HÔN NHÂN XUYÊN QUỐC GIA

VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC VĂN HOÁ GIA ĐÌNH

ThS. ĐINH VĂN QUẢNG*

 

*1. Tình trạng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài

Những năm gần đây, kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt là kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người Đài Loan đang gia tăng nhanh chóng thu hút sự quan tâm của cộng đồng. Mục đích lấy chồng nước ngoài của những phụ nữ này tuy không hoàn toàn giống nhau, nhưng hầu hết họ đều mong muốn vào sự giàu có của người chồng để có cơ hội được đổi đời và có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi cảnh nghèo đói.

Thực tế cho thấy phần đông số phụ nữ lấy chồng nước ngoài sau một vài năm đã tích luỹ được một số tài sản đáng kể gửi về gia đình. Tuy vậy, không ít phụ nữ đã phải trả gía cho những toan tính sai lầm của họ. Có những phụ nữ không được gia đình người chồng coi là vợ, họ phải lao động như những người hầu hay nô lệ trong nhà. Một số khác bị chính người chồng đánh đập, gả bán cho những người đàn ông khác, bị đưa vào các nhà chứa và trở thành gái mại dâm. Không có tiền, không biết ngôn ngữ, không hiểu biết về pháp luật, phong tục tập quán, có những phụ nữ đã rơi vào tình trạng “nan giải”. Hầu hết số trường hợp này đều do đã tin vào lời dụ dỗ ngon ngọt của những kẻ môi giới hôn nhân, họ bị lừa đảo, rồi bị ép buộc phải lấy người đàn ông mà mình không muốn.

Trước năm 2003 nhiều hình thức môi giới hôn nhân với người nước ngoài, đặc biệt là với người Đài Loan đã hình thành và hoạt động ngoài sự kiểm soát của chính quyền địa phương các cấp. Vài năm gần đây, tình trạng này được cải thiện nhờ vào kết qủa can thiệp của các cơ quan pháp luật, tổ chức đoàn thể, nhưng không phải vì thế mà đã chấm dứt. Do lợi nhuận cao, các tổ chức môi giới hôn nhân với người nước ngoài vẫn hoạt động bất hợp pháp với nhiều thủ đoạn tinh vi.

Các thông tin về những cô gái Việt Nam bị buôn bán, ngược đãi và bị ép làm gái mại dâm ở xứ người thường được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian qua, là những hiện tượng có thật tuy không phải là đa số, nhưng cũng không có nghĩa là sẽ không còn tiếp tục diễn ra một khi các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia không dựa trên cơ sở hiểu biết về văn hoá, về lối sống hoà hợp lâu dài, đặc biệt lại không xuất phát từ tình yêu tự nguyện.  Những rủi ro từ các cuộc hôn nhân này không phải lúc nào cũng được các tổ chức môi giới và pháp luật của chính quyền các bên bảo vệ cho các cô dâu Việt Nam. 

Vấn đề đặt ra hiện nay với các nhà quản lý xã hội là những hệ quả lâu dài của hiện tượng phụ nữ kết hôn với người Đài Loan hiện nay là gì? Các cô dâu Đài Loan mang con về nước sống lâu dài hay tạm thời, vấn đề quốc tịch, quyền và lợi ích hợp pháp ra sao? Văn hoá truyền thống dân tộc và mô hình gia đình của Việt Nam trong tương lai nếu hiện tượng trên tiếp tục phát triển. Thực tế hiện nay, không chỉ các địa phương  có đời sống kinh tế khó khăn, mà tại các khu đô thị, khu công nghiệp ở nhiều nơi, hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng là công dân các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… đang ngày càng gia tăng.

 Kết hôn với người nước ngoài là cuộc hôn nhân giữa những người không cùng quốc tịch. Hiện tượng này đang diễn ra và vẫn tiếp tục gia  tăng là một hiện trạng của quá trình phát triển và hội nhập. Một trong các nguyên nhân tác động đến sự gia tăng đó là sự tham gia tích cực của các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại; thêm nữa là do các điều kiện giao thông thuận tiện, nối liền năm châu, bốn biển và quyền tự do tìm kiếm việc làm, nơi cư trú, các quan hệ dân sự được cởi mở đã làm xích lại những khoảng cách không gian, các quan hệ xã hội, mà trong môi trường xã hội và pháp lý trước đây ít cho phép. Luật pháp của các nước đều cho phép việc kết hôn với người khác quốc tịch trên cơ sở tuân thủ những quy định chung của hai quốc gia. Việc quy định này rất cần thiết nhằm bảo vệ quan hệ hôn nhân cho công dân của mỗi quốc gia.

2. Văn hoá gia đình

Văn hoá gia đình được hình thành thông qua quá trình giáo dục để mỗi thành viên có được nhân cách (những phẩm cách, những năng lực cá nhân) để chủ động và tự giác thực hiện các chức năng cơ bản của gia đình. Văn hoá gia đình được tích luỹ, duy trì và phát triển từ việc thực hiện các chức năng gia đình,  nảy sinh mối quan hệ gắn bó với nhau về quyền lợi, trách nhiệm, lao động và học tập, tình yêu thương và thái độ ứng xử hàng ngày trong gia đình, cũng như ngoài xã hội.

Trong nhiều đức tính được truyền thụ qua các thế hệ, nổi bật lên là các đức Hiếu - Hoà - Nhẫn - Tình - Nghĩa. Hiếu là thương yêu cha mẹ, kính trọng ông bà, thờ phụng tổ tiên. Hoà là vợ chồng, anh em ăn ở với nhau hoà thuận. Muốn đạt được hoà, hiếu cần có đức Nhẫn. Có Nhẫn sẽ biết kiềm chế những cá tính bản năng, điều tiết được dục vọng cá nhân thái quá, mang lại sự bình yên trong gia đình. Tình là giá trị nhân văn được tạo ra từ những phẩm cách chuẩn mực, dùng để ứng xử các mối quan hệ của các thành viên trong gia đình và ngoài xã hội. Nghĩa là trách nhiệm, là nghĩa vụ của mỗi thành viên đối với gia đình, họ tộc, làng, nước. Có tình, có nghĩa con người biết yêu thương, biết tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau.

Văn hoá cổ truyền là thiết chế văn hoá phát sinh, tồn tại một cách tự nhiên và lâu đời trong cuộc sống cộng đồng làng, xã của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Nhiều phong tục, tập quán truyền thống hiện nay vẫn phát huy được các giá trị tốt đẹp của văn hoá cổ truyền. Ví dụ về phong tục “cưới xin”, nếu giảm bớt đi những thủ tục, nghi thức lỗi thời, chúng ta thừa nhận rằng có nhiều nghi lễ nghiêm trang mang yếu tố tín ngưỡng có tính giáo dục cho các thành viên gia đình. Các thủ tục từ lễ dạm ngõ, ăn hỏi trước khi cưới, đến lễ gia tiên, lời dạy bảo của người bề trên cho cô dâu, chú rể trong khi cưới và sau khi cưới có ý nghĩa giáo dục, nhắc nhở trách nhiệm không chỉ đối với cặp vợ chồng mới mà cho cả cho mỗi thành viên trong gia đình và những người tham dự lễ cưới.

Phong tục là những tục lệ, tập quán được cộng đồng, xã hội chấp nhận như chuẩn mực và được mọi người tuân thủ. Việc vi phạm phong tục bị coi là là xúc phạm đến giá trị tinh thần của cộng đồng. Phong tục do được hình thành lâu đời, nên thường có những giá trị tồn tại vượt thời gian và bất chấp những thay đổi lớn của xã hội. Phong tục được hiểu như luật bất thành văn trong lối sống của mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc. Nó bao gồm các qui định về tôn ti, trật tự, trên dưới trong họ tộc, quan hệ nam, nữ, các nghi lễ cưới hỏi, giỗ chạp, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, suy tôn, tưởng nhớ những người có công đức với gia đình, dòng họ, cộng đồng, làng xã, vùng miền, tổ quốc...

Mỗi quốc gia, mỗi khu vực đều có những phong tục, tập quán riêng. Gia đình cư trú tại địa phương nào thì thường tuân theo các phong tục, tập quán của nơi đó, sống theo tinh thần phương ngôn “đất lề, quê thói” hay “đất có thổ công, sông có hà bá”. Đó là một cách để gia đình trở nên thân thiện với cộng đồng cư dân nơi sinh sống. Cử chỉ tôn trọng tập quán địa phương, cùng nhau thực hiện tập quán nơi cư trú chính là những biểu hiện của sự chung sống hoà đồng.  

Tuy nhiên, do phong tục, tập quán được hình thành từ chuỗi thời gian lâu dài nên ảnh hưởng sâu đậm đến nếp sống của từng gia đình, đến mỗi thành viên. Muốn thay đổi những giá trị nào đó đã lỗi thời, hay để tiếp cận với những giá trị mới theo sự phát triển của xã hội, thì quá trình chuyển đổi diễn ra chậm chạp, nhất là phong tục, tập quán hình thành dưới thời xưa để lại.

 Nói tới cuộc sống gia đình, trước hết phải nói tới việc xây dựng một cuộc sống đầm ấm, trong đó phải xây dựng và duy trì được mối quan hệ giữa các thành viên (như các quan hệ ông-bà, cha-mẹ, anh-chị-em, cha mẹ-con cái, ông-bà-cháu…) trong tình ruột thịt, thực sự quan tâm, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, tránh được những xung đột không đáng có hoặc được xử lý kịp thời khi mới xảy ra. Cuộc sống gia đình hạnh phúc phải là cuộc sống được tổ chức hợp lý, khoa học nhằm bảo đảm thoả mãn ở chừng mực có thể về những nhu cầu vật chất và văn hoá tinh thần theo từng cấp độ cần thiết như ăn, ở, mặc, làm việc, nghỉ ngơi, giải trí.

Tổ chức được cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc sẽ làm cho mỗi thành viên, đặc biệt là thế hệ người già có cuộc sống thanh thản, yên tâm, làm cho cuộc sống gia đình gắn bó, hạnh phúc.

Người dân nông thôn của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu sống bằng nghề nông, khu vực đang có nhng sự biến động lớn về đất đai. Cùng với việc cơ giới hoá, hiện đại hoá, nguồn lao động dư thừa ở nông thôn đang tăng lên đáng kể, lm cho khu vực này có sự chênh lệch lớn về mức sống giữa nông thôn và đô thị. Bối cảnh này dẫn đến xu hướng dịch chuyển lao động từ nông thôn ra đô thị để kiếm việc làm, đảm bảo thu nhập cho bản thân và gia đình.

Đồng thời với hiện tượng di cư từ nông thôn ra đô thị là sự dịch chuyển quan hệ xã hội mang tính đặc thù.  Đó là xu hướng kết hôn với người nước ngoài, nổi bật là việc phụ nữ đi làm dâu Đài Loan. Những tư liệu định lượng và định tính từ nhiều nguồn thông tin, khảo sát đã chứng tỏ việc kết hôn với người Đài Loan và người có quốc tịch khác là một trong biện pháp nhằm thoát khỏi tình trạng đói nghèo và nâng cao mức sống của một bộ phận dân cư.

3. Giáo dục văn hoá gia đình

Nền kinh tế thị trường đã mang lại những tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ, về năng suất lao động, và số lượng, chất lượng hàng hoá. Song nền kinh tế thị trường cũng đem lại những cạnh tranh khốc liệt. Khi mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường tác động vào gia đình, những chuẩn mực giá trị về đạo lý gia đình bị thay đổi. Sự thay đổi về định hướng giá trị tạo cho nhiều người cảm giác lo lắng rằng thế hệ tiếp theo của các gia đình sẽ coi thường những giá trị truyền thống. Nhu cầu hưởng thụ về vật chất bị một số cá nhân, gia đình quá đề cao và lạm dụng nó, dẫn đến sự buông lỏng kỷ cương phép nước, phép nhà, ứng xử thô bạo, thậm chí đã chà đạp lên đạo lý.

Tình trạng chung đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, sự phát triển kinh tế xã hội cũng đồng thời làm thay đổi một số chuẩn mực của gia đình truyền thống; thực tế, có những giá trị cần được thay đổi để phù hợp với cuộc sống hiện đại, với nền kinh tế thị trường (ví dụ, quan niệm đông con nhiều cháu cần được thay bằng ít con, khoẻ mạnh). Đặc điểm văn hóa xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long nổi bật là nền văn hóa mở, với sự giao thoa nhiều yếu tố văn hóa: văn hóa Ấn Độ qua người Khơme, văn hóa Trung Quốc qua người Hoa, văn hóa Hồi giáo qua người Chăm. Tất cả sự đa dạng, sự khác biệt đó được hoà hợp, liên kết lại trong một nền văn hóa Việt Nam rất phong phú trên vùng đất mới, tạo nên những bản sắc văn hoá có nét đặc thù riêng cần được lưu giữ và phát huy.  

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế - văn hóa  xã hội như vậy đã tạo nên nét đặc trưng của tính cách người dân, sống cởi mở, dễ thích nghi với sự thay đổi, dễ tiếp nhận cái mới, vì vậy cũng đồng hành với lối sống dễ bao dung, dễ tha thứ cho những hành vi của người khác và đặc biệt là tính ràng buộc cộng đồng cũng thoáng hơn. Những đặc điểm trong tính cách đã giúp người dân vùng sông nước Cửu Long thích nghi tốt với mọi biến đổi của tự nhiên, xã hội. Điều này cũng phản ánh đặc điểm văn hóa mang tính chất mở của người dân Nam Bộ, dễ dàng tiếp nhận, hòa hợp với những con người mới và cũng không khắt khe ràng buộc những người muốn ra đi.

4. Giáo dục gia đình về kết hôn với người nước ngoài

Xu hướng kết hôn với người nước ngoài có chiều hướng tăng do những người Việt Nam sang lao động, học tập, sinh sống ở nước ngoài, và ngược lại do những người nước ngoài sang lao động, học tập, sinh sống ở Việt Nam. Một trong những nguyên nhân làm tăng các quan hệ hôn nhân đó là sự mối lái của các tổ chức, các công ty môi giới hôn nhân với nhiều hình thức.

Hôn nhân có yếu tố nước ngoài được hình thành theo hai cách: đôi nam nữ tự tìm hiểu dẫn đến hôn nhân hoặc thông qua các dịch vụ môi giới. Trong trường hợp thứ nhất đó là mối quan hệ hôn nhân tự nguyện cao và xuất phát từ cơ sở tình cảm; hiểu biết lẫn nhau trên các vị trí công tác, học tập. Trường hợp thứ hai thông qua các hình thức môi giới: các công ty môi giới hôn nhân hoặc qua sự giới thiệu của người thân, người kết hôn trước. Đây là một hình thức tìm kiếm quan hệ hôn nhân thông qua các bên tham gia lựa chọn, trong đó không loại trừ có cả các tổ chức môi giới hôn nhân với mục đích “hoạt động kinh doanh kiếm lời”.

  “Mai mối” là một tập tục truyền thống đã có từ lâu đời ở các nước châu Á. Mặc dù là một tập tục truyền thống nhưng nó được nhận thức đúng tính chất mai mối, không bị lạm dụng như là một công cụ để ép duyên; đôi bên tự quyết định các bước tiếp theo. Hiện nay, môi giới hôn nhân nói chung và môi giới kết hôn với người nước ngoài luôn có tính hai mặt. Mặt tích cực là tạo điều kiện cho hai bên có điều kiện làm quen, tiếp xúc và tìm hiểu “nhân thân” của nhau. Đó cũng là những yếu tố cần thiết để hình thành giai đoạn tiền hôn nhân, nhất là trong xã hội công nghiệp. Mặt trái của môi giới kết hôn với người nước ngoài là áp đặt, cung cấp thông tin sai lệch và kiếm lời. Họ tìm mọi cách để thành công với mục đích kiếm được tiền, bất kể cả việc cung cấp thông tin sai, lừa dối đôi bên dẫn đến hậu quả khôn lường, làm nhiều gia đình tan vỡ, trong đó chịu thiệt thòi hơn cả là người phụ nữ.

Chính vì vậy, cần có các tổ chức môi giới hợp pháp và nguyên tắc đầu tiên phải là cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết để họ có đủ năng lực cùng với gia đình đưa ra quyết định đúng đắn cho cuộc hôn nhân của mình.

5. Thay lời kết luận

Kết hôn với người nước ngoài là một hình thức khá phổ biến và trở thành hiện tượng bỡnh thường của nhiều nước đang phát triển . Nhiều người đã tìm được bạn đời qua những hình ảnh và thông tin của các dịch vụ môi giới. Nhưng tính trung thực của các loại thông tin này (hình ảnh, số liệu,..) không phải lúc nào cũng đáng tin cậy. Nhiều vấn đề thuộc hành vi, văn hoá, lối sống không thể cung cấp được đầy đủ và trung thực. Mặt khác, chuyện “kết tóc xe duyên” của đôi bên trong trường hợp này cần có cơ quan tư vấn và cần tính đến những rủi ro trước khi đi đến quyết định. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phụ nữ Việt Nam, việc tiến hành đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nhất thiết phải thực hiện theo trình tự qui định của luật pháp Việt Nam.

Nhà nước Việt Nam đang dần hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý chặt chẽ với những chế tài cụ thể trong lĩnh vực này, không để các tổ chức kinh doanh thành lập công ty môi giới hôn nhân, đặc biệt hôn nhân có yếu tố nước ngoài, hoạt động với mục đích kiếm lời, phi nhân tính. Những tổ chức cung cấp thông tin sai lệch vì mục đích lợi nhuận phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

Để tránh những rủi ro và bảo đảm cho các cuộc kết hôn xuyên quốc gia có cuộc sống hạnh phúc lâu dài, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Hôn nhân và Gia đình, cũng như việc giáo dục về văn hoá truyền thống dân tộc, việc hỗ trợ về phát triển kinh tế gia đình là trách nhiệm của Nhà nước, của mọi cấp, mọi ngành và của mỗi người nhằm bảo đảm cuộc sống hạnh phúc thực sự của gia đình nói chung, trước hết là bảo vệ quyền và lợi ích cho người phụ nữ Việt Nam.<



* Phó vụ trưởng Vụ Gia đình, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em Việt Nam.