VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG - VIỆC LÀM VÀ PHÁT TRIỂN

NGUỒN NHÂN LỰC Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY

PGS. TS. ĐẶNG NGUYÊN ANH*


*Trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, vai trò của nguồn nhân lực trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước.  Không có sự đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Việc làm rõ thực trạng và những bất cập từ góc độ phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là một vấn đề đòi hỏi nhiều nghiên cứu trên bình diện lý luận và thực tiễn. 

Hướng tới mục tiêu nói trên, bài viết này nhằm tập trung xem xét vấn đề lao động, việc làm của Việt Nam, trong đó nhấn mạnh đến thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam và nông thôn hiện nay. Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, nêu lên một số đề xuất cụ thể nhằm thay đổi tình hình lao động và nguồn nhân lực nông thôn hiện nay, hướng đến mục tiêu phát triển nông thôn bền vững trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 

Một số đặc điểm về nguồn nhân lực của nước ta

Việt Nam có một cơ cấu dân số khá trẻ, phần lớn người dân (91%) ở độ tuổi dưới 60 và 47% dưới 25 tuổi.[1] Đây là một lợi thế lớn cho Việt Nam để có thể theo đuổi một chiến lược phát triển dài hơi dựa trên lợi thế và tiềm năng của nguồn nhân lực. Hiện tượng "dư lợi dân số" khi đất nước bước sang thiên niên kỷ mới là một lợi thế song việc có tận dụng được lợi thế này hay không lại tuỳ thuộc vào tầm nhìn trong các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong mối liên kết với các chính sách kinh tế - xã hội khác.  Kinh nghiệm của các quốc gia "con Rồng châu Á" cho thấy nguồn nhân lực đã được sử dụng hiệu quả như thế nào trong quá trình công nghiệp hoá, xây dựng và kiến tạo đất nước.

Mặc dù có những lợi thế về dân số và nguồn lực lao động, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực nước ta còn nhiều bất cập và yếu kém. Về tổng thể, thị trường lao động của Việt Nam có đặc điểm cung lớn hơn cầu. Tỷ lệ lao động qua học nghề, nhất là đào tạo nghề chính quy còn thấp dẫn đến chất lượng lao động thấp, nguồn nhân lực dư thừa, phân bố mất cân đối. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn hiện nay khá nghiêm trọng. Lực lượng lao động tuy đông, giá thành thấp song chất lượng chưa cao, năng suất lao động hạn chế nên không đáp ứng được yêu cầu của công việc. Hiện nay tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp trong tổng số lực lượng lao động xã hội (xấp xỉ 20% năm 2005). Phần lớn lao động có tay nghề chuyên môn làm ở các cơ quan trung ương, và tập trung ở thành thị. Ở nông thôn, lao động qua đào tạo chỉ chiếm 10%. Trong các doanh nghiệp, số lao động có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 32% (con số này ở Nhật Bản là 64,4%; Thái Lan 58,2%; Hàn Quốc là 48%). Cơ cấu lao động qua đào tạo giữa đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật rất bất hợp ý 1-1,5-2,5 (trong khi các nước trong khu vực là 1-4-10). Lao động tuy tiếp thu nhanh, khéo tay và có tính sáng tạo song tính kỷ luật yếu, tác phong và văn hoá công nghiệp thấp. Theo đánh giá quốc tế về năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam theo thang điểm tối đa 100, thì Việt Nam mới chỉ đạt 20 điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động và 32 điểm về chất lượng lao động[2]. 

Bảng 1.  Dân số trong độ tuổi lao động phân theo khu vực và trình độ chuyên môn, 2005

                        Đơn vị: %

Trình độ chuyên môn

Nông thôn

Thành thị

Không có chuyên môn

84,53

57,28

Công nhân kỹ thuật không có bằng

8,29

15,30

Công nhân kỹ thuật có bằng

1,90

6,39

Trình độ sơ cấp

0,63

1,23

Trung học chuyên nghiệp

2,76

7,45

Cao đẳng, đại học

1,89

12,36

 Nguồn: Bộ LĐTB&XH. Số liệu Thống kê Lao động - việc làm ở Việt Nam năm 2005. NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2006.

 

Trong những năm qua, mặc dù trình độ học vấn của lao động cả nước nói chung và nông thôn nói riêng không ngừng được cải thiện, hệ thống văn bằng được nâng cao và mở rộng, lực lượng lao động chiếm đa số trong quy mô dân số, song số đông vẫn là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo nghề. Đặc biệt có sự khác biệt khá lớn về trình độ nguồn nhân lực giữa nông thôn và thành thị[3]. Số liệu của Bảng 1 cho thấy sự chênh lệch trong trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động giữa hai khu vực.

Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi một lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề chuyên môn. Tuy nhiên, vấn đề đặc biệt nổi cộm hiện nay là công tác đào tạo - phát triển chính nguồn nhân lực đó. Tổng số lao động qua đào tạo đã ít mà số công nhân kỹ thuật lại càng ít hơn so với nhu cầu thực tế.

Điều đáng lo ngại là kỹ năng nghề nghiệp của lao động lại chưa đáp ứng yêu cầu của chủ sử dụng lao động. Cơ cấu lao động phân theo trình độ kỹ thuật hiện nay có những điểm bất cập, mất cân đối so với yêu cầu của sự nghiệp phát triển. Ngay cả trong số lao động ở các khu công nghiệp, số qua đào tạo nghề mới chỉ chiếm 30%, nếu tính cả số lao động có trình độ cao đẳng và trung học chuyên nghiệp thì tỷ lệ này mới khoảng 35-40%, còn lại là lao động phổ thông[4]. Bên cạnh đó, người lao động dù đã qua đào tạo nghề nhưng khả năng làm việc độc lập, xử lý tình huống còn hạn chế, chưa thích ứng được với những thay đổi về công nghệ.

Lao động, việc làm và phát triển nguồn nhân lực ở nông thôn

Ở nước ta, mặc dù đã trải qua hàng chục năm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tổ chức lại lao động nhưng đến nay ở khu vực nông thôn lao động vẫn còn  32 triệu lao động, và mỗi năm lại tăng thêm 1,6% tương ứng với trên 1 triệu lao động đến tuổi nhưng chưa có việc làm, chưa kể đến lực lượng lao động nông nhàn ở nông thôn.  Lao động nông thôn chiếm 75% lực lượng lao động toàn xã hội nhưng chỉ tạo ra chưa đầu 21% giá trị GDP quốc gia.

Nông thôn là một khu vực đặc biệt nhạy cảm nơi vẫn còn 45% dân số sống dưới ngưỡng nghèo[5]. Thu nhập nông thôn thấp nên sức mua trì trệ. Vậy mà vốn đầu tư vào khu vực nông thôn chỉ bằng 1/10 so với khu vực thành thị. Tình trạng cung vượt cầu diễn ra phổ biến và kéo dài với hầu hết các sản phẩm nông nghiệp đã dẫn đến giá lương thực luôn bị chèn ép. Lúa gạo, rau quả tươi, cao su, cà phê,… đều có tình trạng ứ đọng sản phẩm do cung vượt cầu. "Được mùa mất giá" hay "được mùa mà nông dân vẫn lo" kéo dài nhiều năm. Các tác nhân như mất mùa, thiên tai, dịch bệnh đang là những nguy cơ tiềm tàng đối với hàng triệu người dân rất dễ bị tổn thương ở nông thôn.

Sự mất cân đối nông thôn - đô thị về nguồn nhân lực được thể hiện ở chỗ: Số lao động có trình độ kỹ thuật ít ỏi tập trung chủ yếu ở khu vực hành chính sự nghiệp nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, còn trong khu vực sản xuất trực tiếp chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (93% cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc ở các cơ quan Trung ương, 6% ở cấp tỉnh, và cấp huyện chỉ chiếm 0,3%). 

Bảng 2. Cơ cấu lao động có việc làm phân theo khu vực và loại hình trình độ nghề nghiệp, 2005

       Đơn vị: %

Trình độ kỹ thuật

Nông thôn

Thành thị

Cán bộ quản lý

0,44

1,50

Chuyên môn kỹ thuật bậc cao

1,44

11,71

Chuyên môn kỹ thuật bậc trung

2,55

9,44

Dịch vụ

5,22

19,19

Thợ thủ công

16,65

20,51

 Thợ vận hành máy

2,33

9,21

 Lao động giản đơn

71,35

28,44

Nguồn: Bộ LĐTB&XH. Số liệu Thống kê Lao động - việc làm ở Việt Nam năm 2005. NXB Lao động - Xã hội, Hà nội, 2006.

Đã vậy, ở cấp huyện/xã ở nông thôn hiện nay đang thiếu trầm trọng cán bộ quản lý, kinh tế, kỹ thuật, mà đây lại là lực lượng nòng cốt thông qua đó các chủ trương, chính sách phát triển nông thôn đến được hộ gia đình, phục vụ cho lợi ích của cộng đồng. Số lao động có chuyên môn đang được sử dụng tập trung chủ yếu ở thành thị và khu vực nhà nước nơi lao động trí óc chiếm 30% trong khi ở nông thôn chỉ là 4,4%. Thêm vào đó, sự mất cân đối nghiêm trọng không chỉ thấy giữa thành thị và nông thôn mà còn thể hiện trong cơ cấu đào tạo và phân bổ lực lượng lao động trình độ nghề nghiệp (Bảng 2). Ngay cả ở các làng nghề truyền thống, tỷ lệ người lao động qua đào tạo nghề cũng mới chỉ đạt 10% lực lượng lao động trực tiếp (chủ yếu là đào tạo ngắn hạn), trong đó chỉ có 1% là nghệ nhân và lao động có trình độ cao.

Mặc dù nền kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao và tương đối ổn định trong những năm qua (bình quân 8,3%/năm) góp phần thu hút và tạo ra công ăn việc làm hàng năm, song sức ép của tình trạng thiếu việc làm vẫn rất lớn do lao động chưa tìm được việc làm, bị sa thải hay mất việc làm, hết hạn hợp đồng hoặc những nguyên nhân khác. 

Bảng 3. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động từ 15 tuổi trở lên theo khu vực và nhóm tuổi, 2005

                                             Đơn vị: %

Nhóm tuổi

Nông thôn

Thành thị

15 - 19

27,67

7,32

20 - 24

36,43

32,13

25 - 29

12,96

21,56

30 - 34

6,86

10,75

35 - 39

5,39

9,77

40 - 44

4,02

6,40

45 - 49

3,04

6,50

50 - 54

1,75

3,64

55 - 59

0,83

1,36

60+

1,06

0,58

Nguồn: Số liệu Thống kê Lao động - việc làm ở Việt Nam 2005

Số liệu của Bảng 3 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp rất khác nhau giữa các nhóm tuổi, đặc biệt trong nhóm tuổi 20-29. Mặc dù so với thành thị, tình trạng thất nghiệp ở nông thôn có phần đỡ gay gắt hơn, song thời gian nông nhàn, và tình trạng thiếu việc làm lại rất phổ biến, và chưa được thể hiện qua các con số này. Sau thời vụ cấy hái, người nông dân lại rơi vào tình trạng thiếu việc làm có thu nhập. Mức độ chênh lệch quá lớn về giá cả ngày công lao động giữa hai khu vực đã khiến người nông dân rời quê hương ra thành phố tìm việc làm. Xu hướng di cư đi làm ăn xa, đặc biệt đến các thành phố lớn để tìm việc làm, tăng thu nhập đang tiếp tục diễn ra với quy mô lớn, và ngày càng đa dạng dưới nhiều hình thức.

Do diện tích đất canh tác bình quân ngày càng bị thu hẹp, tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp tại các làng quê khá nghiêm trọng. Với hơn 10 triệu hộ nông dân cả nước nhưng bình quân một hộ chỉ có 0,7 ha đất canh tác[6]. Trong khi đó, mỗi năm có từ 25-30 nghìn ha đất tiếp tục bị chuyển dụng sang những mục đích khác, dẫn đến tình trạng chuyển đổi nghề và lao động thất nghiệp. Trong bối cảnh ngân sách nhà nước chưa đủ để trợ cấp cho người thất nghiệp, khả năng đầu tư tạo việc làm phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn tài trợ phát triển quốc tế và việc thu hút đầu tư trực tiếp bên ngoài thì khu vực nông thôn vẫn nhiều tiềm ẩn nhiều khó khăn trong việc giải bài toán lao động - việc làm. 

Kết luận và một số khuyến nghị

Việt nam đã "mở khoá" thành công cánh cửa vào Tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Việc gia nhập tổ chức này sẽ đem lại cho nông thôn những cơ hội, nhưng cũng đồng thời đặt ra những thách thức và khó khăn không nhỏ, thậm chí còn rất gay gắt. Là thành viên của WTO, chính sách lao động - việc làm và chất lượng nguồn nhân lực cũng phải điều chỉnh cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và tận dụng được những thuận lợi mới. Yêu cầu đồng thời là việc đảm bảo cho sự phát triển của hơn 70% dân số hiện nay ở nông thôn.  Trong điều kiện hội nhập, khả năng cạnh tranh của mỗi nước trước hết dựa vào chất lượng nguồn nhân lực, và khoa học công nghệ. Thế nhưng hiện nay Việt nam chưa có điều kiện và khả năng cải thiện mạnh mẽ chất lượng nguồn lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng. 

Trong vòng 5 năm nữa, nước ta cần kịp thời đưa ra được những cải cách thích hợp về phát triển về nguồn nhân lực, nếu không sức lao động dồi dào, nhân công rẻ, cần cù chỉ là lợi thế cấp thấp, sớm bị xói mòn. Thực trạng của nguồn lực lao động hiện nay, đặc biệt ở nông thôn, cho thấy Việt Nam khó có thể phát huy được lợi thế này.  Nông nghiệp và nông dân nước ta sẽ sản xuất trong điều kiện cạnh tranh rất khốc liệt ở quy mô toàn cầu. Thu nhập của những hộ nông dân hiện còn gắn chặt với nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm thấp do giảm nhu cầu về lao động phổ thông ở nông thôn.  Nếu tỷ trọng lao động thoát ly nông nghiệp chuyển sang hoạt động sản xuất công nghiệp dịch vụ tăng đủ nhanh để bù đắp số lượng lao động thuần nông thì tình trạng dư thừa  lao động sẽ không quá gay gắt. Song ngược lại, nếu không có những chính sách hỗ trợ hữu hiệu thì thu nhập hộ thuần nông sẽ suy giảm tuyệt đối lẫn tương đối so với các hộ phi nông dân thoát ly nông nghiệp, và so với lao động ở thành thị. Điều này tiếp tục làm gay gắt thêm bất bình đẳng trong xã hội.

Cần có những chính sách hỗ trợ tự do hóa thị trường lao động, khuyến khích, tạo điều kiện dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp và các khu vực khác của nền kinh tế, trước mắt thông qua việc đơn giản hoá, tiến tới loại bỏ hệ thống quản lý hộ khẩu hiện nay. Trong hệ thống này, lao động nông thôn không dễ dàng thay đổi nghề nghiệp hoặc nơi cư trú (trừ một số người có trình độ hoặc có tiền). Trên thực tế, cuốn sổ hộ khẩu vẫn phát huy tác dụng của nó trong việc hạn chế làn sóng di cư từ nông thôn ra thành thị và làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu thốn nhà ở cho lao động nhập cư.[7] Một vấn đề lớn đặt ra hiện nay là nhiều lao động nông thôn hầu như không còn lựa chọn nào khác là phải bám chặt với mảnh ruộng của mình với thu nhập ít ỏi, đặt ra một vấn đề lớn ở nông thôn hiện nay.

Trên bình diện chiến lược, chính sách, cần phải hy sinh bớt một số nỗ lực tăng trưởng trên cơ sở công nghiệp hoá nhanh để có thể dành kinh phí và sự chú ý đến những ngành nghề cần nhiều lao động phổ thông nhằm giảm thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp và an toàn việc làm. Cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo nghề, chăm sóc y tế ở khu vực nông thôn sẽ giúp giảm được rủi ro nghèo đói và giúp cho chuyển dịch cơ cấu lao động, ngành nghề, nâng cao năng suất lao động, kể cả khi lao động ở lại nông thôn. Đây không phải đơn thuần là mô hình tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh mà chính là chính sách đối với con người và phát triển bền vững. Ngay từ bây giờ, cần có chính sách giải quyết các vấn đề xã hội tại khu vực nông thôn như việc làm, bất bình đẳng giữa hai khu vực nông thôn và thành thị, lương hưu, bảo hiểm y tế, trợ cấp thất nghiệp, khoan sức dân thông qua việc cắt giảm thuế và các nghĩa vụ đóng góp,… Nếu như nhu cầu của nông dân không được ưu tiên xem xét, nếu như áp lực thu nhập và việc làm ở nông thôn không được đáp ứng thì xã hội sẽ phải gánh chịu nhiều hậu quả trong những năm tới.




* Viện Xã hội học

[1]  Tổng cục Thống kê.  Điều tra biến động dân số và Kế hoạch hoá gia đình 1/4/2005. NXB Thống kê, Hà nội, 2006.

 [2]  Huyền Ngân. Cần thấy nguy cơ mất sức cạnh tranh về chất lượng lao động. Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 58, ngày 23/3/2005.

[3] Trình độ nguồn nhân lực thể hiện bằng lao động có đào tạo nghề. Hiện nay, trình độ nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị.

 [4]  Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân. Quản lý nguồn nhân lực ở Việt nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2004

       [5]  Bộ LĐTB&XH.  Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006-2010.  Hà Nội,  2005

[6]  Nguyễn Sinh Cúc.  Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ Đổi mới (1986-2002). NXB Thống kê, Hà nội, 2003

 

 

[7]  Theo thống kê của Bộ Công An và qua phản ánh trên diễn đàn Quốc hội, hiện có tới 420 văn bản liên quan đến hộ khẩu và 6 bộ Luật có những điều khoản liên quan đến hộ khẩu. Dưới danh nghĩa nhằm mục đích quản lý cư trú, việc lạm dụng hộ khẩu như một điều kiện trong các thủ tục hành chính trên thực tế đã hạn chế quyền tự do cư trú và hoạt động sống của người dân.