CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

TS. NGUYỄN THẾ HUỆ*


*Trọng lão là một truyền thống tốt đẹp, là bản sắc văn  hoá lâu đời của dân tộc ta. Bắt nguồn từ nền văn hoá Phương Đông nói chung và truyền thống văn hoá Việt Nam nói riêng, người cao tuổi Việt Nam luôn được gia đình cũng như toàn xã hội tôn vinh và kính trọng. Nhìn lại lịch sử  Việt Nam, trải qua các triều  đại phong kiến, Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi về kinh tế, xã hội cho người cao tuổi.

Trong lịch sử xã hội Việt Nam, Lão quyền đã có một thời kỳ rất thịnh vượng. Có thể nói, từ thời công xã thị tộc cho đến khi chuyển sang công xã nông thôn theo kiểu phương thức sản xuất châu Á, trải qua quá trình biến đổi của lịch sử, Lão quyền có những lúc thăng trầm khác nhau nhưng vẫn tiếp tục tồn tại cho đến nửa đầu thế kỷ XX (biểu hiện ở vị trí và vai trò của các già làng ở vùng cao và các bô lão ở đồng bằng). Tuy nhiên, cũng có nơi, Lão quyền lại thể hiện vai trò vị trí của người phụ nữ như  ở Tây Nguyên. Do theo chế độ mẫu quyền, quyền lực thuộc về người phụ nữ già thuộc thế hệ cao nhất làm chủ các gia đình có nhiều thế hệ con, cháu, chắt…

Cho đến các thời kỳ phong kiến từ Trần, Lê và tiếp sau đó, cùng với thần quyền, quân quyền và tộc quyền, Lão quyền có suy yếu hơn nhưng vẫn tồn tại song song. Mặc dù trong thời gian này, Lão quyền không còn được ghi chép lại một cách rõ ràng như  trước nhưng nó vẫn được bảo tồn trong các hương ước của làng xã, trong tập quán sinh hoạt cộng đồng cũng như trong kho tàng văn hoá dân gian.

Chính sách của Nhà nước trong lịch sử đối với người cao tuổi  gồm có chính sách về kinh tế và chính sách về xã hội. Trước tiên xin đề cập đến chính sách kinh tế trong lịch sử đối với người cao tuổi.

Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một xã hội nông nghiệp truyền thống và đất đai là thứ quan trọng bậc nhất đối với cuộc sống của người dân, kể cả người cao tuổi. Trong các triều đại phong kiến từ Lý, Trần, Lê… công điền còn chiếm tỷ lệ cao trong đó người cao tuổi vẫn còn được hưởng một phần đáng kể. Theo nhà sử học Phan Huy Chú, trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí, đối với luật lệ của triều đình đã ghi rõ: ”Dân đinh bắt đầu ăn ruộng  từ 18 hay từ  20 tuổi… tuỳ số ruộng nhiều hay ít cấp cho những người đến tuổi, cắt chia đều cho tiện gánh công việc. Người già đến 60 tuổi được miễn mọi nghĩa vụ thì không được ăn ruộng như trước, nhưng bù lại được cấp công điền theo thể lệ: Hạng được cấp ruộng 3 phần rưỡi… có hoàng đinh từ 17 tuổi trở xuống, lão từ 50 tuổi trở lên… nay tăng cũng thế, lão được cấp 3 phần 5, ba đẳng quân ở các nha môn được cấp 4 phần, quân lính các cơ sở ở ngoài và thừa sai tao lệ tại các nha môn ở trong được cấp 5 phần. Như vậy, nếu xét theo vị trí xã hội thì người cao tuổi cũng gần ngang hàng với những quân nhân, nha lại đương chức. Còn đối với lệ làng, xã thì tuỳ tình hình của từng nơi mà có những thay đổi khác nhau.

Không chỉ có ruộng đất, người cao tuổi còn được hưởng chế độ ưu đãi hơn trong các khoản phân chia tài chính như  ở xã Bá Khuê, Lan Khuê, Bằng Việt hay ở thôn Mâu Lương, xã Trung Thanh Oai, Hà Đông người cao tuổi được chia phần các khoản thu đặc biệt từ tiền cheo cưới, tiền chôn nhờ đất làng, tiền nhập xã, tiền thả vịt ở đồng làng…

Tùy theo điều kiện từng địa phương, mà chính sách kinh tế có sự thay đổi khác nhau như ở những làng chủ yếu làm nghề nông có khác so với các làng làm nghề thủ công và cũng khác so với vùng chài ven biển. Tuỳ theo tính  chất của công việc mà mỗi làng có những chính sách về kinh tế khác nhau đối với người cao tuổi.

Đối với mỗi người, kinh tế luôn luôn đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Kinh tế là nền tảng cho mọi hoạt động của đời sống xã hội. Tuy nhiên, đối với người cao tuổi, các chính sách về xã hội lại đóng vai trò quan trọng hơn nhiều bởi vì  mặc dù người cao tuổi không còn làm ra của cải, không tạo ra được thu nhập nhưng họ vẫn được sự chu cấp, đảm bảo của con cháu nhưng về chính sách xã hội thì không thể không do Nhà nước định đoạt.

Trong luật nước, chính sách xã hội đã xác định rõ vị thế của người cao tuổi trong cộng đồng để từ đó có sự ưu tiên, ưu đãi riêng. Trong các triều đại phong kiến, kể từ  thời Lý, các vị vua đã  có những chính sách ưu đãi đặc biệt về các chế độ thưởng phạt khác nhau đối với người cao tuổi. Đối với chế độ khen thưởng, các triều đại vua khác nhau có những chế độ cụ thể:

Thời Lý, năm 1042, Lý Thái Tông đã xuống chiếu quy định rõ thể lệ cho phép được chuộc tội bằng tiền đối với những người trên 70 tuổi…

Năm 1051, Lý Thái Tông đã định cho các quan văn võ làm lâu năm mà không có tội lỗi thì được phong chức tước theo thứ bậc khác nhau.

Năm 1074, Lý Nhân Tông đã đặc ân cho các công thần 80 tuổi được chống gậy, ngồi ghế khi vào chầu vua.

Năm 1162, Lý Anh Tông ra  quy định chung: người 60 tuổi trở lên được gọi là lão Liệt để miễn sưu dịch.

Năm 1179, Lý Cao Tông cho tiến hành một cuộc đề bạt, chấn chỉnh quan lại, xét công trạng các quan trong một quá trình, chia làm 3 loại để trao chức vụ trong đó có loại nhiều tuổi, có đức hạnh, thông hiểu việc xưa nay.

Năm 1194, nhân dịp Đàm Nguyên Phi sinh Thái tử  Sâm, Lý Cao Tông vui mừng ân thưởng cho các kỳ lão từ 70 tuổi trở lên mỗi người một tấm lụa…

Đến thời Trần, năm 1242, Trần Thái Tông trong khi tiến hành  cải cách cấp hành chính địa phương cho làm sổ hộ khẩu đã quyết định bô lão là người 60 tuổi và long lão là người trên 60 tuổi.

Năm 1262, Thượng Hoàng nhà Trần về quê cũ xây phủ Thiên trường đã khen thưởng cho người già và phụ nữ.

Đặc biệt, năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, vua Trần Thánh Tông đã họp các phụ lão trong nước ở Thăng Long hỏi kế đánh giặc trong hội nghị Diên Hồng. Từ đây vai trò của người cao tuổi ngày càng được coi trọng trong lịch sử xã hội Việt Nam.

    Đến thời Lê, ngay từ thời Lê Sơ đã ghi rõ luật trọng lão ở tận các thôn làng. Trong hương thôn có người già mà không kính nể, dám tự ngồi ăn cùng một mâm, một chiếu thì lấy tội khinh nhờn mà luận tội, phạt 30 trượng.

Ngoài chính sách đãi ngộ còn có chính sách ân xá cho những người cao tuổi khi mắc tội. Trọng lão trong dân gian cũng được ghi kỹ trong các hương ước làng xã. Trước tiên là miễn mọi sưu thuế, phu đài, tạp dịch.

Đối với việc làng xã, người già cũng thường xuyên là thành phần tham gia tích cực vì người già luôn được nhà nước và làng xã coi trọng. Ngay từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV), Lê Thánh Tông (1460-1497) đã gia một đạo dụ (24 điều) về việc sửa đổi phong tục các làng trong đó có điều khoản nhắc đến việc lựa chọn người già giữ các chức trưởng thôn, trưởng xã.

Trong những công việc mang tính chất hành chính của làng xã, các cụ cũng được tham dự như việc bầu lý dịch, các cụ cũng được coi như là cử tri và được ký vào đơn bầu. Theo Việt nam phong tục" dân làng bầu lý dịch, hội họp tại đình, kén chọn lấy người có gia tư vật lực và người biết chữ bầu cử ra làm việc. Ngoài việc được tham gia vào các việc làng nước, trong những dịp lễ hội, người già bao giờ cũng được đặt ở vị trí cao hơn so với các thành viên khác.

Như vậy, những chính sách của Nhà nước Việt Nam, những lệ làng, hương ước  trong lịch sử đã tôn vinh và kính trọng người cao tuổi. Đây là tiền đề rất quan trọng để Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tôn vinh và có những chính sách chăm sóc, phát huy trí tuệ, tài năng của người cao tuổi trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.<



* Viện trưởng, Viện nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam