DÂN SỐ CAO TUỔI Ở NHẬT BẢN

NGUYỄN TRUNG KIÊN*


*1. Quy mô dân số

 

Dân số năm 2004 của Nhật Bản là 127,69 triệu người, trong đó dân số cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) là 24,88 triệu người, chiếm 19,5%. Riêng dân số từ 90 tuổi trở lên là 1,02 triệu người. y là lần đầu tiên số người sống trên 90 tuổi vượt qua con số 1 triệu. Tuổi thọ trung bình của nữ giới là 85,59 và 78,64 đối với nam.Tốc độ già hoá của dân số Nhật Bản nhanh hơn rất nhiều so với các quốc gia Tây Âu và Hoa Kỳ, tỷ trọng dân số 65 tuổi trở lên trong dân số từ 7,1% năm 1970 lên 14,1% năm 1994 và theo dự báo đến năm 2014, dân số cao tuổi sẽ chiếm 25% tổng dân số, nghĩa là cứ 4 người dân Nhật sẽ có 1 người từ 65 tuổi trở lên.

Tốc độ tăng dân số cao tuổi của Nhật Bản diễn ra nhanh. Năm 1970, dân số cao tuổi Nhật Bản chiếm 7,1% tổng dân số. 20 năm sau, con số này tăng lên 12,0% (năm 1990). Tại các quốc gia già hoá khác trên thế giới, tốc độ già hoá dân số chậm hơn nhiều so với Nhật Bản. Ví dụ Thụy Điển phải mất 85 năm, Italia mất 61 năm và Pháp mất tới 115 năm để tỷ trọng người cao tuổi trong tổng số dân tăng gấp đôi, từ 7% lên 14%.

Bảng1: Tốc độ tăng dân số cao tuổi Nhật Bản giai đoạn 1950-2004[1]

Năm

Dân số

(1.000 người)

Dân số 65+

(1.000 người)

Tỷ trọng dân số 65+ trong tổng số dân (%)

1950

84.115

4.155

4,9

1960

94.302

5.398

5,7

1970

104.665

7.398

7,1

1980

117.060

10.647

9,1

1990

123.611

14.895

12,0

2000

126.926

22.005

17,3

2002

127.435

23.628

18,5

2003

127.619

24.311

19,0

2004

127.687

24.880

19,5

Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản

 


Bảng 2: Dân số Nhật Bản theo nhóm tuổi và tỷ lệ phụ thuộc

                                                                                    Đơn vị: 1.000 người

Năm

Dân số theo nhóm tuổi

Tỷ lệ phụ thuộc (%)

Chỉ số già hoá

0-15

65+

0-15

65+

1950

29.786

4.155

59,4

8,3

13,9

1960

28.434

5.398

47,0

8,9

19,0

1970

25.153

7.393

34,9

10,3

29,4

1980

27.507

10.647

34,9

13,5

38,7

1990

22.486

14.895

26,2

17,3

66,2

2000

18.402

22.005

21,4

25,5

119,1

2002

18.102

23.628

21,1

27,6

130,5

2003

17.905

24.311

21,0

28,5

135,8

 

 

 

 

 

 


2. Dân số theo nhóm tuổi và tỷ lệ phụ thuộc

Xét tương quan giữa hai nhóm dân số trẻ (0-15) và già (65+) cho thấy dân số Nhật Bản đã già hoá rất nhanh. Năm 1950, dân số thuộc nhóm tuổi 0-15 chiếm 59,4% tổng dân số trong khi đó dân số trong nhóm tuổi 65+ chiếm 8,3%. Hai nhóm dân số này tiếp tục biến đổi theo chiều hướng trái ngược nhau. Tỷ trọng dân số thuộc nhóm tuổi 0-15 trong tổng dân số giảm nhẹ từ 47,0% năm 1960 xuống còn 34,9% năm 1980. Ngược lại, tỷ trọng dân số 65+ trong tổng dân số tăng khá nhanh từ 8,9% năm 1960 lên 13,5% năm 1980. Thập kỷ 90 của thế kỷ 20 bắt đầu đánh dấu sự biến đổi lớn của cả hai nhóm dân số này. Cụ thể, tỷ trọng dân số 0-15 tuổi trong tổng dân số giảm mạnh từ 26,2% năm 1990 xuống còn 21,0% năm 2003, dân số thuộc nhóm tuổi phụ thuộc già (65+), tỷ lệ tăng rất nhanh từ 17,3% năm 1990 lên 28,5% năm 2003. Bên cạnh đó, chỉ số già hoá của Nhật Bản cũng tăng cùng với tốc độ tăng của nhóm dân số già, từ 13,9% năm 1950 lên 119,1% năm 2000 và 135,8% năm 2003.

3. Dân số cao tuổi theo nhóm tuổi và giới tính

Theo quy luật chung, tỷ số giới tính (nam/nữ) của dân số càng ở các nhóm tuổi cao càng giảm.


Bảng 3: Dân số cao tuổi Nhật Bản theo nhóm tuổi và giới tính giai đoạn 2002-2004

                                                                                    Đơn vị: 1.000 người

 

60-64

65-69

70-74

75-79

80-84

85-89

90+

2002

Tổng số

8.062

7.346

6.191

4.657

2.845

1.654

854

Nam

3.911

3.480

2.820

1.922

977

513

210

Nữ

4.150

3.865

3.371

2.736

1.868

1.143

643

2003

Tổng số

8.262

7.374

6.338

4.881

3.009

1.694

929

Nam

4.008

3.495

2.890

2.054

1.033

520

226

Nữ

4.254

3.879

3.448

2.827

1.975

1.173

702

2004

Tổng số

8.610

7.312

6.444

5.083

3.222

1.713

1.013

Nam

4.171

3.470

2.942

2.162

1.125

524

246

Nữ

4.437

3.843

3.502

2.921

2.098

1.189

768

Nguồn: Cục thống kê Nhật Bản, 2002-2004

 

Trong các năm đầu của thế kỷ 21, tỷ số giới tính của dân số cao tuổi ở các nhóm tuổi tương đương nhau. Ở nhóm tuổi 60-64, tỷ số giới tính hầu như không có sự thay đổi (0,94). Đối với các nhóm tuổi tiếp theo, tỷ lệ giới tính bắt đầu giảm dần và sự khác biệt rõ nét hơn. Ở nhóm tuổi 70-74, tỷ số giới tính năm 2002 là 0,836 tăng lên 0,840 năm 2004. Tỷ số giới tính của dân số nhóm tuổi "già nhất" (90+) có sự giảm nhẹ, từ 0,326 năm 2002 xuống 0,3203 năm 2004.

4. Dân số cao tuổi theo loại hộ gia đình

Hộ gia đình cao tuổi (là hộ gia đình gồm những người từ 65 tuổi trở lên sống hoặc không sống với người trong độ tuổi phụ thuộc chưa kết hôn dưới 18 tuổi). Năm 1975, tỷ lệ hộ gia đình cao tuổi ở Nhật Bản là 3,3% trong tổng số hộ gia đình. Năm 2003, con số này đã tăng lên 15,8%. Tương tự, số hộ gia đình chỉ có 1 người cao tuổi cũng đã tăng nhanh, từ 610 nghìn năm 1975 lên 3,41 triệu hộ năm 2003 trong đó cứ 5 hộ gia đình chỉ có một người cao tuổi có 4 hộ có 1 người cao tuổi là phụ nữ. Số hộ gia đình chỉ có hai vợ chồng từ 65 tuổi trở lên năm 2003 đã đạt 3,59 triệu hộ, cao gấp hơn 8 lần so với năm 1975.


Bảng 4: Hộ gia đình cao tuổi ở Nhật Bản giai đoạn 1975-2003

Đơn vị: 1.000 hộ

Loại hộ

1975

1980

1990

2000

2002

2003

Tổng số hộ gia đình

32.877

35.338

40.273

45.545

46.005

45.800

Hộ  cao tuổi

1.089

1.684

3.113

6.261

7.182

7.250

(%)

3,3

4,8

7,7

13,7

15,6

15,8

- Hộ chỉ có1 người cao tuổi

611

910

1.613

3.079

3.405

3.411

Nam

138

192

295

682

755

776

Nữ

473

718

1.318

2.398

2.650

2.635

- Hộ hai vợ chồng cao tuổi

443

722

1.400

2.982

3.563

3.594

- Hộ gia đình cao tuổi khác

36

52

100

199

214

245

Nguồn: Bộ Y tế, Lao động và Phúc Lợi Nhật Bản

 

 

 

 

 

 

 

Trong giai đoạn 1975-2003, quy mô hộ gia đình cao tuổi tăng tương ứng với quy mô hộ gia đình nói chung của Nhật Bản. Tỷ lệ hộ gia đình cao tuổi ngày càng tăng từ 3,3% trong tổng số hộ gia đình chung đã lên 13,7% năm 2000 và 15,8% năm 2003. Chi tiết hơn, đối với hộ gia đình chỉ có 1 người cao tuổi cũng tăng tương ứng, từ chỗ chiếm 56,1% tổng số hộ gia đình cao tuổi lên 49,1% năm 2000 và 47,05% năm 2003. Có sự khác biệt rất rõ về hộ gia đình cao tuổi 1 người theo giới tính. Năm 1975, số hộ gia đình chỉ có 1 nguời cao tuổi là nữ lớn hơn gấp 3,42 lần số hộ gia đình chỉ có 1 người cao tuổi là nam giới. Đến năm 2000, con số chênh lệch này là 3,5 lần và đến năm 2003 là 3,39 lần. Chênh lệch giữa số hộ gia đình 2 vợ chồng cao tuổi so với hộ gia đình chỉ có 1 người cao tuổi cũng ngày càng mở rộng. Số hộ gồm 2 vợ chồng cao tuổi năm 1975 chỉ bằng 0,72 lần số hộ chỉ có 1 người cao tuổi, tăng lên 0,968 lần vào năm 2000 và 1,053 lần năm 2003. Như vậy, chỉ trong hơn 30 năm, sự biến đổi về hộ gia đình cao tuổi ở Nhật Bản đã diễn ra hết sức nhanh chóng, cả về quy mô, tỷ lệ cũng như loại hộ gia đình. Vấn đề này đặt ra nhiều thách thức cho từng gia đình cũng như toàn xã hội Nhật Bản, nhất là vấn đề phúc lợi xã hội dành cho người cao tuổi.

5. Dân số cao tuổi theo tình trạng hôn nhân

Đối với người cao tuổi hiện đang có gia đình ở các nhóm tuổi "trẻ" (60-64 và 65-69) không có sự chênh lệch nhiều theo giới tính. Tuy nhiên, càng ở các nhóm tuổi cao, sự chênh lệch này càng rõ.


Bảng 5: Dân số cao tuổi Nhật Bản theo tình trạng hôn nhân năm 2000

Đơn vị: 1.000 người

Nhóm tuổi

Tổng số

Trong đó

Chưa bao giờ kết hôn

Đã kết hôn

 

Nam

60-64

3.750

144

3.271

65-69

3.357

85

2.935

70-74

2.670

44

2.300

75-79

1.626

19

1.339

80-84

915

8

698

85+

653

5.2

389

 

Nữ

60-64

3.986

152

3.019

65-69

3.749

147

2.541

70-74

3.230

128

1.812

75-79

2.525

81

978

80-84

1.699

38

366

85+

1.580

25

122

Nguồn: Tổng điều tra dân số Nhật Bản 2000, Cục thống kê Nhật Bản

 

Ở nhóm tuổi 60-64, số nữ nhiều gấp 1,08 lần số nam. Ở nhóm tuổi 75-79, con số này là 1,369 lần và tiếp tục tăng lên ở mức 3,188 lần ở nhóm tuổi già nhất (85+).

6. Dự báo dân số cao tuổi Nhật Bản

Theo dự báo (phương án trung bình) tại thời điểm năm 2002, đến năm 2043, dân số từ 65 tuổi trở lên của Nhật Bản sẽ đạt 36,470 triệu người, chiếm 34,2% tổng dân số. Đến năm 2050, tỷ lệ này theo dự đoán (ở mức cao nhất) sẽ đạt 35,7% trong tổng dân số (bảng 6). Cụ thể hơn, nếu so sánh với dự đoán về dân số trong nhóm tuổi 0-15 cho thấy tương quan giữa hai nhóm tuổi phụ thuộc này.


Bảng 6: Dự báo dân số Nhật Bản giai đoạn 2010-2050

Năm

Dân số (1.000 người)

Tỷ lệ theo nhóm tuổi (%)

Tổng số

Nam

Nữ

0-15

65+

2010

127.473

61.932

65.541

13,4

22,5

2020

124.107

59.766

64.341

12,2

27,8

2030

117.580

56.121

61.459

11,3

29,6

2040

109.338

51.851

57.487

11,0

33,2

2050

100.593

47.526

53.068

10,8

35,7

Nguồn: Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản

 

Tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên của Nhật Bản sẽ tăng từ 22,5% năm 2010 lên 35,7% vào năm 2050. Ngược với xu hướng tăng dần của dân số cao tuổi là sự giảm sút về tỷ lệ của nhóm dân số phụ thuộc 0-15 tuổi, theo dự báo, sẽ giảm từ 13,4% năm 2010 xuống còn 10,8% vào năm 2050.

Năm 2000, Nhật Bản là nước đứng thứ 2 về tỷ lệ già hoá dân số cao trên thế giới (17,3%), sau Italia với 18,2%. Tuy nhiên, theo dự báo, vào năm 2030, Nhật Bản sẽ vươn lên đứng đầu tỷ lệ người cao tuổi trên thế giới với 29,6%, cách khá xa Ấn Độ là quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi thấp nhất trong số 14 quốc gia xếp hạng (9,3%). Italia tụt xuống vị trí thứ 2 với 29,1%.

Như vậy, với tuổi thọ tăng và mức sinh giảm, Nhật Bản đang phải đối mặt với một môi trường kinh tế xã hội mới trong đó dân số đang trở nên già hoá với tốc độ nhanh. Bên cạnh đó sự khủng hoảng đã xảy ra trên 3 phương diện: hệ thống lương hưu, người nhập cư, phụ nữ và đang làm xói mòn nền kinh tế lớn như Nhật Bản. Điều này cũng ảnh hưởng đến người cao tuổi, đặc biệt là những người sống ở khu vực nông thôn với những hạn chế trong việc tiếp cận với bảo hiểm y tế, phúc lợi lương hưu và dịch vụ xã hội. Những vấn đề trên đòi hỏi Chính phủ Nhật Bản phải có những nỗ lực để tạo ra một hệ thống an sinh xã hội phù hợp cho người cao tuổi tại quốc gia "già nhất" trên thế giới.<



* Viện nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam