nhau đến các đô thị.

Hầu hết đây là những nông dân lao động từ các địa phương lân cận đến kiếm sống bằng đủ mọi nghề, có người thì ra thành phố khi nông nhàn, có thể vài ngày đến vài tháng, hết việc lại về. Với mục tiêu kiếm tiền tăng thu nhập cho gia đình hoặc cá nhân; nhưng cũng khá nhiều thanh niên độ tuổi 16 -22 đã thôi học phổ thông không có điều kiện hoặc không có khả năng theo học ngành nghề ở các trường hoặc xin việc ở các cơ sở có quy mô lớn, nên họ phải tự vận động, hoặc nhờ đến sự dẫn dắt của người quen, cũng như các cơ sở giới thiệu việc làm để đến tìm việc ở các đô thị lớn.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ riêng Hà Nội hàng năm đã thu hút 16,5 vạn lao động ở các tỉnh đến để làm ăn (chiếm 10% tổng số lao động phổ thông của Hà Nội). ở TP Hồ Chí Minh, trong một tuần trước thời điểm  điều tra đã thu hút 40,3 vạn lao động thường xuyên ở tỉnh khác đến làm việc (chiếm 14% tổng lao động phổ thông của thành phố). Lực lượng lao động  này ngày một gia tăng cùng với sự phát triển của các đô thị. Nhiều người còn mang theo cả gia đình lên ở tạm bợ dưới gầm cầu, bờ sông hay ven ngoại thành, cả ngày chia nhau đi kiếm sống bằng đủ thứ nghề, tối về lại chui rúc vào các lán tồi tàn. Nhiều nơi đã biến thành các xóm liều, chất lượng cuộc sống rất thấp, mọi điều kiện sinh hoạt thiếu thốn: không học hành, không khám chữa bệnh, và không có vui chơi giải trí.

Tình trạng trên nảy sinh nhiều vấn đề bất cập về nhu cầu ăn ở, học tập, chữa bệnh, vui chơi giải trí của đối tượng này. Vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho người dân lao động nhập cư về các đô thị lớn cũng được nhiều đoàn thể tham gia, trong đó hội phụ nữ hoạt động đạt kết quả khá tốt. Các cấp hội từ trung ương đến phường, xã đều có chương trình cụ thể về công tác này. Từ việc điều tra số người, số hộ khẩu tạm trú, mức thu nhập của mỗi gia đình đến nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của họ đều được tiến hành theo tháng, quý giới sự phối hợp chặt chẽ giữa hội với các ngành, các cấp ở phường. Thực tế cho thấy, việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản chủ yếu tập trung vào đối tượng nữ nên hội phụ nữ tham gia công tác này gặp rất nhiều thuận lợi trong việc tuyên truyền vận động.

Các ban nghành, đoàn thể bước đầu tham gia vào công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho đối tượng là dân ngoại tỉnh đang cư trú tại các đô thị lớn thực sự là một tín hiệu tốt cho ngành dân số, y tế và các ngành có liên quan. Những kết quả đó có thể coi là kinh nghiệm quý báu đem lại ý nghĩa to lớn không chỉ trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, mà còn tạo ra môi trường lành mạnh nhằm ổn định dân số ở nước ta, Khi người dân có đầy đủ kiến thức về sức khoẻ sinh sản thì họ ý thức được sâu sắc về công tác DS - KHHGĐ, từ đó điều chỉnh hành vi dân số phù hợp với điều kiện sống của gia đình, mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội.

Hồng Long