THAY ĐỔI HỘ GIA ĐÌNH Ở MỸ

Linda A. Jacobsen và cộng sự

 


Số lượng hộ gia đình ở Mỹ tăng hơn 3 lần từ 35 triệu năm 1940 lên 117 triệu năm 2010. Mức tăng của hộ gia đình nhanh hơn mức tăng dân số trong thời gian này. Cùng với sự tăng trưởng về số lượng là sự chuyển đổi dần của cấu trúc hộ gia đình. Năm 1940, phần lớn (90%) số hộ gia đình có hai người trở lên, tỷ lệ này  giảm xuống 66% vào năm 2010.

Cấu trúc hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong kinh tế, phúc lợi xã hội, của các gia đình và cá nhân. Cơ cấu hộ gia đình cũng có tác động lớn hơn bằng cách tăng nhu cầu các dịch vụ hỗ trợ kinh tế và xã hội.  Ví dụ, gia tăng người già sống một mình có nhu cần cung cấp chăm sóc sức khỏe tại nhà và các dịch vụ hỗ trợ cá nhân khác.

Một hộ gia đình bao gồm những người cùng sống trong một đơn vị nhà ở, bất kể mối quan hệ của họ với nhau. Đã có những thay đổi đáng kể trong cơ cấu hộ gia đình Mỹ trong 70 năm qua và các hộ gia đình khác nhau về các đặc điểm quan trọng như chủng tộc, tuổi tác, dân tộc và giáo dục. Bài viết này phân tích các xu hướng chính trong các quá trình biến đổi xã hội dẫn đến thay đổi hộ gia đình, bao gồm kết hôn, ly hôn, sinh con ngoài giá thú; và xem xét những nhóm người sinh ra trong cùng một năm hoặc một thập kỷ (đoàn hệ sinh). Một số loại hộ và gia đình mới đang hình thành ở Mỹ nhằm thích nghi với những thay đổi của các hình thái xã hội, điều kiện kinh tế và luật hôn nhân.

Thay đổi cơ cấu hộ

Trước chiến tranh Thế giới thứ II, hơn 75% hộ gia đình tại Mỹ là các gia đình có cặp vợ chồng đã kết hôn. Năm 1940, các cặp vợ chồng kết hôn có con chiếm 43% các hộ gia đình, các cặp vợ chồng kết hôn không con chiếm 33% hộ gia đình, các hộ gia đình có cha mẹ đơn thân chỉ chiếm 4%, các loại khác chiếm 9%. Không lập gia đình chỉ có 10% trên cả nước Mỹ.


 

Bảng 1. Phân bố phần trăm hộ gia đình ở Mỹ theo loại hộ, 1940- 2010

Loại hộ

1940

1960

1980

2000

2010

Hộ gia đình

90,0

85,1

73,7

68,1

66,4

Cặp vợ chồng kết hôn có con

42,9

44,3

30,7

23,5

20,2

Cặp vợ chồng kết hôn không con

33,4

30,5

30,2

28,1

28,2

Cha mẹ đơn thân có con

4,3

4,1

7,2

9,2

9,6

Hộ gia đình khác

9,4

6,2

5,6

7,1

8,5

Hộ không gia đình

10,0

15,1

26,4

31,9

33,6

1 người

7,8

13,4

22,6

25,8

26,7

Hộ không gia đình khác

2,2

1,7

3,8

6,1

6,8

Theo: Văn phòng Tổng điều tra Hoa Kỳ, các Tổng điều tra từ 1940 đến 2010,

 


Định nghĩa về các loại hộ:

-  Một hộ được xác định gồm những người cùng sống trong một đơn vị nhà ở, không tính đến mối quan hệ của họ với những người khác.  

-  Một hộ gia đình gồm một người là chủ hộ và một hay nhiều người khác có quan hệ với chủ hộ qua hôn nhân, sinh đẻ hay nhận nuôi.

-  Một hộ không gia đình gồm một chủ hộ sống một mình hoặc sống với những người khác không có quan hệ họ hàng, như bạn cùng phòng hay một người khác chưa kết hôn.

Năm 1960, khi sự bùng nổ dân số sau chiến tranh kết thúc, các gia đình có cặp vợ chồng có con tăng nhẹ lên 44% của tất cả các loạt hộ gia đình, trong khi tỷ trọng của cặp vợ chồng đã kết hôn không có con đã giảm xuống 31%, các hộ gia đình có một người tăng vọt từ 8% lên 13%.

Đến năm 1980 - chỉ sau 20 năm - một sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu hộ gia đình đã xảy ra. Tỷ lệ hộ gia đình giảm xuống còn 74%, tỷ lệ hộ không gia đình tăng lên 26%. Tỷ lệ cặp vợ chồng kết hôn có con đã giảm xuống 31% - bằng tỷ lệ cặp vợ chồng kết hôn không có con - các hộ gia đình có một người đã tăng 10 điểm phần trăm, chiếm gần 1/4 tổng số hộ gia đình.

Từ năm 1980, tốc độ thay đổi đã chậm lại nhưng việc chuyển đổi cơ cấu hộ gia đình vẫn tiếp tục, đặc biệt giảm trong các cặp vợ chồng kết hôn có con và tăng các cặp sống chung hộ gia đình một người. Trong 20 năm tới, sự suy giảm của các gia đình đã kết hôn và có con sẽ tăng khi những người sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số đến tuổi nghỉ hưu.

Cặp vợ chồng kết hôn có con

Trong năm 2010, số cặp vợ chồng kết hôn lần đầu giảm xuống dưới 50% trong tổng số các hộ. Tuy nhiên, sự giảm này chủ yếu do giảm số các gia đình có cặp vợ chồng kết hôn. Ngày nay, chỉ có 20% tổng số hộ có cặp vợ chồng kết hôn có con, từ 44% năm 1960. Ngược lại, các hộ gia đình có cặp vợ chồng kết hôn không có con giảm từ 33% năm 1940 xuống 28% năm 2010. Tỷ trọng gia đình có cặp vợ chồng không có con vượt quá số tỷ trọng trẻ em sinh sau năm 1980, và số gia đình có cặp vợ chồng kết hôn có con thậm chí đến nay còn ít hơn số hộ gia đình một người.

Số cặp sống chung

Một trong những xu hướng không lập gia đình thúc đẩy sự gia tăng của các hộ có hai hay nhiều người sống chung mà không kết hôn. Năm 1970, hộ gia đình không kết hôn chiếm 1%, nhưng năm 2010 tăng lên 7%. Phần lớn thanh niên hiện nay sống chung, một nửa số kết hôn sau khi sống chung như vợ chồng. Tại Mỹ, hầu hết các cặp sống chung không kéo dài, hoặc chuyển sang kết hôn hoặc kết thúc sau vài năm. Trong Tổng điều tra dân số 2010, số hộ có các cặp không kết hôn tương đối nhỏ vì chỉ tính tại thời điểm điều tra.

Những hộ gia đình có các cặp chưa kết hôn cũng có xu hướng có con. Điều tra 2010 cho thấy gần 7 triệu cặp sống chung tại Mỹ và 40% có 1 hoặc nhiều con riêng dưới 18 tuổi - gần bằng tỷ trọng của các cặp vợ chồng kết hôn. Mặc dù trẻ em sống với cặp vợ chồng không kết hôn được hưởng lợi từ sự đóng góp kinh tế của 2 người, nhưng có xu hướng kém ổn định hơn và ít đảm bảo kinh tế hơn so với cặp vợ chồng kết hôn. Nghiên cứu cho thấy xu hướng này phổ biến ở những người có trình độ học vấn thấp. Văn hóa và xã hội Mỹ vẫn trông đợi vào thu nhập ổn định và đầy đủ trước khi kết hôn.

Phần lớn các cặp chưa kết hôn là những người khác giới, chỉ có 1% trong tất cả hộ gia đình là đồng giới. Theo khảo sát Cộng đồng Mỹ năm 2010, ước tính có 594.000 cặp đồng tính, trong đó một phần năm báo cáo có ít nhất một trẻ dưới 18 tuổi.

Sống một mình

Sự gia tăng nhanh hộ gia đình 1 người những năm 1960-1980 chủ yếu là do tăng số người già sống một mình. Đầu những năm 1900, hơn 70% người cao tuổi sống với người thân; nhưng năm 1980, tỷ lệ này chỉ còn 23%. Việc cải thiện sức khỏe và tài chính tạo điều kiện cho người cao tuổi sống một mình tốt hơn sống với người thân hoặc trong nhà điều dưỡng. Từ những năm 1940, tăng lợi ích an sinh xã hội đóng vai trò quan trọng trong phát triển cuộc sống độc lập của người cao tuổi. Trong giai đoạn 1960-1980, tỷ lệ phụ nữ 65 tuổi trở lên sống một mình tăng từ 23% lên 41%. Từ năm 1980 khi số dân 65 tuổi trở lên tăng, số người sống một mình cũng tăng.

Những khác biệt về tuổi trong cơ cấu hộ gia đình

Những người 25 tuổi sống một mình chiếm 22%, và sống với bạn cùng phòng không phải họ hàng chiếm 24%. 18% những người trẻ thường là chủ hộ gia đình có cha mẹ đơn thân hoặc những hộ khác. Những người trẻ, kết hôn muộn và là chủ các gia đình có kết hôn, có con hoặc không có con chiếm một tỷ trọng nhỏ. Trong cuộc sống, họ kết thúc học hành, và tham gia lực lượng lao động. Ở mức thu nhập thấp, nhiều thanh niên giảm chi tiêu bằng cách sống chung với họ hàng hoặc bạn cùng phòng. Việc sống chung cũng phổ biến ở giai đoạn này, nhưng khó xác định bởi các cặp không kết hôn bao gồm cả không lập gia đình hoặc cha mẹ đơn thân nếu họ có con. Khi thanh niên bước vào hôn nhân và tham gia giai đoạn hình thành gia đình ở độ tuổi 25-44, cấu thành hộ gia đình thay đổi đáng kể. Điều này phản ánh sự tăng nhanh tỷ trọng các cặp kết hôn có con và giảm mạnh các hộ không kết hôn. Có một sự thay đổi đáng kể khác trong cấu thành hộ gia đình của những người ở độ tuổi 45-64, hơn một nửa các hộ trong nhóm tuổi này vẫn là các hộ có cặp kết hôn, nhưng các cặp vợ chồng không có con cái chiếm ưu thế. 


 

Bảng 2. Phân bố phần trăm hộ gia đình ở Mỹ theo tuổi của chủ hộ, 1940- 2010

Loại hộ

Tuổi của chủ hộ

1940

1960

1980

2000

2010

Tổng

<25

25-44

45-64

65+

Cặp vợ chồng kết hôn có con

20

10

38

15

1

Cặp vợ chồng kết hôn không con

29

7

12

39

44

Cha mẹ đơn thân có con

9

18

19

5

0,4

Gia đình khác

8

18

5

10

9

1 người

27

22

18

27

44

Không gia đình khác

6

24

8

4

2

Nguồn: Văn phòng Tổng điều tra Hoa Kỳ, các Tổng điều tra 1940 - 2010.

 


Khác biệt về dân tộc

Trong năm 2012, khoảng 9% các hộ gia đình trên toàn quốc do cha mẹ đơn thân có con làm chủ hộ. Tuy nhiên, trong số những hộ gia đình người Mỹ gốc Phi, con số này tăng lên 19% và trong các hộ người Mỹ La tinh tỷ lệ này là 17%. Cha mẹ đơn thân, nhất là đối với các bà mẹ đơn thân phải đối mặt với những thách thức lớn để cân bằng công việc và trách nhiệm gia đình, họ có tỷ lệ nghèo cao hơn so với các cặp kết hôn. Năm 2011, hơn một nửa số trẻ em (54%) trong các gia đình do phụ nữ làm chủ hộ, nhưng tỷ lệ cha mẹ đơn thân chưa bao giờ kết hôn đang tăng lên.

Năm 2012, 31% các hộ gia đình người Mỹ gốc Á và 29% hộ gia đình Mỹ La tinh và kết hôn có con so với 20% của các hộ gia đình trên toàn quốc. Tỷ lệ cao hơn này phản ánh cơ cấu tuổi trẻ hơn của các nhóm người Mỹ gốc Á và La tinh. Trong nhóm Mỹ La tinh, kết hôn và có thai sớm thường xảy ra trước tuổi 25 - một yếu tố góp phần vào tỷ lệ cao của các gia đình có con.

Sự khác biệt về giáo dục

Những người có bằng cấp đại học có thu nhập cao hơn so với những người chưa học đại học. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của giáo dục vượt ra ngoài vấn đề kinh tế, ảnh hưởng đến quyết định hôn nhân và cơ cấu hộ gia đình. Năm 2012, con cái của những cha mẹ đơn thân thường được học hành ít nhất, trong khi con cái của các cặp đã kết hôn, có hoặc không con, thường có trình độ thấp nhất là cử nhân. Những người có trình độ giáo dục thấp ngày càng thích lựa chọn cách sống chung. Trong số những người kết hôn, người có giáo dục thấp có ít khả năng duy trì hôn nhân so với những người học đại học.

Những tác động dẫn đến thay đổi cơ cấu hộ gia đình

Tăng tuổi kết hôn 

Hôn nhân đã từng là một hiện tượng phổ biến ở Mỹ. Ước tính vào giữa những năm 1960, tỷ lệ kết hôn 80% hoặc cao hơn ở những người 25-34 tuổi. Tuy nhiên, ngày càng nhiều người trẻ trì hoãn kết hôn sinh đẻ muộn hơn. Điều này báo hiệu sự thay đổi lớn trong mô hình gia đình so với các thế hệ trước. Tỷ lệ kết hôn giảm mạnh kéo dài trong thập kỷ qua. Năm 2012, chỉ có 46% những người 25-34 tuổi kết hôn, giảm từ 55% vào năm 2000.

Năm 1890, tuổi kết hôn trung bình là 26 đối với nam và 22 đối với phụ nữ. Tuổi kết hôn giảm trong quá trình công nghiệp hóa nhanh đã xảy rathế kỷ 20. Tiền công lao động tăng lên và nam giới trẻ có thể bắt đầu lập gia đình. Đến năm 1956, trong thời gian cao điểm của sự bùng nổ dân số, tuổi kết hôn trung bình đã giảm xuống còn 22,5 ở nam và 20,1 ở nữ. Tuy nhiên, độ tuổi kết hôn tương đối trẻ trong thời gian bùng nổ dân số được xem như là một bất thường. Kể từ giữa những năm 1960, tuổi kết hôn đã tăng đều cả nam và nữ. Đến năm 2011, độ tuổi trung bình kết hôn lần đầu đã đạt 28,7 đối với nam và 26,5 đối với nữ. Nếu xu hướng này tiếp tục, tỷ trọng nam và nữ trì hoãn hôn nhân cho đến 30 tuổi sẽ tăng, dẫn đến giảm thời gian của cuộc sống hôn nhân.

Thay đổi thế hệ trong xu hướng hôn nhân ở Mỹ

Việc tăng tuổi kết hôn đi kèm với tỷ trọng tăng những người trẻ tuổi chưa bao giờ kết hôn. Trong khảo sát năm 2010, 39% người Mỹ nói rằng họ cảm thấy hôn nhân trở nên lỗi thời, so với 28% năm 1978. Các nghiên cứu trước đây dự đoán rằng 90% người trưởng thành sẽ kết hôn, nhưng điều này là quá lạc quan với xu hướng giảm kết hôn ở người trẻ tuổi. Trong số những phụ nữ sinh năm 1945 - những người lớn lên trong thời kỳ bùng nổ dân số ở Mỹ - khoảng 86% đã kết hôn ở độ tuổi 25. Năm 1985, trong số phụ nữ sinh ra 40 năm sau, chỉ có 41% kết hôn ở  tuổi 25. Tỷ lệ này giảm xuống 35% trong số phụ nữ sinh ra chỉ hai năm sau đó, năm 1987.

Tỷ lệ ly hôn giảm

Ly hôn là một yếu tố chính tạo tạo nên những thay đổi lâu dài trong cơ cấu hộ gia đình ở Mỹ. Sự gia tăng tỷ lệ ly hôn trong những năm 1960 và 1970 đã góp phần tăng tỷ lệ gia đình cha mẹ đơn thân và làm giảm tỷ lệ các cặp vợ chồng kết hôn, tỷ lệ ly hôn đã giảm từ năm 1980. Tỷ lệ ly hôn hiện tại (3,6 vụ/1.000 dân) thấp hơn đáng kể so với lúc đỉnh điểm vào cuối những năm 1970 (5,5 vụ/1.000 dân). Nhìn qua các thế hệ, phụ nữ sinh ra trong những năm 1950 ly dị nhiều hơn so với các nhóm sau này. Khoảng 25% phụ nữ sinh ra trong những năm 1950 đã từng ly hôn ở độ tuổi 35, so với 22% phụ nữ sinh ra cuối những năm 1960. Thống kê ly hôn có thể bị sai lệch do tỷ lệ ly hôn phụ thuộc vào tỷ lệ kết hôn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã thấy sự suy giảm tương tự tỷ lệ ly hônphụ nữ đã từng kết hôn.

Ít con hơn

Phụ nữ ít con hơn tỷ lệ vô sinh tăng lên. Gần đây tỷ lệ sinh đẻ giảm tại Mỹ, khoảng 1,9 con/phụ nữ, có liên quan đến mất việc làm và suy thoái kinh tế. Các đoàn hệ phụ nữ sinh ra trong những năm 1930 và 1940 đã giảm mạnh nhóm từ 4 con trở lên, trong khi nhóm hai con mô hình phổ biến. Tỷ lệ phụ nữ không có con, một con, hoặc ba con chiếm khoảng 19% mỗi nhóm.

Sinh con ngoài hôn nhân

Trong năm 2010, 41% ca sinh do cha mẹ chưa kết hôn, tăng từ 33% năm 2000. Tỷ lệ sinh con ngoài hôn nhân tăng phụ nữ độ tuổi 20, tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi 30 sinh con ngoài hôn nhân cũng chỉ tương tự so với trước đây nhiều thập kỷ. Trong năm 2010, khoảng 63% các ca sinhphụ nữ 20-24 tuổi xảy ra ngoài hôn nhân.

Trong những năm gần đây, tỷ lệ sinh con ngoài hôn nhân khác nhau ở các cặp có trình độ giáo dục thấp, nhóm dân tộc thiểu số. Trong số người Mỹ gốc Phi, 72% ca sinhngoài hôn nhân, so với 65% ở người da đỏ châu Mỹ, 56% Mỹ La tinh, 36% người da trắng, 17% người Mỹ gốc Á. Ước tính rằng một nửa các trẻ sinh ra ngoài hôn nhân của các cặp sống chung.

Kết luận

Những thay đổi đáng kể hình thành "gia đình" và "hộ gia đình" ảnh hưởng đến hạnh phúc của mọi người. Hôn nhân có liên quan nhiều đến lợi ích của gia đình và cá nhân, bao gồm thu nhập cao hơn, sức khỏe tốt hơn, và tuổi thọ dài hơn. Một lý do của những lợi ích này là những người có thu nhập cao và sức khỏe tốt hơn được "lựa chọn" vào hôn nhân, dẫn đến kết quả tốt hơn cho các cặp vợ chồng kết hôn. Tuy nhiên, hầu hết các nhà nghiên cứu nhất trí rằng hôn nhân cũng có tác động độc lập và tích cực tới hạnh phúc. Sự khác biệt về tỷ lệ kết hôn của các nhóm dân tộc cũng góp phần vào bất bình đẳng trong thu nhập và sự nghèo đói của các thế hệ.

Tỷ lệ kết hôn giảm nhiều đặt trẻ em trước nguy cơ lớn lên trong nghèo khó, có thể gây những hậu quả lâu dài cho sức khỏe và đời sống kinh tế trong tương lai. Trong năm 2010, sinh con ngoài hôn nhân chiếm 41% tại Mỹ. Mặc dù gần một nửa trong số những ca sinh ngoài hôn nhân các cặp sống chung, các cặp này có ít nguồn lực kinh tế hơn so với cặp kết hôn. Ngoài ra, trong số những phụ nữ có trình độ học vấn thấp, sống chung có con với nhiều đối tác tạo ra các mối quan hệ anh, chị, em ruột phức tạp và gia đình không bền vững. Trợ giúp kinh tế và tham gia nuôi dạy con cái của những người bố rất khác nhau khi họ chia tay. Các nghiên cứu đã chỉ ra những hậu quả tiêu cực đối với trẻ em, bao gồm các vấn đề về hành vi khó khăn trong quan hệ với bạn bè ở trường học.

Minh Châu- Ngọc Diệp

Nguồn: Population Reference Bureau,

Population Bulletin, No.1, 2012.


 

Liên kết