BÁO CÁO PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 2006

VIỆT NAM:  CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI - KHÔNG CHỈ LÀ THU NHẬP

 


Kể từ 1990 đến nay, hàng năm Báo cáo Phát triển con người đều công bố Chỉ số Phát triển con người (HDI). HDI không chỉ phản ánh GDP mà còn nhiều chỉ tiêu phúc lợi khác. HDI là thước đo tổng hợp của ba yếu tố phát triển con người: sống khoẻ và sống lâu (đo bằng tuổi thọ), được học hành (đo bằng tỷ lệ biết chữ ở người lớn và tỷ lệ nhập học ở các cấp tiểu học, trung học và đại học) và có mức sống tốt (thể hiện qua sức mua ngang bằng (PPP) và mức thu nhập). Song, hoàn toàn không thể coi chỉ số này là thước đo toàn diện về tình hình phát triển con người. Ví dụ, nó không bao hàm một số chỉ tiêu quan trọng như mức độ bất bình đẳng hay những chỉ tiêu khó đo lường như tôn trọng các quyền con người và các quyền tự do về chính trị. Thực sự, HDI có tác dụng như một lăng kính mở rộng để quan sát tiến bộ của con người và mối quan hệ phức tạp giữa thu nhập và phúc lợi.

Giá trị HDI của Việt Nam là 0,709, đứng ở vị trí 109 trong tổng số 177 nước được xếp hạng (Bảng 1).


Bảng 1: Chỉ số Phát triển con người của Việt Nam 2004

 

Giá trị HDI

Tuổi thọ trung bình

(năm)

Tỷ lệ biết chữ ở người lớn (% trong độ tuổi từ 15 trở lên)

Tỷ lệ nhập học tổng hợp ở các cấp tiểu học, trung học và đại học
(%)

GDP theo đầu người

(PPP USD)

1. Na-uy (0,965)

107. CH A-rập Xyri (0,716)

108. Inđônêxia (0,711)

109. Việt Nam (0,709)

110. Kiếcghidixtan (0,705)

111. Ai Cập (0,702)

177. Nigiê (0,311)

1. Nhật Bản (82,2)

81. Paragoay (71,2)

82. Elxanvađo  (71,1)

83. Việt Nam (70,8)

84. Braxin (70,8)

85. Iran (70,7)

177. Xoadilen (31,3)

1. Grudia (100,0)

54. Xri Lanca (90,7)

55. Inđônêxia (90,4)

56. Việt Nam (90,3)

57. Gioocđani (89,9)

58. Mianma (89,9)

128. Mali (19,0)

1. Ốt-xtrây-lia (113,2)

121. Vanuatu (63,8)

122. Saotômê & Prinxipê (63,0)

123. Việt Nam (62,8)

124. Xri Lanca (62,7)

125. CH A-rập Xyri (62,6)

172. Nigiê (21,5)

1. Lúc-xem-bua (69.961)

116. Hônđurát (2.876)

117. Grudia (2.844)

118. Việt Nam (2.745)

119. Bôlivia (2.720)

120. Lêxôthô (2.619)

172. Xiêra Lêon (561)

 

 

 

 

 


HDI năm nay, (sử dụng số liệu của năm 2004) cho thấy những khoảng cách rất lớn về phúc lợi và cơ hội trong cuộc sống tiếp tục chia rẽ thế giới có mối liên quan ngày càng tăng của chúng ta. Khi xem xét một số khía cạnh căn bản nhất trong cuộc sống và cơ hội của con người, chúng ta thấy được một bức tranh hoàn chỉnh hơn nhiều về tình hình phát triển của một quốc gia so với các chỉ tiêu khác, như GDP theo đầu người. Hình 1 cho thấy các nước có giá trị HDI tương đương như Việt Nam lại rất khác nhau về mức thu nhập và tuổi thọ.

Các chiều hướng về Chỉ số Phát triển con người cho ta thấy một điều quan trọng. Kể từ giữa những năm 1970 đến nay, giá trị HDI của hầu hết các khu vực trên thế giới liên tục gia tăng (Hình 2). Đông Á và Nam Á đã đẩy nhanh tốc độ cải thiện HDI kể từ năm 1990. Trung Âu, Đông Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS), sau khi bị suy giảm ghê gớm vào nửa đầu thập kỷ 90, cũng đã khôi phục lại mức HDI như trước thời điểm đó. Trường hợp ngoại lệ đáng lưu ý là khu vực Cận Sahara của châu Phi. Từ năm 1990 đến nay, khu vực này vẫn trong tình trạng trì trệ, một phần vì sự suy thoái về kinh tế, nhưng chủ yếu là do ảnh hưởng nặng nề của HIV/AIDS đối với tuổi thọ của người dân.   

Chỉ số Nghèo tổng hợp ở Việt Nam: tập trung vào những đối tượng nghèo nhất xét theo các tiêu chí nghèo đói

GDP theo đầu người

PPP USD

 

Angiờri

Việt Nam

 

GDP theo đầu người

PPP USD

 

 

Angiêri

Việt Nam

 
HDI đo kết quả phát triển con người trung bình của một quốc gia. Chỉ số Nghèo tổng hợp đối với các nước đang phát triển (HPI-1) tập trung vào tỷ lệ người dân ở dưới ngưỡng quy định của cùng các chỉ tiêu phát triển con người như trong Chỉ số Phát triển con người, đó là: sống lâu và sống khoẻ, được tiếp cận với giáo dục và có mức sống tốt. Không chỉ căn cứ vào mức nghèo về thu nhập, HPI-1 là thước đo tổng hợp về nghèo đói thay thế cho thước đo 1 USD (PPP) mỗi ngày.

Giá trị HPI-1 của Việt Nam là 15,7, xếp thứ 33 trong 102 nước đang phát triển được xếp hạng về chỉ số này.

HPI-1 đo mức độ nghèo nghiêm trọng về sức khoẻ thông qua tỷ lệ người dân có khả năng không sống qua tuổi 40. Mức độ nghèo về giáo dục được đo bằng tỷ lệ mù chữ ở người lớn. Còn mức sống tốt thì được đo bằng tỷ lệ trung bình người dân không có khả năng tiếp cận với nguồn nước được cải thiện về chất lượng và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị thiếu cân so với tiêu chuẩn quy định theo lứa tuổi. Bảng 2 trình bày giá trị của những chỉ tiêu này ở Việt Nam và so sánh với các nước khác.     


Bảng 2: Một số chỉ tiêu nghèo tổng hợp ở Việt Nam

Chỉ số Nghèo tổng hợp
(HPI-1)

 

 

2004

Khả năng không sống qua tuổi 40
(%)

 

2004

Tỷ lệ mù chữ ở người lớn (% trong độ tuổi  từ 15 trở lên)

 

2004

Những người không có khả năng tiếp cận với nguồn  nước được cải thiện về chất lượng

(%)

2004

Trẻ em bị thiếu cân so với tiêu chuẩn quy định theo lứa tuổi
(% trong độ tuổi từ 0 đến 5)

2004

1. Urugoay (3,3)

31. Philippin (15,3)

32. Elxanvađo (15,7)

33. Việt Nam (15,7)

34. Các Tiểu Vương quốc A-rập thống nhất (15,9)

35. Iran (16,4)

102. Mali (60,2)

1. Hồng Công, Trung Quốc (1,5)

88. Thổ Nhĩ Kỳ (8,9)

89. Vanuatu (8,9)

90. Việt Nam (9,4)

91. Thái Lan (9,9)

92. Elxanvađo (9,9)

172. Xoadilen (74,3)

1. Cuba (0,2)

50. Xri Lanca (9,3)

51. Inđônêxia (9,6)

52. Việt Nam (9,7)

53. Gioocđani (10,1)

54. Mianma (10,1)

117. Mali (81,0)

1. Bungari (1)

52. Paragoay (14)

53. Philippin (15)

54. Việt Nam (15)

55. Bôlivia (15)

56. Angiêri (15)

125. Êtiôpi (78)

1. Chi Lê (1)

107. Ruanđa (27)

108. Philippin (28)

109. Việt Nam (28)

110. Inđônêxia (28)

111. Sát (28)

134. Nêpan (48)


Bảng 3: Tương quan giữa GDI và HDI - thước đo mức độ bất bình đẳng giới

GDI tính theo % của HDI

Tuổi thọ trung bình
(năm)

2004

Tỷ lệ biết chữ ở ngườI lớn
(% trong độ tuổi từ 15 trở lên)

2004

Tỷ lệ nhập học tổng hợp ở các cấp tiểu học, trung học và đại học

2004

 

Nữ tính theo % của nam

Nữ tính theo % của nam

Nữ tính theo % của nam

1. Lúc-xem-bua (100,4 %)

9. Bungari (99,8 %)

10. Pháp (99,8 %)

11. Việt Nam (99,8 %)

12. Vương quốc Anh (99,8 %)

13. Látvia (99,8 %)

136. Yêmen (94,0 %)

1. Liên bang Nga (122,4 %)

114. Vương quốc Anh (106,1 %)

115. Inđônêxia (105,9 %)

116. Việt Nam (105,9 %)

117. Các Tiểu Vương quốc A-rập thống nhất (105,8 %)

118. Tuynidi (105,8 %)

191. Kênia (95,8 %)

1. Lêxôthô (122,5 %)

58. Baranh (94,4 %)

59. Malaixia (92,8 %)

60. Việt Nam (92,5 %)

61. Inđônêxia (92,3 %)

62. Macau (92,1 %)

115.Ápganixtan (29,2 %)

1. Các Tiểu Vương quốc A-rập thống nhất (126,0%)

141. CH A-rập Syri (93,4 %)

142. Bôlivia (93,3 %)

143. Việt Nam (93,2 %)

144. Hồng Công, Trung Quốc (93,1 %)

145. Vanuatu (92,8 %)

189. Ápganixtan (40,9 %)


Tăng cường năng lực cho phụ nữ

HDI đo các kết quả trung bình của một quốc gia, song không xét tới mức độ bất bình đẳng giới trong các kết quả này. Chỉ số Phát triển liên quan đến giới (GDI), được đưa ra từ Báo cáo Phát triển con người năm 1995, đo các kết quả đạt được về cùng các chỉ tiêu như của HDI, song có xét tới những bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các kết quả này. GDI đơn giản là HDI được điều chỉnh xuống theo mức độ bất bình đẳng giới. Ở một quốc gia, mức độ bất bình đẳng giới trong các kết quả phát triển con người cơ bản càng lớn thì tỷ lệ giữa GDI với HDI tương ứng càng thấp.   

Giá trị GDI của Việt Nam là 0,708 so với giá trị HDI tương ứng là 0,709. Như vậy, ở Việt Nam, giá trị GDI bằng 99,9% giá trị HDI. Trong số 136 nước có cả hai giá trị HDI và GDI thì mười nước có tỷ lệ giữa hai chỉ số này tốt hơn Việt Nam. 

Bảng 3 trình bày tỷ lệ giữa GDI và HDI của Việt Nam so với các nước khác cũng như giá trị của một số chỉ tiêu căn bản được sử dụng để tính GDI.<