SỐ LIỆU THỐNG KÊ

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM NĂM 2004

 

Lực lượng lao động cả nước chia theo giới tính, thành thị, nông thôn

 

2003

2004

Tổng số – Nghìn người

42124,6

43255,3

Nam

21357,2

22065,2

Nữ

20767,4

21190,1

Thành thị

10188,5

10549,3

Nông thôn

31936,1

32706,0

Tỷ số giới tính - %

102,8

104,1

Phần trăm LLLĐ thành thị- %

24,2

24,4

 

Lực lượng lao động cả nước chia theo vùng kinh tế năm 2004

                                                                                                       Đơn vị: Nghìn người

 

Sè l­îng

C¬ cÊu %

Cả nước

43255,3

100,0

Đồng bằng sông Hồng

9718,3

22,5

Đông Bắc

5129,2

11,9

Tây Bắc

1373,7

3,2

Bắc Trung Bộ

5214,6

12,1

Duyên Hải Nam Trung Bộ

3582,4

8,3

Tây Nguyên

2415,7

5,6

Đông Nam Bộ

6536,9

15,1

Đồng bằng sông Cu Long

9284,5

21,5

 

Số lượng và cơ cấu lao động có việc làm chia theo nhóm ngành kinh tế – 2004

 

 

Tổng số

Trong đó

Khu vực I

Khu vực II

Khu vực III

I. Số lượng (1000 người)

Cả nước

42329,1

24511,5

7345,6

10472,0

Đồng bằng sông Hồng

9562,6

5217,8

2121,2

2223,6

Đông Bắc

5050,5

3811,6

463,2

775,7

Tây Bắc

1363,8

1167,9

54,7

141,2

Bắc Trung bộ

5139,1

3488,5

734,1

916,5

Duyên Hải Nam Trung Bộ

3493,3

1820,1

731,2

942,0

Tây Nguyên

2376,3

1763,0

175,5

437,8

Đông Nam Bộ

6280,6

1792,9

1877,6

2610,1

Đồng bằng sông Cửu Long

9062,9

5449,7

1188,1

2425,1

II. Cơ cấu (%)

Cả nước

100,0

57,9

17,4

24,7

Đồng bằng sông Hồng

100,0

54,6

22,2

23,3

Đông Bắc

100,0

75,5

9,2

15,4

Tây Bắc

100,0

85,6

4,0

10,4

Bắc Trung bộ

100,0

67,9

14,3

17,8

Duyên Hải Nam Trung Bộ

100,0

52,1

20,9

27,0

Tây Nguyên

100,0

74,2

7,4

18,4

Đông Nam Bộ

100,0

28,6

29,9

41,5

Đồng bằng sông Cửu Long

100,0

60,1

13,1

26,8

 

Khu vực I: Nông, lâm, ngư

Khu vực II: Công nghiệp và Xây dựng

Khu vực III: Dịch vụ

 

Tỷ lệ thất nghiệp của Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị

                                                                                                                   %

 

2002

2003

2004

Cả nước

6,01

5,78

5,60

Đồng bằng sông Hồng

6,64

6,37

6,03

Đông Bắc

6,1

5,94

5,45

Tây Bắc

5,11

5,19

5,30

Bắc Trung Bộ

5,82

5,45

5,35

Duyên Hải Nam Trung Bộ

5,5

5,46

5,70

Tây Nguyên

4,9

4,39

4,53

Đông Nam Bộ

6,3

6,08

5,92

Đồng bằng sông Cửu Long

5,5

5,26

5,03

 

Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn

                                                                                                       %

 

2002

2003

2004

Cả nước

75,5

77,94

79,34

Đồng bằng sông Hồng

76,3

78,73

80,39

Đông Bắc

75,5

77,37

78,90

Tây Bắc

71,1

74,45

77,61

Bắc Trung bộ

74,6

76,06

76,55

Duyên Hải Nam Trung Bộ

75,0

77,69

79,36

Tây Nguyên

78,1

80,58

80,80

Đông Nam Bộ

75,5

78,51

81,56

Đồng bằng sông Cửu Long

76,6

78,43

78,66

Nguồn: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội – Kết quả điều tra lao động – việc làm năm 2004.

-------------------------------------------------------

[1]Từ lâu, dân số học nỗ lực tìm hiểu tác động qua lại giữa dân số và kinh tế. Những năm gần đây, nhiều nhà dân số học quan tâm đến hiện tượng mà họ gọi bằng nhiều thuật ngữ: cửa sổ dân số, cơ hội dân số, lợi tức dân số, kỷ nguyên dân số vàng. Bài viết xem xét chủ đề này dựa trên việc tham khảo một số bước tiến mới trong việc nghiên cứu tác động tích cực tiềm tàng của dân số đối với tăng trưởng kinh tế và áp dụng vấn đề này ở Việt Nam.

1.     Tình hình nghiên cứu, nguồn số liệu và cơ sở lý thuyết

1.1.  Ba luận điểm về mối liên hệ dân số và tăng trưởng kinh tế

Lịch sử dân số học đã trải qua ba quan điểm lý luận về quan hệ dân số và tăng trưởng kinh tế. Mầm mống từ thời Thomas Malthus và nổi lên từ cuối thập niên 1940, "lý thuyết dân số học bi quan" cho rằng dân số ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế. Nổi bật từ đầu thập niên 1980, "lý thuyết dân số học lạc quan", ngược lại, cho dân số là cơ sở hỗ trợ phát triển kinh tế. Một số  nhà dân số học thận trọng hơn với ảnh hưởng tích cực đương nhiên của yếu tố dân số. Họ đại diện cho cái được gọi là "lý thuyết dân số học trung tính" trong thập niên 1990: dân số không tự động có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến kinh tế, mà có một loạt yếu tố can thiệp khác quyết định xu hướng ảnh hưởng này (Bloom, 2001b và 2003).


[1] Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu của Đề tài KX.02.10 "Các vấn đề xã hội và môi trường của quá trình công nghiệp hoá & hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa" (2001-2004). Tác giả cảm ơn TS. Vũ Mạnh Lợi về những góp ý cho bài viết.