DÂN SỐ CANADA: CƠ CẤU TUỔI GIỚI TÍNH

Tuổi trung vị cao

Số liệu tổng điều tra dân số về giới tính và độ tuổi cho thấy tại thời điểm 15/5/2001 tuổi trung vị của dân số Canada đạt mức cao là 37,6 tuổi tăng 2,3 tuổi so với mức 35,3 tuổi năm 1996. Đây là mức tăng lớn nhất trong một thế kỷ giữa 2 lần tổng điều tra. Tuổi trung vị là tuổi chia dân số thành hai phần, một nửa dân số có tuổi cao hơn tuổi trung vị và nửa dân số còn lại là có tuổi thấp hơn tuổi trung vị.

Số sinh giảm kể từ năm 1991 là một yếu tố chủ yếu làm cho mức tăng dân số thấp kỷ lục trong thời kỳ 1996 – 2001 đồng thời tuổi trung vị cũng tăng kỷ lục. Nếu như số sinh duy trì ở mức của năm 1991, thì tuổi trung vị sẽ tăng lên 1,8 tuổi trong thời kỳ 1996-2001, mức tăng trong phạm vi đã quan sát được kể từ năm 1976 giữa hai lần tổng điều tra.

Tuổi trung vị đã tăng liên tục kể từ khi kết thúc quá trình bùng nổ trẻ em vào năm 1966, khi đó tuổi trung vị chỉ là 25,4 tuổi. Tuổi trung vị tăng là một trong số nhiều chỉ báo về già hoá dân số, một sự phát triển có ảnh hưởng đến lực lượng lao động, nền kinh tế, các dịch vụ xã hội và hệ thống chăm sóc sức khoẻ.

Giữa những năm 1991 - 2001, dân số 80 tuổi trở lên đã tăng tới 41% (lên tới 932.000). Triển vọng sẽ tăng thêm 43% từ năm 2001 đến năm 2011. Khi ấy, số người từ 80 tuổi trở lên sẽ vượt qua con số ước tính là 1,3 triệu người. Dân số từ 45-64 tuổi đã tăng 36% trong thời kỳ 1991-2001 do số trẻ sinh ra trong thời kỳ bùng nổ trẻ em gia nhập vào nhóm tuổi này. Kết quả là dân số trong độ tuổi lao động của Canada chủ yếu là những người già. 

Tổng điều tra dân số năm 2001 cho thấy những người từ 65 tuổi  trở lên chiếm tới 13% tổng số dân, tăng từ mức 12% năm 1991. Theo dự báo tỷ lệ này sẽ đạt 15% vào năm 2011. Mặt khác, có 26% dân số từ 19 tuổi trở xuống, giảm từ 28% năm 1991. Nếu mức sinh vẫn duy trì thấp, tỷ lệ này sẽ giảm xuống dưới 23% vào năm 2011. Nova Scotia và Quebec là những tỉnh có dân số già nhất, với tuổi trung vị là 38,8. Alberta là tỉnh có dân số trẻ nhất, với tuổi trung vị là 35, 0.

Nhóm người già nhất trong dân số tăng nhanh

Nhóm dân số có tốc độ tăng nhanh nhất là nhóm người từ 80 tuổi trở lên. Số người thuộc nhóm này sẽ tăng từ 932.000 người thời kỳ 1991-2001 lên hơn 1,3 triệu người thời kỳ 2001-2011. Đồng thời Canada đã trải qua một quá trình giảm đáng kể số lượng trẻ từ 4 tuổi trở xuống. Tổng điều tra dân số năm 2001 cho thấy có 1,7 triệu trẻ  em trong nhóm tuổi này, giảm 11% so với năm 1991, kết quả này chủ yếu là do tỷ suất sinh của Canada giảm. Năm 2011, ước tính nhóm tuổi này có thể giảm xuống còn 1,6 triệu.

Những xu hướng trên bắt đầu từ năm 1966 cuối thời kỳ bùng nổ trẻ em, khi mức sinh bắt đầu giảm mạnh. Giữa năm 1966 và 2001, tổng số dân của Canada đã tăng lên khoảng 50%, từ 20 triệu lên 30 triệu người. Trong khoảng thời gian 35 năm đó, dân số từ 19 tuổi trở xuống giảm 8% xuống 7,7 triệu, đồng thời dân số từ 65 tuổi trở lên đã tăng hơn gấp đôi, từ 1,5 triệu lên đến 3,9 triệu người. 

Tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên sẽ bắt đầu tăng nhanh hơn năm 2011 khi những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ trẻ em (năm 1946) đạt 65 tuổi. Đồng thời, tỷ trọng những người từ 20 đến 64 tuổi sẽ bắt đầu giảm, và tuổi trung vị của họ sẽ ổn định.

Chuyển dịch về quy mô dân số trong các nhóm tuổi khác nhau có những ảnh hưởng rộng lớn đến xã hội, kinh tế và chính sách. Số trẻ trước tuổi đến trường, học sinh, công nhân ở thời điểm khởi đầu, giữa hoặc cuối tuổi lao động, những người nghỉ hưu v.v. có tác động sâu rộng đến thị trường lao động và nhà ở, nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ, và chính sách.

Dân số trong độ tuổi lao động ngày càng gồm nhiều người già

Dân số trong độ tuổi lao động đang trở nên già hơn. Nói cách khác là dân số trong độ tuổi lao động ngày càng có nhiều người thuộc các nhóm tuổi cao và ngày càng ít người thuộc các nhóm tuổi trẻ hơn, hiện tượng này trước đây chưa từng có.

Trong 10 năm qua, dân số thuộc nhóm tuổi 45- 64 ở Canada tăng 35,8%, tới khoảng 7,3 triệu người. Góp phần chủ yếu vào sự tăng lên này là số những người già nhất thuộc nhóm bùng nổ trẻ em (những người sinh ra trong thời kỳ 1946–1965). Chỉ  riêng những người 45-64 tuổi đã chiếm gần một phần tư trong tổng số 30 triệu dân của Canada năm 2001, so với năm 1991 chỉ có 20%. Dân số thuộc nhóm tuổi này sẽ vượt tỷ lệ 30% trong vòng 10 năm tới, khoảng 9,5 triệu người. Năm 2011, những người này sẽ chiếm khoảng một phần ba tổng số dân của Canada.

Năm 2001, tuổi trung vị của lực lượng lao động chính (20-64 tuổi) là 41,3  tuổi, tăng 3,2 tuổi so với một thập kỷ trước đó là 38,1 tuổi, mức tăng lớn nhất kể từ năm 1921. Năm 2011, tuổi trung vị của nhóm lao động chính này dự báo sẽ đạt 43,7 tuổi. Số liệu cho thấy có ít người trẻ tuổi hơn tham gia vào dân số trong tuổi lao động để thay cho những người ở nhóm tuổi sắp nghỉ hưu. Năm 1991, cứ một người trong độ tuổi 55-64, thì có 1,6 người trong độ tuổi 15-24. Năm 2001, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 1,4 và năm 2011, nếu xu hướng nhân khẩu học này tiếp tục duy trì, khả năng sẽ có sự ngang bằng.

Số lượng nam giới cao tuổi gần bằng số lượng phụ nữ cao tuổi

Nhìn chung do những khác biệt về tử vong, năm 2001 tổng số phụ nữ nhiều hơn nam giới chút ít. Kết quả tổng điều tra dân số là có 14,7 triệu nam giới và 15,3 triệu phụ nữ, với tỷ số 96 nam trên 100 nữ. Ttỷ số giới tính khi sinh là 105 em trai trên 100 em gái. Sự chênh lệch về giới tính rõ rệt nhất trong số những người 65 tuổi trở lên. Tuy nhiên, do chênh lệch về tử vong theo giới thu hẹp dần, số lượng nam giới cao tuổi hiện nay đã gần bằng số lượng phụ nữ cao tuổi sau bốn thập kỷ (1951-1991) khác biệt.

Năm 2001, cứ 75 nam giới cao tuổi thì có 100 phụ nữ cao tuổi, tăng từ con số 72 năm 1991. Trước năm 1991, tỷ số nam giới so với phụ nữ đã giảm mạnh từ năm 1951 khi tỷ số này gần bằng 1-1.  Trước năm 1951, số lượng nam giới cao tuổi đã vượt số lượng phụ nữ cao tuổi phần lớn do tử vong mẹ.

Những người trăm tuổi: phụ nữ vượt nam giới với tỷ lệ 4:1

Tổng điều tra cho thấy năm 2001 có 3.795 người 100 tuổi trở lên, tăng 21% so với năm 1996 (3.125 người). Trong số này có 3.055 nữ và 740 nam. Số người trăm tuổi này phân bố trong các tỉnh gần bằng tỷ trọng dân số của các tỉnh: 36% sống ở Ontario, 21% sống ở Quebec và 14% sống ở British Columbia. Tuổi thọ của thế hệ sinh ra năm 1901 ước tính là 56 năm và xác suất sống đến tuổi 100 cao hơn 1%. Tuổi thọ đặc biệt của những người trăm tuổi điều tra được trong Tổng điều tra 2001 chắc là do sự kết hợp của khuynh hướng di truyền, môi trường tốt và lối sống lành mạnh.

Dân số Canada và các nước G8: trẻ hơn châu Âu nhưng già hơn Mỹ

Trong số các nước G8, tuổi trung vị của Canada cao hơn Mỹ và Nga nhưng lại thấp hơn Đức, Nhật và Italia, tương đương với Pháp và Anh. Tuổi trung vị của Canađa cao hơn tuổi trung vị của Ôxtrâylia, nước không phải là thành viên của G8. Do tỷ suất sinh cao hơn nên tốc độ già hoá của dân số Mỹ chậm hơn các nước phát triển khác. Thực tế thời kỳ 1990-2000, tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên của Mỹ có giảm đôi chút. Năm 1990, có 12,6% dân số Mỹ từ 65 tuổi trở lên, so với 11,6% năm 1991 ở Canada. Hiện nay tình hình đã đảo ngược. Năm 2000, 12,3% dân số Mỹ từ 65 tuổi trở lên, so với 13%o năm 2001 ở Canada. Do tác động của bùng nổ trẻ em ở Canada, và tốc độ giảm sinh vào cuối những năm 60 thế kỳ trước, dân số trong độ tuổi lao động chính ở Canada già hơn so với tất cả các nước thuộc nhóm G8 khác, trừ Đức và Nhật Bản.

Cùng với Nhật Bản, Canada có tỷ lệ thấp nhất về lực lượng lao động trẻ (20-39) so với nhóm 40-59. Không có một nước G8 nào có sự tương phản như vậy về quy mô dân số của nhóm dân số trẻ so với nhóm dân số già hơn trong độ tuổi lao động chính. Vì vậy, cần chuẩn bị cho các thế hệ trẻ hơn về ảnh hưởng của việc nghỉ hưu trong số những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ trẻ em. Trước tình trạng phân bố tuổi hiện nay của Canada, già hoá dân số là không thể tránh khỏi. Tuy nhập cư hỗ trợ thêm cho thị trường lao động, nhưng nó có tác động hạn chế tới già hoá dân số. Trong thập kỷ 1981-1991, có 1,4 triệu người nhập cư đến Canada. Mức nhập cư đã tăng gần gấp đôi lên tới 2,2 triệu trong thập kỷ 1991-2001. Tuy nhiên, tuổi trung vị vẫn tiếp tục tăng khoảng 4 tuổi trong cả hai thời kỳ. Với giả định là hàng năm có 225.000 người nhập cư, tuổi trung vị dự tính sẽ tăng thêm 3,4 tuổi trong thập kỷ 2001-2011. Dự báo trong  tương lai số người nhập cư sẽ gấp đôi, vượt xa các mức trước đây, nhưng tuổi trung vị vẫn sẽ tăng thêm 2,4 tuổi. 

Nguyễn Thái Hà (dịch)      

Nguồn: 2001 Census Analysis Series (www.statcan.ca).