KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM 1/7/2005

 


Cuộc điều tra lao động - việc làm 1/7/2005 đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện theo Quyết định số 27/TTg ngày 8/3/2001 của Thủ tướng Chính phủ về Điều tra Lao động - Việc làm hàng năm (giai đoạn 2001- 2005).

Điều tra được tiến hành trên phạm vi cả nước với các địa bàn mẫu đã được chọn. Tổng số địa bàn mẫu của cả nước là 3.356 địa bàn (thành thị 2.058 địa bàn, nông thôn 1.298 địa bàn). Mỗi địa bàn (thành thị cũng như nông thôn) điều tra 30 hộ. Có mẫu chung của cả nước là 100.680 hộ với khoảng 500.000 nhân khẩu. Khu vực thành thị điều tra 61.740 hộ với 300.000 nhân khẩu; khu vực nông thôn điều tra 38.940 hộ với 200.000 nhân khẩu.

Phương pháp điều tra là phỏng vấn trực tiếp - Điều tra viên đến từng hộ, phỏng vấn chủ hộ và các đối tượng điều tra để ghi các câu trả lời vào phiếu điều tra.

Sau đây là các kết quả chủ yếu:

I- Đặc trưng về quy mô, cơ cấu lực lượng lao động

1. Quy mô lực lượng lao động

- Tại thời điểm 1/7/2005, lực lượng lao động (LLLĐ) nói chung (bao gồm độ tuổi và trên độ tuổi lao động) của cả nước có 44.385 nghìn người, tăng gần 2,6% so với thời điểm 1/7/2004 với quy mô tăng thêm là 1.143 nghìn người.

LLLĐ trong độ tuổi lao động có 41.8156 nghìn người, chiếm 94,2%, tăng 2,5% so với thời điểm 1/7/2004 với quy mô tăng thêm là 1.023 nghìn người.

2. Cơ cấu lực lượng lao động chia theo giới tính, độ tuổi lao động, khu vực thành thị nông thôn, vùng lãnh thổ.

- Chia theo giới tính; nam chiếm 51,3%; nữ chiếm 48,7%. So với thời điểm 1/7/2004 tỷ lệ nam trong tổng LLLĐ tăng 0,3%, tỷ lệ nữ giảm tương ứng 0,3%.

- Chia theo độ tuổi lao động, LLLĐ trong độ tuổi lao động chiếm 94,2%; trên độ tuổi lao động chiếm 5,8%. So với thời điểm 1/7/2004 tỷ lệ LLLĐ trong độ tuổi lao động giảm 0,1%; tỷ lệ LLLĐ trên độ tuổi lao động tăng tương ứng 0,1% trong tổng LLLĐ của cả nước.

Chia theo khu vực thành thị, nông thôn, trong tổng LLLĐ nói chung, thành thị có 11.071,1 nghìn người (24.9%); nông thôn có 33.313,9 nghìn người (75,1%). So với thời điểm 1/7/2004 tỷ lệ LLLĐ khu vực thành thị chiếm trong tổng LLLĐ cả nước tăng 0,5%.

Chia theo vùng lãnh thổ, Đông bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có LLLĐ chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng LLLĐ cả nước (21- 22%); chiếm tỷ lệ thấp là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, trong đó thấp nhất Tây Bắc (3,2%). So với thời điểm 1/7/2004, phân bố LLLĐ theo vùng lãnh thổ đang có xu hướng tăng tỷ trọng LLLĐ của vùng Đông Nam Bộ và giảm tỷ trọng LLLĐ của các vùng Bắc Trung Bộ và Đồng bằng sông Hồng trong tổng LLLĐ của cả nước.

3. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên

- Tính chung cả nước, tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên là 71,1%, tăng 0,1% so với thời điểm 1/7/2004; ở khu vực thành thị là 63,8% (tăng 0,8%); khu vực nông thôn là 74% (giảm 1%).

- Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên cao nhất là Tây Nguyên và Tây Bắc (78%), thấp nhất là Đông Nam Bộ (66%); các vùng khác tỷ lệ này phổ biến ở mức 70-75%.

- Trong ba vùng Kinh tế trọng điểm, vùng có tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên cao nhất là Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ (71,1%), thấp nhất là Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam là 67,5%.

II. Trình độ học vấn phổ thông và chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ

1 Trình độ học vấn phổ thông

       - Tỷ lệ mù chữ của LLLĐ cả nước là 4%; tốt nghiệp PTCS là 32,6%; tốt nghịêp PTTH là 21,2%. So với thời điểm 1/7/2005, trình độ học vấn phổ thông của LLLĐ cả nước tiếp tục được nâng cao (giảm tỷ lệ mù chữ 0,4% và tăng tỷ lệ tốt nghiệp PTTH 1,6%).

Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỷ lệ LLLĐ mù chữ cao nhất là Tây Bắc (17,6%) tiếp đến là Tây Nguyên (10,5%), thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng (0,6%) và Bắc Trung Bộ (1,9%), các vùng khác, tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 2,6%- 5,9%; vùng có tỷ lệ tốt nghiệp PTTH cao nhất là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ (28%-29%), thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Bắc (11%-12%), các vùng khác, tỷ lệ này từ 16%-21%. Nhìn chung, trình độ học vấn phổ thông của LLLĐ ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long còn thấp hơn khá nhiều so với các vùng khác.

Trong ba vùng kinh tế trọng điểm, LLLĐ ở Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ có trình độ học vấn phổ thông cao nhất (tỷ lệ mù chữ chiếm 0,8% trong khi tỷ lệ tốt nghiệp PTTH chiếm tới 32,7%), tiếp đến là Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam với các chỉ số tương ứng là 2,6% và 26,2%; thấp nhất là vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (tỷ lệ mù chữ chiếm 2,9%, tốt nghiệp PTTH chiếm 20,6%).

2 Trình độ chuyên môn kỹ thuật

Tỷ lệ đã qua đào tạo của LLLĐ cả nước là 24,8% (tăng 2,2% so với thời điểm 1/7/2004); trong đó, tỷ lệ đã qua đào tạo nghề nói chung là 15,2% (tăng 1,8%), tỷ lệ tốt nghiệp THCN là 4,3% (giảm gần 0,1%); tỷ lệ tốt nghiệp cao đẳng đại học và trên đại học là 5,3% (tăng 0,4%).

Trong 8 lãnh thổ, vùng có tỷ lệ LLLĐ đã qua đào tạo cao nhất là Đông Nam Bộ (37,4%); tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng (34,4%); thấp nhất là Tây Bắc (13,5%); các vùng khác tỷ lệ này từ 16%-18%. So với thời điểm 1/7/2004, tỷ lệ LLLĐ đã qua đào tạo đều tăng rõ rệt ở các vùng, nhưng mức tăng thêm ở các vùng vốn có tỷ lệ cao vẫn lớn hơn các vùng có tỷ lệ thấp nên sự cách biệt về tỷ lệ LLLĐ đã qua đào tạo giữa các vùng có xu hướng gia tăng.

- Trong ba vùng kinh tế trọng điểm, LLLĐ ở Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ có tỷ lệ đã qua đào tạo (36,4%); Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam (36,1%); Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung (31%). So với thời điểm 1/7/2004, vùng có tỷ lệ LLLĐ đã qua đào tạo: Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung tăng 2,3% (bằng mức tăng trung bình của cả nước).

III. Quy mô, cơ cấu lao động có việc làm

1. Tổng số lao động có việc làm

Tính chung cả nước, tại thời điểm 1/7/2005 có 43.456,6 nghìn người từ đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, tăng 1.127,5 nghìn người với tốc độ tăng 2,7% so với thời điểm 1/7/2004 (nhanh hơn tốc độ tăng của lực lượng lao động 0,1%).

2. Cơ cấu lao động có việc làm

Chia theo ba khu vực ngành kinh tế, cả nước có 24.677 nghìn người làm việc chính ở khu vực I (nông, lâm nghiệp và thuỷ sản) chiếm 56,8%; 7.769,6 nghìn người làm việc chính ở khu vực II (công nghiệp và xây dựng) chiếm 17,9 và 11.010 nghìn người làm việc chính ở khu vực III (dịch vụ) chiếm 25,3%.

So với thời điểm 1/7/2004, cơ cấu lao động của cả nước tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng cả về số lượng và tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực II và khu vực III, giảm tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực I.

Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có cơ cấu lao động tiến bộ nhất là Đông Nam Bộ (tương ứng theo 3 khu vực là 27,8%; 30,9% và 41,3%); tiếp đến là Duyên hải Nam Trung Bộ (50,8%; 21,8% và 27,4%) và Đồng bằng sông Hồng (52,8%; 22,2% và 25%); Vùng có cơ cấu lao động lạc hậu nhất là Tây Bắc (84,9%; 5,2% và 9,9%) và Tây Nguyên (72,9%; 8,1% và 19%); các vùng khác ở dưới mức trung bình của cả nước.

Trong ba vùng kinh tế trọng điểm, vùng KTTĐ phía Nam có cơ cấu lao động tiến bộ nhất (32,8% và 38%), hai vùng còn lại cơ cấu lao động không có sự khác biệt đáng kể và tiến bộ so với mức trung bình của cả nước.

Trong ba vùng kinh tế trọng điểm, vùng KTTĐ phía Nam có cơ cấu lao động tiến bộ nhất (32,8%; 29,2% và 38%), hai vùng còn lại cơ cấu lao động không có sự khác biệt đáng kể và tiến bộ hơn so với mức trung bình của nước.

Chia theo loại hình kinh tế, cả nước có 4.413 nghìn người làm việc ở khu vực Nhà nước, chiếm 10,2%; 38.355,7 nghìn người làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước, chiếm 88,2% và 687,9 nghìn người làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 1,6%. So với thời điểm 1/7/2004, lao động làm việc ở khu vực Nhà nước tăng thêm 72,6 nghìn người, lao động làm việc ở khu vực ngoài Nhà nước tăng thêm 1.022 nghìn người; lao động làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng thêm 45,9 nghìn người.

Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực Nhà nước chiếm trong tổng số lao động có việc làm của vùng cao nhất là Đông Nam Bộ (15,3%), tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng (12,3%), Duyên hải Nam Trung Bộ (11%) và Đông Bắc (10,3%); thấp nhất là Đồng bằng sông Cửu Long (5,9%); các vùng khác tỷ lệ này dao động từ 6,7%-8,6%. Vùng có tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài cao nhất là Đông Nam Bộ (6,5%); thấp nhất là Tây Bắc và Bắc Trung Bộ (0,1%-0,2%), Đông Bắc và Tây Nguyên (0,3%- 0,4%); các vùng khác tỷ lệ này dao động từ 0,9% - 1,1%.

Trong ba vùng kinh tế trọng điểm, tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực Nhà nước chiếm trong tổng số lao động có việc làm ở vùng KTTĐ Bắc Bộ là 15,1%; Vùng KTTĐ phía Nam 13,5%; vùng KTTĐ miền trung 11,3%. Tỷ lệ lao động làm việc ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoàI ở vùng KTTĐ phía Nam là 6,4%; Vùng KTTĐ miền Trung 0,9%; vùng KTTTĐ Bắc Bộ 1,5%.

- Chia theo quan hệ lao động, cả nước có 11.106,6 nghìn người làm công ăn lương, chiếm 25,6% và 32.350 nghìn người không làm công ăn lương, chiếm 74,4% trong tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. So với thời điểm 1/7/2004 số lao động làm công ăn lương của cả nước tăng thêm 287,7 nghìn người.

Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỷ lệ lao động làm công ăn lương chiếm trong tổng số lao động vó việc làm của vùng cao nhất là Đông Nam Bộ (44%), tiếp đến là Duyên hải Nam Trung Bộ (27,9%), Đồng bằng sông Cửu Long (26,7%) và Đồng bằng sông Hồng (26,1%); thấp nhất là Tây Bắc (9,2%); các vùng khác tỷ lệ này dao động từ 15,6%-17,2%, chia theo ba vùng kinh tế trọng điểm: vùng KTTĐ phía Nam là 40,9%; hai vùng còn lại từ 28%-30%.

IV. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động ở khu vực thành thị

 

Tính chung cho khu vực thành thị cả nước:

- Tỷ lệ thất nghiệp LLLĐ từ đủ 15 tuổi trở lên là 5,1% (giảm 0,3% so với thời điểm 1/7/2004);

- Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động là 5,3% (giảm 0,3% so với thời điểm 1/7/2004);

Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trẻ (15-24 tuổi) là 13,4% (giảm trên 0,5% so với thời điểm 1/7/2004);

- Trong 8 vùng lãnh thổ, vùng có tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị cao nhất là Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng (5,6%); tiếp đến là Đông Bắc và Duyên hải Nam Trung Bộ (5,1%-5,5%); các vùng khác tỷ lệ này ở mức dưới 5%. So với 1/7/2004 tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị đều giảm nhẹ ở tất cả các vùng.

- Trong ba vùng kinh tế trọng điểm, tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị Vùng KTTĐ Bắc Bộ là 5,7%; hai vùng còn lại ở mức 5,6%.

Ở các Vùng kinh tế trọng điểm, tuy giữ vị trí đầu tầu trong phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; khoa học công nghệ tiên tiến phát triển mạnh; thị trường lao động phát triển sâu rộng đòi hỏi chất lượng lao động cao, nhưng do không ít ngành nghề đào tạo không phù hợp với yêu cầu của thị trường, lao động không nghề có tỷ trọng lớn nên ngày càng khó có cơ hội tìm việc làm. Đây cũng là cơ sở để giải thích vì sao ở các vùng KTTĐ tuy quy mô đầu tư lớn, tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ, đặc biệt là lao động ở độ tuổi 15 - 24 đang cao hơn so với tỷ lệ trung bình của cả nước và cao hơn hẳn so với các vùng kinh tế chậm phát triển.

V. Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn

- Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng trong 12 tháng qua tính đến thời điểm điều tra ở khu vực nông thôn cả nước là 80,7%, tăng 1,6% so với năm 2004.

Trong 8 vùng lãnh thổ, có 3 vùng đạt tỷ lệ trên 80%; 3 vùng đạt tỷ lệ từ 78- 80% và hai vùng có tỷ lệ dưới 78%.

So với năm 2004, có 6 vùng tăng được tỷ lệ sử dụng thời gian ở khu vực nông thôn, với mức tăng phổ biến là trên 1%; có 2 vùng giảm (từ 1,3%- 1,5%) là những vùng có nhiều diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử dụng những việc chuyển dịch cơ cấu lao động cũng như đào tạo nghề và tạo việc làm mới, việc làm thêm cho lao đông ở các địa phương nàycòn nhiều bất cập.

VI. Số người từ đủ 15 tuổi trở lên không tham gia LLLĐ

Cả nước có 18.057,9 nghìn người từ đủ 15 trở lên không tham gia LLLĐ, chiếm 28,9% trong tổng số nhân khẩu từ đủ 15 trở lên.Trong đó, đang đi học chiếm 11,4%; nội trợ chiếm 3,8%; tình trạng khác chiếm 13,7%. So với 1/7/2004, tỷ lệ không tham gia LLLĐ của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên tăng 0,3%; chia theo nguyên nhân, tỷ lệ đi học tăng 0,6%, nội trợ giảm 0,1%, các nguyên nhân khác giảm 0,2%.

- Trong ba vùng KTTĐ, vùng có tỷ lệ không tham gia LLLĐ của dân số từ đủ 15 tuổi trở lên cao nhất là vùng KTTĐ phía Nam (32,5%), tiếp đến là vùng KTTĐ miền Trung (30,8%); thấp nhất là vùng KTTĐ Bắc Bộ (28,9%).

VII. Đánh giá chung về thực trạng và xu thế phát triển lao động - việc làm giai đoạn 2001- 2005

1. Lực lượng lao động cả nước vẫn tiếp tục gia tăng với tốc độ cao. Bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 tăng 2,5% với quy mô tăng 1.026,4 nghìn/ năm; trong LLLĐ nam tăng 2,9% với quy mô tăng 599,4 nghìn người/năm; LLLĐ nữ tăng 2,1 với quy mô tăng 427 nghìn người/năm; LLLĐ khu vực thành thị tăng 4,5% với quy mô tăng 439,4 nghìn người/ năm; LLLĐ khu vực nông thôn tăng với quy mô 587 nghìn người/năm nhưng chậm hơn nhiều so với khu vực thành thị về tốc độ tăng (1,9% so với 4,5%), do vậy tỷ lệ LLLĐ khu vực thành thị chiếm trong tổng LLLĐ cả nước không ngừng tăng lên (bình quân hàng năm tăng gần 0,5%).

Cũng do tốc độ tăng của LLLĐ nam nhanh hơn LLLĐ nữ nên tỷ lệ giới tính (tức nam/nữ) của LLLĐ cả nước tăng từ 101,3% năm 2000 lên 105,2% năm 2005, bình quân hàng năm tăng 0,78%.

2. Phân bố LLLĐ theo vùng lãnh thổ tuy có chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập so với tiềm năng và nhu cầu phát triển. Tỷ trọng LLLĐ ở các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên chiếm trong tổng LLLĐ cả nước tuy có tăng nhưng chậm và còn rất thấp so với các vùng khác, trong khi Đông Nam Bộ vốn có mật độ dân số cao, LLLĐ đông đảo lại đang có xu hướng ngày càng gia tăng mạnh cả về quy mô và tỷ trọng.

3. Lao động đã qua đào tạo không ngừng tăng lên qua các năm. Từ 6.088,2 nghìn người năm 2000, đến năm 2005 con số này đã lên tới 11.003 nghìn người, gấp 1,8 lần so với năm 2000. Bình quân hàng năm giai đoạn 2001- 2005, số lao động đã qua đào tạo tăng 12,9% với quy mô tăng gần 983 nghìn người/năm. Tuy nhiên, đến nay tỷ lệ đã qua đào tạo của LLLĐ tính chung cho cả nước cũng mới chỉ đạt 24,8% (chưa đạt được mục tiêu do Đại hội IX của Đảng đề ra là 30%); chất lượng đào tạo cũng chưa đáp ứng được cầu của thị trường lao động phát triển, đặc biệt là các vùng kinh tế trọng điểm và các khu đô thị tập trung (cả về cơ cấu ngành nghề cũng như kỹ năng tay nghề). Nhiều ngành, nhiều địa phương còn rất thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, kỹ năng tay nghề giỏi, trong khi số lao động đã qua đào tạo (kể cả đào tạo cao đẳng, đại học) lại đang thất nghiệp với tỷ lệ không nhỏ. Sự cách biệt về trình độ chuyên môn kỹ thuật của LLLĐ giữa thành thị và nông thôn còn lớn, gây bất lợi cho khu vực nông thôn trong giai đoạn phát triển CNH, HĐH dưới tác động ngày càng mạnh của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập, toàn cầu về kinh tế.

4. Quy mô việc làm ngày càng tăng, cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ trọng lao động làm việc ở khu vực I, tăng tỷ trọng lao động làm việc ở khu vực II và III. Bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2005 số lao động có việc làm của cả nước tăng 2,6% (nhanh hơn 0,1% so với tốc độ tăng của LLLĐ) với quy mô tăng thêm 1.017,9 nghìn người/năm. Cơ cấu lao động đã có sự chuyển dịch rõ rệt theo hướng công nghiệp hoá (tỷ trọng lao động làm việc ở khu vực I đã giảm từ 62,6% năm 2000 xuống còn 56,8% năm 2005, bình quân hàng năm giảm được gần 1,2%; tỷ trọng lao động làm việc ở khu vực II đã tăng từ 13,1% năm 2000 lên 17,9% năm 2005, bình quân hàng năm tăng thêm được gần 1%; tỷ trọng lao động làm việc ở khu vực III đã tăng từ 24,3% năm 2000 lên 25,3% năm 2005, bình quân hàng năm tăng thêm 0,2%. Tuy nhiên tỷ trọng lao động làm việc ở khu vực II đến năm 2005 vẫn còn thấp hơn so với mục tiêu đề ra.

5. Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn không ngừng tăng lên qua các năm, từ 73,9% năm 2000 tăng lên 80,7% năm 2005, đạt được mục tiêu đề ra; bình quân hàng năm tỷ lệ này tăng thêm được gần 1,4%.

6. Tỷ lệ lao động tham gia thị trường lao động (làm công ăn lương) trong tổng số lao động có việc làm ngày càng gia tăng ở tất cả các vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các vùng KTTĐ. Tiền lương, tiền công tiếp tục tăng cao và ngày càng có quan hệ chặt chẽ với chất lượng lao động ở tất cả các vùng trong cả nước.

7. Tỷ lệ thất nghiệp của LLLĐ trong độ tuổi lao động ở khu vực thành thị giảm (từ 6,4% năm 2000 xuống còn 5,3% ở năm 2005). Bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005, tỷ lệ này giảm được trên 0,2%, đạt được mục tiêu của Đại hội Đảng IX đề ra vào năm 2005 (dưới 5,5%).

Nhìn chung, lĩnh vực lao động - việc làm của cả nước nói chung và vùng lãnh thổ nói riêng ở giai đoạn 2001-2005, có nhiều chuyển biến tích cực về đào tạo, giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, tăng tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động phát triển thị trường lao động; tiền lương, tiền công của lao động làm công ăn lương ngày càng được cải thiện. Đến 2005, trừ tỷ lệ lao động qua đào tạo, còn các mục tiêu do Đại hội Đảng IX đề ra đều đạt và vượt.

(1) Số lượng, tỷ lệ cũng như chất lượng và cơ cấu ngành nghề của lao động đã qua đào tạo còn bất cập so với nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là ở các vùng KTTĐ;

(2) Sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng KTTĐ với các vùng khác có xu hướng gia tăng cả về chất lượng LLLĐ, cơ cấu và chất lượng việc làm cũng như thu thập từ việc làm;

(3) Sức ép về việc làm đối với LLLĐ trẻ ở khu vực thành thị vẫn còn lớn do tỷ lệ thất nghiệp cao (13,3%), đặc biệt là ở các khu đô thị tập trung, các vùng KTTĐ và đối với lao động chưa có nghề hoặc có nghề nhưng không phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động trong khu vực hoặc không đáp ứng được đòi hỏi của người sử dụng về kỹ năng, tay nghề.<

Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra lao động-việc làm 1/7/2005 Của Ban chỉ đạo điều tra lao động-việc làm trung ương, 11/2005