TÌNH TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NĂM 2005

TẠI XÃ SƠN ĐỒNG, HUYỆN HOÀI ĐỨC, TỈNH HÀ TÂY

DS. THS. NGUYỄN THỊ VŨ THÀNH*

TS. LÊ BẠCH MAI**

      Hiểu biết chung về nguyên nhân của suy dinh dưỡng (SDD) đã được nhiều nghiên cứu đề cập, song việc xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em dưới 5 tuổi đặc trưng theo cộng đồng luôn là vấn đề quan tâm của mỗi địa phương. Bài viết này dựa vào nghiên cứu mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Tây năm 2005 tiến hành từ tháng 3/2005 đến hết tháng 8/2005.

Nghiên cứu được thiết kế thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi. Giai đoạn 2: nghiên cứu bệnh chứng để tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi tại xã này như kiến thức, thực hành về vệ sinh - dinh dưỡng của bà mẹ, kinh tế xã hội, vệ sinh môi trường.

Kết quả nghiên cứu:

1. Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em  dưới 5 tuổi

Trẻ bị SDD thể nhẹ cân chiếm tỉ lệ là 26,83% trong đó chủ yếu là SDD độ I (24,88%), không có SDD nặng độ III; 17,40% trẻ bị thiếu dinh dưỡng thể thấp còi, trong đó SDD độ II chỉ chiếm 3,09%; 9,59% trẻ bị SDD cấp (W/H < -2SD).

Tỉ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân tương đối cao, chiếm 26,83%. Tỷ lệ này tăng dần theo tháng tuổi trong 3 năm đầu đời của trẻ: 1-12 tháng là 10,27%; 13-24 tháng tuổi là 29,03% và cao nhất là ở độ tuổi 25-36 tháng là 34,40% (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê: p < 0,0001, c2 test). Tỉ lệ trẻ bị SDD thể thấp còi là 17,40%. Tỉ lệ trẻ bị SDD thể thấp còi tăng dần theo tuổi, ở độ tuổi từ 49-60 tháng trẻ bị SDD thể thấp còi chiếm tỉ lệ cao nhất là 28,00% (sự khác biệt có ý nghĩa thống kê: p < 0,0001). Tỷ lệ trẻ bị SDD thể gầy còm chiếm 9,59% tổng số trẻ. Tỷ lệ này cũng có xu hướng tăng dần theo tháng tuổi trong 3 năm đầu đời của trẻ: 1-12 tháng là 4,79%; 13-24 tháng tuổi là 12,26% và cao nhất là ở độ tuổi 25-36 tháng chiếm 13,60%; sau đó giảm dần: 37-48 tháng là 8,99% và 49-60 tháng tuổi là 8,00% (tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê: p > 0,05, c2 test).

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD của trẻ

2.1. Kiến thức của bà mẹ về vệ sinh – dinh dưỡng

Nghiên cứu cho thấy kiến thức chung về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ có sự khác biệt rất lớn. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đạt yêu cầu ở nhóm SDD là 76,3%, nhóm không SDD là 99,0%. Nhóm trẻ là con của những bà mẹ có mức kiến thức chung về vệ sinh - dinh dưỡng không đạt có nguy cơ SDD cao hơn 21,42 lần so với nhóm trẻ là con của bà mẹ có kiến thức đạt (95% CI: 2,70 - 169,77; p=0,0037, c2 test). Do đó, cần đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục nhằm nâng cao kiến thức cho các bà mẹ đang mang thai, đang nuôi con nhỏ nói riêng và phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ nói chung thì mới có thể giúp việc hạ tỷ lệ SDD trẻ em một cách có hiệu quả và thành công. 

2.2. Thực hành của bà mẹ về vệ sinh - dinh dưỡng

Mức tăng cân của bà mẹ khi có thai: Kết quả nghiên cứu cho thấy bà mẹ trong quá trình mang thai tăng được trên 9 kg trọng lượng thì đứa con sinh ra sẽ giảm được nguy cơ bị SDD 8,57 lần so với bà mẹ chỉ tăng được ít hơn 9 kg (95% CI: 3,19 - 23,06; p < 0,0001, c2 test). Bà mẹ tăng ít hơn 9 kg trọng lượng trong thời kỳ mang thai thì khả năng sinh ra những đứa trẻ bị SDD bào thai rất lớn và những đứa trẻ đó rất khó khăn để thoát khỏi tình trạng SDD sau này.

Chế độ lao động khi có thai: Bà mẹ trong quá trình mang thai chủ yếu là được nghỉ ngơi thì đứa con sinh ra sẽ giảm nguy cơ bị SDD 6,45 lần (95% CI: 1,43 - 29,03; p=0,0151, c2 test) so với bà mẹ vẫn lao động bình thường. Điều này có lẽ là do chế độ lao động được coi là bình thường của nghề nông không phải lúc nào cũng phù hợp với phụ nữ mang thai như phải gánh, vác nặng hoặc làm những công việc như cấy lúa, tát nước... làm cho họ phải đứng hoặc cúi gập người khá lâu...

Uống viên sắt ở phụ nữ mang thai: Vấn đề chăm sóc thai nghén cho các bà mẹ mang thai đặc biệt những bà me bị thiếu sắt trong thời gian có thai có ý nghĩa lớn đối với tình trạng dinh dưỡng của trẻ em sau này vì những bà mẹ bị thiếu máu trong thai kỳ có nguy cơ đẻ con nhẹ cân rất lớn. Theo kết quả nghiên cứu, bà mẹ trong quá trình mang thai có uống viên sắt thì đứa con sinh ra sẽ giảm được nguy cơ bị SDD 3,24 lần so với bà mẹ không uống viên sắt (p=0,0321, c2 test). Tác dụng của việc bổ sung viên sắt trong thời kỳ có thai để chống thiếu máu và tai biến sản khoa không phải bàn cãi; nhưng bên cạnh một số bà mẹ không biết hoặc coi nhẹ tác dụng của viên sắt, còn một tỉ lệ không nhỏ các bà mẹ sau khi dùng viên sắt thấy tác dụng phụ như táo bón, đi ngoài phân đen là ngừng ngay không uống nữa. Rõ ràng, đây là một vấn đề đáng lưu ý trong công tác chăm sóc thai sản cho phụ nữ ở xã này.

Cân nặng trẻ sơ sinh: Theo kết quả nghiên cứu, trẻ có cân nặng sơ sinh nhỏ hơn 2500 gram sẽ có nguy cơ bị SDD gấp 5,28 lần so với trẻ có cân nặng sơ sinh từ 2500 gram trở lên (p=0,0266, c2 test).

Thời điểm mẹ cai sữa cho trẻ: Chăm sóc ăn uống hết sức quan trọng trong những năm đầu tiên của cuộc đời. Cho bú sớm và bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu là chăm sóc nuôi dưỡng đầu tiên đảm bảo cho đứa trẻ phát triển tốt. Hiện nay WHO khuyến cáo các bà mẹ nên cho trẻ bú kéo dài 18-24 tháng, không nên cai sữa cho trẻ quá sớm. Cai sữa sớm là một sai lầm của các bà mẹ, trong khi chưa có đủ thức ăn thay thế thích hợp, trẻ lại  bị cắt mất nguồn thức ăn giàu chất dinh dưỡng là sữa mẹ nên dễ dẫn đến SDD. Trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bà mẹ cai sữa trẻ trước 12 tháng tuổi thì trẻ sẽ bị tăng nguy cơ SDD 8,53 lần (p=0,0024; c2 test) so với trẻ được cai sữa khi được hơn 18 tháng tuổi.

Số nhóm thực phẩm trẻ được ăn trong ngày: Trẻ không được ăn đủ 4 nhóm thực phẩm có nguy cơ bị SDD cao gấp 7,72 lần (p=0,0102; c2 test) trẻ được ăn đủ 4 nhóm thực phẩm. Điều này có thể lý giải rằng chất lượng bữa ăn bổ sung đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với tình trạng dinh dưỡng của  trẻ dưới 5 tuổi bởi lẽ thực hành dinh dưỡng trẻ em là một chăm sóc thiết yếu diễn ra hàng ngày.

Tần suất xuất hiện các loại thực phẩm cho trẻ ăn trong tuần: Tần suất tiêu thụ phần lớn các thực phẩm là tương đương giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Tuy nhiên cũng có một loại thực phẩm có tần suất tiêu thụ khác nhau có ý nghĩa thống kê (p <0,05; c2 test) giữa nhóm bệnh và nhóm chứng đó là dầu/mỡ. Trẻ được ăn nhóm thực phẩm giàu chất béo như dầu/ mỡ dưới 3 lần/tuần sẽ có nguy cơ bị SDD gấp 3,35 lần (p=0,0400) so với trẻ được ăn dầu/mỡ hơn 3 lần/tuần. Việc nhóm bệnh tiêu thụ ít các sản phẩm dầu/mỡ rõ ràng không phải là do các hộ gia đình không đủ khả năng tài chính để sử dụng loại thực phẩm này mà do hiểu biết của họ về tác dụng của loại thực phẩm này còn hạn chế. Do vậy việc tuyên truyền tác dụng của loại thực phẩm này trong khẩu phần ăn của trẻ là rất cần thiết trong việc nuôi dưỡng và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em.

Trẻ có bị tiêu chảy: Trẻ có bị mắc tiêu chảy trong 2 tuần qua có nguy cơ bị SDD cao gấp 7,40 lần (p=0,0024; c2 test) so với trẻ không bị tiêu chảy trong 2 tuần qua. Một khi chăm sóc vệ sinh dinh dưỡng cho trẻ không làm tốt khó có thể thanh toán được tiêu chảy thì SDD khó có thể giải quyết được. Đó là những vòng xoắn bệnh lý mà nhiều nghiên cứu đã đưa ra. Điều này đã chỉ ra cho chúng ta thấy cần phải có một hệ thống thống nhất và kết hợp nhiều giải pháp mới có thể giải quyết được vấn đề SDD.

Thực hành điều trị tiêu chảy tại nhà cho trẻ: Thực hành vệ sinh dinh dưỡng của bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ không những ảnh hưởng trực tiếp tới khẩu phần ăn, chế độ ăn của trẻ mà còn ảnh hưởng tới việc chăm sóc và phòng ngừa bệnh tật cho trẻ nhất là khi trẻ ốm. Trẻ có mẹ thực hành điều trị tiêu chảy tại nhà đúng giảm được nguy cơ bị SDD 11,11 lần (95%CI: 1,28-122,13) so với trẻ có mẹ thực hành điều trị tiêu chảy tại nhà không đúng cách (p=0,0223; c2 test).

2.3. Vệ sinh môi trường và kinh tế - xã hội

Số con hiện có của bà mẹ: Nhóm trẻ có mẹ hiện có 3 con trở lên có nguy cơ SDD cao hơn 4,85 lần (95% CI: 1,80 - 13,10; p=0,0018, c2 test) so với nhóm trẻ có mẹ chỉ có 1 hoặc 2 con. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, có thể một trong những nguyên nhân đó là do ở hộ gia đình đông con cha mẹ ít có thời gian tìm hiểu kiến thức và thực hành chăm sóc con cái. Với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con là vừa đủ để cha mẹ có thể chăm sóc, nuôi dạy trẻ với khả năng tốt nhất có thể có của mình. Sơn Đồng cũng là xã có tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên khá cao ở huyện Hoài Đức và cùng với cả nước tỉ lệ này có xu thế gia tăng trong những năm gần đây: năm 2003 là 14,6%, 2004 là 22,2%; điều này chứng tỏ công tác kế hoạch hoá gia đình tại Sơn Đồng cần phải được lưu ý hơn để cải thiện tình trạng này.

Thu nhập và chi phí ăn uống bình quân đầu người: Thu nhập bình quân và chi phí cho ăn uống (đồng/ người/ tháng) trong năm qua của hộ gia đình có trẻ SDD đều thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p=0,02 và p=0,029; t-test) so với hộ gia đình có trẻ không bị SDD (tương ứng là 239.635,9đ và 284.592,6đ; 166.064,2đ và 194.104,8đ). Rõ ràng hộ gia đình có thu nhập thấp sẽ kéo theo chi phí dành cho ăn uống cũng như cho các hoạt động cần thiết khác của cuộc sống cũng sẽ thấp, trẻ thường không được chăm sóc ăn uống, chăm sóc sức khoẻ... đầy đủ bằng ở những hộ gia đình có thu nhập cao hơn.

Khuyến nghị

Làm tốt công tác truyền thông, giáo dục kiến thức về vệ sinh - dinh dưỡng:

- Đối tượng truyền thông chính: Các bà mẹ đang nuôi con, kể cả các bà mẹ tương lai và những thành viên khác là người thân trong gia đình trẻ.

- Kênh truyền thông: Cán bộ y tế/ cộng tác viên dinh dưỡng tư vấn trực tiếp cho các bà mẹ; đọc trên loa truyền thanh xã; phát sách/ báo/ tài liệu/ tờ rơi cho các bà mẹ.

- Nội dung truyền thông: Nâng cao thực hành vệ sinh - dinh dưỡng khi mang thai; chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ. Tập trung vào các nội dung như: bổ sung viên sắt; chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý cho phụ nữ có thai; không nên cai sữa cho trẻ quá sớm; sử dụng nguồn thực phẩm giàu chất béo như dầu, mỡ; tạo khẩu phần ăn hợp lý bằng cách cho trẻ ăn đủ 4 nhóm thực phẩm; cách phòng và điều trị bệnh tiêu chảy tại nhà cho trẻ...

Thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, mỗi gia đình có từ 1- 2 con.

Cập nhật, nâng cao kiến thức về vệ sinh - dinh dưỡng thường xuyên cho cán bộ y tế và cộng tác viên dinh dưỡng tại địa phương.<



* Trường Đại học Y tế Công cộng

** Khoa Dinh dưỡng Cộng đồng - Viện Dinh dưỡng