KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỊ THÀNH NIÊN/THANH NIÊN PHÚ YÊN

                                                       

                                                                                    ThS. Đỗ Thị Như Mai*

 


Nhằm tìm hiểu các đặc điểm và các vấn đề về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục (SKSS/SKTD) của vị thành niên và thanh niên (VTN/TN) tỉnh Phú Yên, Chi Cục DS-KHHGĐ Phú Yên đã tiến hành một điều tra với 784 VTN/TN ở 112 xã, phường, thị trấn của tỉnh.

Kết quả nghiên cứu

1.                Tuổi có kinh và xuất tinh lần đầu

Nguồn thông tin chia sẻ lớn nhất đối với VTN/TN Phú Yên là người thân trong gia đình (43,1%), kế đến là bạn bè (36,5%). Mặc dù trong trường học đã triển khai chương trình giáo dục SKSS VTN/TN cho học sinh từ nhiều năm, nhưng các em vẫn rất ngại chia sẻ vấn đề này với thầy cô giáo (1,3%). Điều cũng cần quan tâm là số VTN/TN còn e ngại, không chia sẻ với ai chiếm tới một phần tư (26%).

2.                Sức khỏe tình dục

Quan hệ tình dục lần đầu và trước hôn nhân

Tuổi quan hệ tình dục lần đầu trung bình đối với toàn mẫu là 20,1 tuổi (nam 20,8 tuổi và nữ 19,6 tuổi), so với SAVY 2 là 18,1 tuổi (nam là 18,2 tuổi và nữ là 18 tuổi) trong khi tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 21,3 tuổi (nam 21,7 tuổi và nữ 21,1 tuổi). Điều này cho thấy những giá trị truyền thống vẫn được nam nữ VTN/TN Phú Yên tôn trọng. Trong số VTN/TN đã từng có quan hệ tình dục, quan hệ tình dục trước hôn nhân chiếm tỷ lệ 15,4%, nam cao gần gấp đôi nữ (21,3% so với 11%) và đa số là quan hệ tình dục trước hôn nhân với người sau này là vợ/chồng mình (72,7%). Trong số người quan hệ tình dục trước hôn nhân, có 0,7% (là nữ) bị xâm hại tình dục

Chỉ có 16,1% nam nữ thanh niên quan hệ tình dục lần đầu có sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT), trong đó chủ yếu là bao cao su (82,6%), viên tránh thai khẩn cấp (13,1%) và xuất tinh ngoài âm đạo (4,3%). Lý do không sử dụng BPTT trong lần QHTD lần đầu cao nhất là do không muốn dùng BPTT (45%), tiếp đến là bạn tình không thích sử dụng (13,5%), không định quan hệ lúc đó (12,6%). Không biết cách sử dụng hoặc không biết tìm BPTT ở đâu chỉ chiếm 1,8%.

Quan niệm về tình dục trước hôn nhân

Phần lớn thanh niên Phú Yên không ủng hộ quan hệ tình dục trước hôn nhân. Chỉ có 8% VTN/TN chấp nhận có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân, không chấp nhận là 60,2% và còn đắn đo là 31%. Tuy nhiên, họ cho rằng thanh niên có thể quan hệ tình dục trước hôn nhân trong một số điều kiện như khi hai người tự nguyện (21,7%), hai người yêu nhau (16,8%), hai người sắp cưới (20,5%), lường trước được hậu quả hay biết tránh thai (18,1%). Thanh niên ở đô thị có tỷ lệ chấp nhận cao hơn ven biển và nông thôn (12,9% so với 10,1% và 5,9%). Mức độ chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân ở nam cao hơn nữ (9,2% so với 6,9%). Tuổi càng cao thì có thái độ cởi mở về vấn đề này càng lớn, nhóm 14-17 tuổi là 4,1%, tiếp đến là nhóm tuổi 18-21 và  nhóm 22-25 tuổi tương ứng là 12,2% và 16,4%. Sự khác biệt theo tuổi về thái độ đối với quan hệ tình dục trước hôn nhân ở đây cũng tương đồng với xu hướng của điều tra SAVY2 và được lý giải rằng ở nhóm tuổi 14-17 còn quá trẻ để nghĩ đến quan hệ tình dục và có lẽ nhóm này đang chịu ảnh hưởng nhiều hơn của giáo dục trong nhà trường và gia đình. Ở các nhóm tuổi lớn hơn, thanh thiếu niên có nhu cầu tình dục mạnh mẽ hơn, có khoảng thời gian có nguy cơ quan hệ tình dục dài hơn, nhiều người trong số họ đã từng có quan hệ tình dục nên họ cũng dễ chấp nhận chuyện quan hệ tình dục trước hôn nhân hơn.

Mại dâm

Trong khảo sát này, số người có quan hệ tình dục với người bán dâm rất thấp (0,7%), so với SAVY 2 là 3,2% và khi quan hệ tình dục với gái mại dâm đều có sử dụng bao cao su. Đây là dấu hiệu tốt vì giới trẻ Phú Yên  ngày nay đã có ý thức về tình dục an toàn.


 

Bảng 1. Thái độ của VTN/TN đối  với mại dâm

 

Thái độ

Đồng ý

(%)

Không đồng ý (%)

Không có ý kiến (%)

Bán dâm là không tốt nhưng có khi phải làm do hoàn cảnh bắt buộc

53,7

29,5

16,8

Bán dâm có xấu hay không tùy thuộc vào cách nghĩ của từng người

34,2

40,7

25,1

Bán dâm là vô đạo đức

23,0

41,7

35.3

 


Tình dục đồng giới

Thanh thiếu niên Phú Yên hiểu biết hạn chế về đồng tính. Trong khi tỷ lệ thanh thiếu niên biết về đồng tính ở SAVY2 là 63%, ở Phú Yên tỷ lệ này là 39,4%, (39,8% nam và 39% nữ). Thanh thiếu niên sống ở thành thị biết về đồng tính ít hơn thanh thiếu niên sống ở nông thôn và ven biển: 34,4% so với 40,1%. Điều này có thể do tác động của Dự án Giới và Phòng chống HIV/AIDS ở vùng nông thôn, ven biển Phú Yên do Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED) hỗ trợ). Hiểu biết về đồng tính tăng theo nhóm tuổi, nhóm biết cao nhất cũng là nhóm cao tuổi nhất, 22-25 tuổi với tỷ lệ là 52%, giảm xuống còn 48,3% ở nhóm từ 18-21 tuổi và kế tiếp là nhóm 14-17 tuổi với 33,9% và thấp nhất là nhóm dưới 14 tuổi (24,8%). Điều này cũng tương tự với kết quả của SAVY2 là càng ở nhóm cao tuổi, hiểu biết về đồng tính càng cao hơn.

Tỷ lệ thanh thiếu niên chấp nhận có người bạn có quan hệ tình dục đồng giới không cao (chỉ có 5,8%), số không chấp nhận là 82,2% và số không biết là 12,0%. Việc chấp nhận bạn có quan hệ tình dục đồng giới ở thành thị cao hơn các vùng nông thôn và ven biển (tương ứng các tỷ lệ này là 9,4% so với 6,2% và 4,0%). Giữa nam và nữ  tỷ lệ này có sự khác biệt đáng kể với tỷ lệ nữ chấp nhận gấp đôi nam (7.8% so với 3,8%). Về nhóm tuổi, nhóm 18-21 có tỷ lệ chấp nhận bạn đồng tính cao nhất 10,3% so với nhóm tuổi 22-25 và 14-17 tuổi là 5,1% và 4,3%. Những dữ liệu trên cho thấy sự phân biệt của cộng đồng với tình dục đồng giới vẫn còn rất lớn, khiến nhóm người này không dám lộ diện làm cho các vấn đề liên quan đến tình dục đồng giới càng thêm phức tạp và đưa đến những hậu quả khó lường.

3.                Sức khỏe sinh sản

Mang thai, nạo phá thai

17,1% nữ thanh niên có quan hệ tình dục đã từng nạo hút thai, chủ yếu là nữ thanh niên đã có gia đình và không muốn sinh con ngoài ý muốn. 47,5% VTN/TN Phú Yên tìm hiểu về tuổi dậy thì/kinh nguyệt/ mộng tinh, xuất tinh lần đầu. 16,5% tìm hiểu về mang thai/KHHGĐ/các biện pháp tránh thai; 18,2% tìm hiểu về tình dục; 41,1% tìm hiểu về tình yêu và 22,8% về hôn nhân. Nữ VTN tìm hiểu nhiều hơn nam VTN và tuổi càng cao tìm hiểu nhiều hơn lứa tuổi nhỏ.

Tránh thai

Hơn một nửa VTN/TN biết đến các biện pháp phổ biến như vòng tránh thai (56,1%), thuốc uống (60,3%), bao cao su (73,6%), các biện pháp khác có tỷ lệ biết ít hơn đáng kể như thuốc tiêm (38,3%), viên tránh thai khẩn cấp (19,8%), xuất tinh ngoài âm đạo (20,3%), tính vòng kinh (12,8%), que cấy tránh thai (13,8%).

Có sự khác biệt rõ nét giữa các vùng trong việc biết đến các BPTT. Theo SAVY 2, ở thành thị tỷ lệ biết về các BPTT thai cao hơn ở nông thôn, ở nông thôn tỷ lệ biết cao hơn ở các vùng ven biển ở tất cả các biện pháp. Thế nhưng ở Phú Yên thì ngược lại, thanh thiếu niên vùng ven biển lại có tỷ lệ biết về các BPTT cao nhất, nông thôn và thành thị có tỷ lệ không chênh lệch nhau mấy. Ở hầu hết các biện pháp, tỷ lệ nữ thanh thiếu niên biết đều cao hơn nam. Với vòng tránh thai, nữ so với nam là 62,8% so với 49,5%; thuốc uống tránh thai 66,3% so với 54,3%; bao cao su 75% so với 72,2%; thuốc tiêm tránh thai 43,4% so với 33,2%; viên tránh thai khẩn cấp 20,4% so với 19,1%; xuất tinh ngoài âm đạo 19,1% so với 21,4%; tính vòng kinh 16,6% so với 8,9%; que cấy tránh thai 17,6% so với 10%.

Đối với những người đã lập gia đình, biện pháp tránh thai được dùng nhiều nhất là đặt vòng (39,4%), tiếp đến là dùng bao cao su (22,7%), thuốc uống tránh thai chiếm 14,4%, biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo chiếm 3,8% và tính vòng kinh là 0,8%. Theo nhận định của những người đã có gia đình, các BPTT được cung cấp chủ yếu từ cộng tác viên dân số (CTV) (81,1%), trạm y tế xã/phường (74,2%), bệnh viện (45,5%), trung tâm SKSS-KHHGĐ (43,9%), đội lưu động (41,7%), nhà thuốc tư nhân (34,8%). Như vậy hiện nay kênh chủ yếu để cung cấp phương tiện tránh thai vẫn ở cấp cơ sở, đội ngũ CTV và trạm y tế xã/phường vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp các phương tiện này.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục

 Trong số những bệnh lây truyền qua đường tình dục được đưa ra, tỷ lệ thanh thiếu niên biết về các bệnh như sau: bệnh lậu  60,3%, bệnh giang mai  55,9%, bệnh viêm gan B  42,6%, bệnh nấm Clamidia 13,9%, bệnh sùi mào gà 12,1%, các bệnh như trùng roi, mụn rộp, hạ cam tỷ lệ rất thấp (từ 2 – 8%). Ở tất cả các loại bệnh, nhóm tuổi cao hơn đều có tỷ lệ biết về các bệnh lớn hơn. Có sự chênh lệch đáng kể giữa các các khu vực về tỷ lệ biết các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Ở khu vực đô thị tỷ lệ biết cao hơn khu vực nông thôn, khu vực ven biển có tỷ lệ biết thấp nhất về tất cả các bệnh được đưa ra. Ở một số bệnh tỷ lệ nữ biết cao hơn nam như bệnh nấm Clamidia 15,6% nữ so với 12,2% nam, bệnh sùi mào gà 12,5% so với 11,7%, bệnh trùng roi 8,9% so với 6,9%. Kết quả trên cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên biết về các bệnh lây truyền qua đường tình dục không cao.

HIV/AIDS

Hiểu biết về con đường lây nhiễm

Tuyệt đại đa số VTN/TN Phú Yên đã từng nghe nói đến HIV/AIDS (94,4%), trong đó nam biết đến HIV/AIDS là 93,8% và tỷ lệ này ở nữ là 94,9%. Tỷ lệ này ở vùng biển cao nhất: 95,1%, kế đến là nông thôn: 94,1% và khu vực thành thị chỉ chiếm 93,5%. Tỷ lệ VTN/TN của các dân tộc nghe nói đến HIV/AIDS cũng khá cao: 85,1% so với người kinh là 95,9%. Những con đường lây truyền được biết đến nhiều nhất là lây truyền từ mẹ sang con (92,2%); dùng chung bơm kim tiêm với người có HIV (89,2%); truyền máu không an toàn (86,5%), quan hệ tình dục có biện pháp bảo vệ qua đường âm đạo (84,1%), thấp nhất là quan hệ tình dục không có biện pháp bảo vệ qua hậu môn (29,6%). Ngoài ra vẫn còn một bộ phận thanh niên cho rằng con đường lây truyền HIV/AIDS qua vết muỗi, côn trùng (6,2%), qua đường hô hấp (3,4%), ăn uống chung bát đĩa (2,0%). Mặc dù tỷ lệ lựa chọn các đường lây truyền chưa đúng không cao nhưng nó thể hiện phần nào sự hiểu biết chưa đầy đủ về việc lây truyền, đây có thể là nguyên nhân của sự định kiến với những người có HIV.

     4. Ước mơ và hoài bão

Cuộc điều tra đưa ra 4 nhận định về tương lai liên quan đến gia đình, công việc và thu nhập. Phần lớn các nhận định chưa có thái độ lạc quan, các phương án trả lời có tỷ lệ từ gần 60-75%. Thanh niên có xu hướng lạc quan về một gia đình hạnh phúc cao nhất (74,4%), tiếp đến là sẽ có một công việc ham thích (70,3%), có cơ hội để làm điều bạn muốn chiếm 59,4%, và có thu nhập cao để sống thoải mái chiếm 58,9%. Không có sự khác biệt đáng kể về giới tính với những nhận định này. Thanh thiếu niên ở khu vực đô thị có tỷ lệ trả lời hoàn toàn đồng ý với cả 4 phương án cao hơn tỷ lệ thanh thiếu niên ở ven biển và nông thôn. Xét theo nhóm tuổi, nhóm tuổi 22-25 có số trả lời hoàn toàn đồng ý về ước mơ có một gia đình hạnh phúc trong tương lai và có một công việc yêu thích lại thấp hơn nhóm tuổi 18-21. Có thể do nhóm này đã lập gia đình nhiều hơn và đã có việc làm nên sẽ thực tế hơn nhóm tuổi 18-21 hiện đang còn đi học, nhóm tuổi 14-17 có tỷ lệ hoàn toàn đồng ý thấp nhất.


 

Bảng 2. Tỷ lệ (%) hoàn toàn đồng ý với các nhận định

 lạc quan theo giới, khu vực và nhóm tuổi

 

Nhận định

Giới tính

Khu vực

Nhóm tuổi

 

Nam

 

Nữ

Thành thị

Nông thôn

Ven biển

 

14-17

 

18-21

 

22-25

Có một gia đình hạnh phúc trong tương lai

73,2

75,5

76,3

74,8

72,9

70,5

81,7

76,3

Có công việc mà bạn thích

68,1

72,4

68,8

71,4

68,8

69,9

75,0

64,5

Có cơ hội để làm điều bạn muốn

58,9

59,9

62,4

58,3

60,3

58,4

58,9

59,2

Có thu nhập cao để sống thoải mái

57,4

60,5

63,4

57,4

59,9

56,3

59,4

62,5

 


5. Các yếu tố xã hội tác động đến VTN/TN

Ở lứa tuổi thanh thiếu niên, bạn bè có vai trò ảnh hưởng không nhỏ đến suy nghĩ, tình cảm, thậm chí cả lối sống. Có 75,8% VTN/TN có chơi với một nhóm bạn, trong đó có 21,7% là tất cả hoặc đa số là nam, 19,9% là tất cả hoặc đa số là nữ và  34,2% là nửa nam nửa nữ.

Khảo sát có đưa ra các phương án đề cập đến các vấn đề xã hội mà bạn bè của thanh thiếu niên có khả năng rủ rê, ép buộc làm. Kết quả cho thấy tuyệt đại đa số các câu trả lời đều là không rủ rê/ép buộc ở tất các phương án. Tuy vậy cũng đáng lưu ý một tỷ lệ trả lời bạn bè rủ rê/ép buộc như sau: Việc uống rượu có tỷ lệ được coi là có nhiều bạn bè rủ rê/ép buộc hơn cả (15,9%), tiếp đến là hút thuốc (13,0%), xem phim ảnh, sách báo khiêu dâm (9,6%), gây rối (6,9%), quan hệ tình dục trước hôn nhân (5,4%), thuốc lắc (5,2%), quan hệ tình dục với gái mại dâm (5,1%), sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục (4,8%), ma túy (4%), đánh bạc (3,6%). Ở những phương án như uống rượu, hút thuốc, xem phim ảnh khiêu dâm, đánh bạc, sử dụng BPTT khi quan hệ tình dục, tỷ lệ nam cho biết có bạn rủ rê cao hơn nữ và ở lứa tuổi cao hơn có tỷ lệ lựa chọn này cũng cao hơn nhóm ít tuổi hơn.

Cũng với các phương án đưa ra như trên nhưng câu hỏi là bạn của bạn có động viên bạn tránh không, kết quả thu được như sau:


Bảng 3. Tỷ lệ % bạn bè động viên tránh các hành vi

Hành vi

% bạn bè động viên tránh

Hút thuốc

64,1

Uống rượu

60,8

Dùng thuốc lắc

56,9

Xem phim, ảnh, sách báo khiêu dâm

56,6

Quan hệ tình dục trước hôn nhân

56,6

Thử  dùng ma túy

55,9

Gây rối

57,2

Quan hệ tình dục với gái mại dâm

53,7

Sử dụng BPTT khi quan hệ tình dục

49,5

Đánh bạc

56,4

Khác

10,8

 


Nhìn chung, tỷ lệ bạn bè khuyên tránh ở các phương án không có sự chênh lệch đáng kể, trong đó phương án khuyên tránh hút thuốc có tỷ lệ cao nhất 64,1% và thấp nhất là 49,5% với phương án sử dụng BPTT khi quan hệ tình dục.

Quan niệm sống đôi khi thể hiện xu hướng hành động của con người trong hoàn cảnh nhất định nào đó, tìm hiểu quan điểm của thanh thiếu niên về các hiện tượng xã hội, kết quả thu được như sau:


 

Bảng 4. Quan điểm của thanh thiếu niên về một số vấn đề xã hội (%)

 

Hiện tượng

Chấp nhận

Không chấp nhận

Tùy hoàn cảnh

Không ý kiến

Nam và nữ sống chung không cần đăng ký

10,1

59,3

11,2

19,4

Phụ nữ không lấy chồng nhưng có con

8,8

48,7

20,5

21,9

Sống độc thân

5,5

46,0

19,6

28,8

Quan hệ tình dục đồng giới

2,4

65,7

4,5

27,4

Nếu chồng xa vợ nhiều ngày, chồng có thể QHTD với người phụ nữ khác

2,0

60,1

8,3

29,6

Nếu vợ xa chồng nhiều ngày, vợ có thể QHTD với người đàn ông khác

1,9

63,1

6,6

28,4

Ngày nay không nhất thiết phải sinh con trai

53,7

18,9

6,4

20,9

 


Số liệu Bảng 4 cho thấy quan điểm “ngày nay không nhất thiết phải sinh con trai” có tỷ lệ chấp nhận cao nhất (53,7%), tiếp đến là quan điểm về nam và nữ sống chung không cần đăng ký có tỷ lệ chấp nhận là 10,1%, các quan điểm khác có tỷ lệ chấp nhận tương đối thấp, dưới 10%. Ở mức độ không chấp nhận rơi chủ yếu vào quan điểm quan hệ tình dục đồng giới (65,6%) và các vấn đề có liên quan đến hôn nhân, có 60,1% không chấp nhận quan điểm nếu chồng xa vợ nhiều ngày, chồng có thể QHTD với người phụ nữ khác, ngược lại với vợ quan điểm không chấp nhận là 63,1%. Với quan điểm tùy hoàn cảnh thì quan điểm phụ nữ không lấy chồng nhưng có con và sống độc thân chiếm tỷ lệ cao hơn cả, tương ứng là 20,5% và 19,6%.

Như vậy có thể thấy quan niệm về sự chung thủy vợ chồng vẫn được đại đa số thanh thiếu niên coi trọng. Tuy quan điểm phải sinh con trai chỉ chiếm tỷ lệ 18,9%, nhưng ý kiến tùy theo hoàn cảnh (6,4%) và không trả lời/không có ý kiến (20,9%) sẽ là thách thức cho công tác DS-KHHGĐ của Phú Yên trong tương lai về quan niệm phải có con trai trong giới trẻ hiện nay. Quan điểm sống độc thân và phụ nữ không lấy chồng mà có con được thanh thiếu niên dễ chấp nhận hơn trong những hoàn cảnh thích hợp.

Khuyến nghị

- Cha mẹ hơn ai hết là người gần gũi con em mình hơn cả, cha mẹ ngoài việc chăm lo học hành, giáo dục thì cũng cần tăng cường trao đổi, chuyện trò với con em mình về các vấn đề liên quan đến tâm sinh lý lứa tuổi. Cha mẹ tăng cường phối hợp với nhà trường để trao đổi, nắm bắt thông tin về tình hình của con cái để cùng giáo viên, nhà trường mang lại cho các em những điều tốt đẹp nhất.

- Rất nhiều thông tin về kỹ năng sống, về sức khoẻ sinh sản, sức khỏe tình dục...mà thanh thiếu niên biết được thông qua nhà trường. Tuy nhiên để phát huy hơn nữa lợi thế này, nhà trường cần tăng cường giáo dục kỹ năng sống, dành nhiều thời gian và tạo điều kiện để cung cấp thông tin cặn kẽ về những vấn đề của tuổi mới lớn như tình yêu, tình dục, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân; tăng cường hoạt động ngoại khoá liên quan đến SKSS/SKTD.

- Đối với hoạt động của địa phương, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác của ngành dân số, y tế. Các hình thức thành lập câu lạc bộ sinh hoạt theo chủ đề, diễn đàn, hoạt động vui chơi kết hợp với tìm hiểu kiến thức về SKSS/SKTD cần tăng cường hơn nữa. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đối tượng chính hướng đến là vị thành niên, thanh niên nhưng cộng đồng nói chung vẫn được coi là đối tượng gián tiếp, một cộng đồng hiểu biết sẽ giúp các em tham gia tích cực và cùng tuyên truyền hiệu quả hơn đối với các em.



* Phó Chi Cục trưởng Chi Cục DS-KHHGĐ Phú Yên.

 

Liên kết