THỰC HIỆN THỐNG KÊ CHUYÊN NGÀNH

DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH (Phần 1)

 

ThS. Phạm Minh Sơn*


Ngành Dân số-Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) từ khi thành lập cơ quan chuyên trách đã quan tâm chỉ đạo xây dựng Hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ để phục vụ quản lý nhà nước công tác DS-KHHGĐ. Công tác thống kê chuyên ngành (TKCN) đã được từng bước xây dựng và hoàn thiện. Các số liệu thống kê về sinh, chết, di cư, tình hình thực hiện các biện pháp tránh thai…là những dữ liệu quan trọng giúp đánh giá, nhận định, dự báo tình hình, hoạch định chính sách, chiến lược, xây dựng kế hoạch để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia DS-KHHGĐ.

Công tác TKCN đã trải qua một số giai đoạn sau:

1. Giai đoạn 1992-1997

Năm 1991, Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ được thành lập, hình thành hệ thống Uỷ ban DS-KHHGĐ cấp tỉnh và huyện; cấp xã có Ban DS-KHHGĐ và có cán bộ chuyên trách (CBCT). Mạng lưới cộng tác viên (CTV) DS-KHHGĐ tại thôn, bản ra đời và phát triển.

Trước yêu cầu cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ do “Thống kê dân số không chính xác”, dẫn đến mục tiêu, kế hoạch, giải pháp đề ra thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn, trong hai năm 1994-1995 trên cơ sở Dự án "Xây dựng Hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ" với nguồn lực trong nước, Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ đã từng bước triển khai hệ thống thu thập thông tin và báo cáo thống kê số liệu trên quy mô toàn quốc.

Cơ sở triển khai công tác TKCN DS-KHHGĐ trong giai đoạn này là Quyết định 138/UB-QĐ ngày 10/11/1994 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ. Việc thực hiện gồm 4 cấp: Trung ương; tỉnh/thành phố; huyện/quận và xã/phường. Hệ thống sổ ghi chép ban đầu và một số biểu báo cáo của CTV dân số là cơ sở ban đầu của hệ thông tin. Hệ thống chỉ tiêu biểu mẫu đã được ban hành; các biểu mẫu được thống nhất tại các cấp.

Nhiệm vụ chủ yếu của CTV dân số là theo dõi và ghi chép các biến động về DS-KHHGĐ của các hộ thuộc địa bàn được phân công phụ trách vào “Sổ theo dõi công tác DS-KHHGĐ”. Mỗi tháng làm hai báo cáo về dân số và hoạt động của CTV. Đối với CBCT thì lập báo cáo tháng. Ban DS-KHHGĐ xã, Ủy ban DS-KHHGĐ các tỉnh/thành phố và Trung ương có nhiệm vụ lập báo cáo tháng, quý I, 6 tháng, báo cáo 1/7, 9 tháng và năm.

Mặc dù hệ thông tin quản lý chuyên ngành mới ban hành, nhưng kết quả thu được đã cho phép khẳng định về tính đúng đắn của hệ thông tin và góp phần quản lý, điều hành công tác DS-KHHGĐ. Qua 3 năm thực hiện Quyết định 138 UB/QĐ ngày 10/11/1994 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ, một hệ thống biểu mẫu báo cáo thống nhất từ cấp xã lên đến cấp Trung ương đã được xây dựng và hoạt động có hiệu quả. Mỗi hộ gia đình được cấp một cuốn sổ hộ gia đình trong đó ghi chép đầy đủ những thông tin cơ bản của mỗi thành niên thuộc hộ. Một mạng lưới CTV dân số trên toàn quốc đã được hình thành. Hàng tháng, CTV dân số tới thăm từng hộ thuộc địa bàn để vận động thực hiện các biện pháp KHHGĐ đồng thời theo dõi những biến động về số người tại hộ và ghi chép vào sổ hộ.

Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ quản lý các cặp vợ chồng trong tuổi sinh đẻ về thực hiện các biện pháp KHHGĐ thông qua chế độ ghi chép ban đầu và báo cáo thống kê DS-KHHGĐ từ cấp xã, phường đến Trung ương. Các thông tin, số liệu được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và báo cáo hàng tháng nhằm phản ảnh sự biến động dân cư, về tình hình thực hiện các chỉ tiêu DS-KHHGĐ.

Trong giai đoạn này, tổ chức bộ máy công tác DS-KHHGĐ mới được hình thành, bước đầu được củng cố nhưng chưa đủ thời gian để hoàn thiện. Chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung còn hạn chế, đặc biệt, đội ngũ CBCT và CTV DS-KHHGĐ ở cấp xã phường có chất lượng không đồng đều và thiếu ổn định, có mức biến động lớn. Việc tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ không đáp ứng kịp sự thay đổi đội ngũ CBCT và CTV. Do chưa được tin học hoá cho nên việc khai thác, sử dụng thông tin từ các sổ hộ gia đình còn rất hạn chế. Các báo cáo tổng hợp thủ công nên không thật chính xác và thường gửi chậm. Mạng lưới CBCT, CTV Dân số được trải rộng khắp các xã, phường trong cả nước và đến từng thôn, xóm, bản, làng. Tuy nhiệm vụ của CBCT, CTV rất nặng nề nhưng chế độ bồi dưỡng đối với CBCT và CTV Dân số chưa tương xứng với nhiệm vụ việc làm thực tế của họ.

2. Giai đoạn 1997-2002

Công tác DS-KHHGĐ giai đoạn 1997-2002 đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ trong đó có sự đóng góp của hệ thống thông tin số liệu. Từ việc nhận định công tác DS-KHHGĐ khi bước vào kế hoạch 5 năm 1991-1995 là “việc thu thập thông tin số liệu chưa có hệ thống không đáp ứng được yêu cầu hoạch định, quản lý và thực hiện chương trình một cách bài bản và khoa học” thì bước vào giai đoạn này đã được đánh giá “hệ thống thông tin số liệu và thông tin quản lý đã có bước tiến đáng kể[1].

Yêu cầu của Hệ thống thông tin quản lý trong giai đoạn này là phục vụ hiệu quả nhu cầu quản lý và điều phối chương trình. Trước mắt, cần nhanh chóng ổn định việc thu thập thông tin số liệu qua các cuộc điều tra mẫu hàng năm về DS-KHHGĐ, đồng thời duy trì tốt hệ thống thông tin báo cáo thường xuyên từ dưới lên để có được hệ thông tin, số liệu cần thiết cho việc lập kế hoạch, quản lý và điều hành chương trình. Triển khai hiện đại hóa phương tiện lưu trữ, xử lý và phân tích thông tin bằng việc trang thiết bị máy tính và hệ thống phần mềm kèm theo đến cấp huyện, đồng thời tăng cường năng lực thu thập thông tin số liệu ban đầu của CTV và CBCT DS-KHHGĐ xã, phấn đấu đến năm 2000 có được hệ thống thông tin thường xuyên đủ độ tin cậy cần thiết đáp ứng nhu cầu quản lý và điều phối chương trình trên cả nước và ở từng địa phương.

Năm 1995, Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ bắt đầu giai đoạn hợp tác với Trung tâm dữ liệu Hoàng gia Na Uy để trao đổi hợp tác về lĩnh vực thông tin dữ liệu dân số. Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Na Uy về việc giúp đỡ xây dựng dự án thí điểm đăng ký dân số tại Việt Nam được ký kết tại Hà Nội ngày 10/7/1997 là cơ sở để triển khai và thực thi dự án thí điểm, nhằm thử nghiệm phương pháp và thiết bị, đánh giá khả năng và chi phí của việc đăng ký dân số trên cả nước Việt Nam.

Hệ thống chỉ tiêu và biểu mẫu thống kê đã được thực hiện bắt đầu từ năm 1995 (thực hiện theo Quyết định số 138/UB-QĐ ngày 10/11/1994). Qua ba năm thực hiện, hệ thống đã dần đi vào ổn định. Hệ thông tin quản lý đã được tổng kết đánh giá và thực hiện tiếp giai đoạn 1998-2000 theo Quyết định 280/1998/UB/KHCS ngày 21/4/1998 về hướng dẫn chế độ ghi chép ban đầu và báo cáo thống kê DS-KHHGĐ; hướng dẫn đăng ký theo sổ đăng ký mới sử dụng trong 3 năm 1998-2000. Đến năm 2001, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ đã ban hành Quyết định số 01/2001/QĐ-UB ngày 9/2/2001 về việc ban hành chế độ ghi chép ban đầu và báo cáo thống kê chuyên ngành dân số.

Các biểu mẫu thống kê thống nhất tại các cấp, phục vụ việc quản lý chương trình DS-KHHGĐ thông qua các báo cáo thống kê tháng, quí, 6 tháng, 9 tháng và năm. Đối tượng ghi chép ban đầu về DS-KHHGĐ ở cơ sở bao gồm tất cả những nhân khẩu thực tế thường trú tại các hộ; những cặp vợ chồng thuộc diện vận động sinh đẻ có kế hoạch. Tất cả các hộ cư trú trên địa bàn dân cư của xã, phường, bao gồm cả hộ gia đình và hộ tập thể đều thuộc phạm vi ghi chép ban đầu về DS-KHHGĐ ở cơ sở. Cộng tác viên DS-KHHGĐ cơ sở có nhiệm vụ thu thập thông tin ban đầu, ghi chép vào “Sổ theo dõi DS-KHHGĐ” và báo cáo kết quả hoạt động của mình cho CBCT.

Trong giai đoạn này, hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ tiếp tục được củng cố, hoàn thiện và bước đầu đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin số liệu kịp thời. Việc tổng hợp thông tin số liệu và lập báo cáo TKCN DS-KHHGĐ cấp xã, huyện, tỉnh được tiến hành thường xuyên hàng tháng, hàng quý và cả năm, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng thông tin số liệu từng bước được nâng lên. Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ các cấp đã nhận thức rõ về tầm quan trọng của chất lượng thông tin số liệu và có nhiều biện pháp hỗ trợ, đặc biệt là việc tăng cường kiểm tra, giám sát, động viên đội ngũ cán bộ, nâng cao trách nhiệm trong việc thu thập thông tin, số liệu đầu vào.

Chất lượng hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ được đánh giá cao, trong quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Có tới 83,7% số cán bộ ngành kế hoạch, tài chính và Ủy ban nhân dân đã sử dụng nguồn thông tin số liệu của hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ, cao hơn nhiều so với việc sử dụng số liệu của ngành thống kê (68,9%) và so với số liệu của chính ngành đó (59,5%). Mặc dù hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ mới ban hành, nhưng kết quả thu được đã cho phép khẳng định về tính đúng đắn của hệ thống thông tin này và thực sự đáp ứng yêu cầu quản lý.

Trong giai đoạn này đã xây dựng được đội ngũ CBCT có trình độ và kinh nghiệm về thu thập, lập báo cáo thống kê ở cấp cơ sở. Đối với cán bộ dân số từ Trung ương đến cấp huyện đã tổ chức đào tạo kiến thức tin học, hướng dẫn, trang bị các phần mềm chuyên dụng hỗ trợ cho công tác nhập, xử lý thông tin dân số nhằm nâng cao năng lực giải quyết tốt các yêu cầu xử lý thông tin quản lý và thông tin tác nghiệp. Tuy vậy, vẫn còn một số hạn chế như tổ chức bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ chưa ổn định, đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo một cách có hệ thống về chuyên môn, nghiệp vụ, chưa có nhiều kinh nghiệm. Số lượng cán bộ nói chung không đủ so với yêu cầu công việc. Mức trợ cấp công tác hàng tháng cho CBCT quá thấp, không có chế độ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội. Tình trạng trên gây tâm lý thiếu an tâm công tác của nhiều CBCT dân số xã. Trung bình mỗi năm có khoảng 20-25% CBCT dân số xã bỏ việc hoặc chuyển công tác.

3. Giai đoạn 2002-2007:

Từ năm 2002, do Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em (DSGĐTE) các cấp mới được thành lập nên trong giai đoạn đầu, mô hình tổ chức làm công tác DSGĐTE tại một số tỉnh còn chưa ổn định. Các cấp đều khó khăn về đội ngũ cán bộ bao gồm cả số lượng, chất lượng, nhất là đội ngũ cán bộ DSGĐTE ở cơ sở, trong đó bao gồm cả cán bộ làm công tác thống kê các cấp và đội ngũ CTV.

Yêu cầu của công tác thông tin, số liệu trong giai đoạn này là từng bước nâng cao chất lượng thực hiện chế độ ghi chép ban đầu, đảm bảo cung cấp thông tin, số liệu ngày càng đầy đủ hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý và điều hành công tác này ở tất cả các cấp; hoàn thiện hệ thống dữ liệu về DSGĐTE trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin[2].

Trong giai đoạn đầu thành lập Uỷ ban DSGĐTE, công tác TKCN tiếp tục được thực hiện theo Quyết định 01/2001/QĐ-UB ngày 9/2/2001 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia DS-KHHGĐ; Ngày 29/7/2005, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban DSGĐTE đã ban hành Quyết định số 02/2005/QĐ-DSGĐTE ngày 29/7/2005 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê DSGĐTE, Quyết định số 03/2005/QĐ-DSGĐTE ngày 29/7/2005 về việc ban hành chế độ ghi chép ban đầu và báo cáo thống kê chuyên ngành DSGĐTE. Theo Quyết định số 02/2005/QĐ-DSGĐTE, hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm nhóm các chỉ tiêu về DSGĐTE và nhóm các chỉ tiêu khác. Các biểu mẫu thống nhất tại các cấp, được triển khai trên toàn quốc để phục vụ cho 4 cấp quản lý hành chính nhà nước. Tại Trung ương, đơn vị được giao thực hiện công tác TKCN ban đầu là Vụ Kế hoạch-Tài chính thuộc Uỷ ban DSGĐTE. Trong quá trình tổ chức triển khai, có sự phân công thực hiện lại công việc này giữa Vụ Kế hoạch- Tài chính và Trung tâm Thông tin (Uỷ ban DSGĐTE).

Những kết quả đạt được: Các cấp đã chấp hành việc tổng hợp, phân tích và lập báo cáo TKCN theo quy định. Các thông tin, số liệu thống kê được cung cấp liên tục, chính xác, kịp thời, phục vụ lãnh đạo trong công tác chỉ đạo, điều hành. Hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ tiếp tục được củng cố, hoàn thiện. Đội ngũ CTV DSGĐTE ở thôn, ấp, bản, làng thường xuyên ghi chép thông tin ban đầu của từng cá nhân vào sổ hộ gia đình để theo dõi mọi biến động dân số, tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai và thực hiện báo cáo đầy đủ theo đúng tiến độ đề ra. Việc tổng hợp thông tin số liệu và lập báo cáo TKCN DS-KHHGĐ tại các cấp được tiến hành thường xuyên, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng thông tin số liệu từng bước được nâng lên. Tại Trung ương đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng hệ thông tin quản lý chuyên ngành DSGĐTE trên cơ sở nguồn thông tin số liệu về dân số lồng ghép với thông tin số liệu về trẻ em và bổ sung các nguồn thông tin số liệu về gia đình nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DSGĐTE. Công tác đổi sổ hộ gia đình đã được hoàn thành trên phạm vi toàn quốc làm cơ sở cho việc quản lý công tác DSGĐTE ở cơ sở và xây dựng hệ thống thông tin báo cáo của ngành. Những thành tích nổi bật đạt được trong giai đoạn này là năm 2005, hệ cơ sở dữ liệu DSGĐTE đã cung cấp các thông tin cơ bản cho cơ sở dữ liệu cấp thẻ Khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi. Năm 2007, hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ đã hỗ trợ tích cực cho bầu cử các cấp trong việc lập danh sách cử tri.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DSGĐTE vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, do đó chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thông tin cho công tác quản lý, điều hành ở các cấp. Hệ thống các chỉ tiêu biểu mẫu báo cáo thống kê thống nhất cho cả 3 lĩnh vực DSGĐTE mới được ban hành và triển khai dẫn đến những khó khăn trong việc thu thập xử lý các thông tin, đặc biệt là thông tin số liệu phục vụ cho công tác quản lý, điều hành. Sau khi sát nhập tổ chức, nhiều cán bộ làm công tác thống kê báo cáo lâu năm, có năng lực điều chuyển sang vị trí công tác khác. Cán bộ mới chưa có kinh nghiệm về thống kê, tin học. Trình độ của cán bộ cơ sở, nhất là đội ngũ CTV, CBCT tuyến xã yếu, phụ cấp thấp, biến động nhiều. Việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất còn có lúc chưa nghiêm túc, chất lượng báo cáo chưa cao, năng lực xử lý thông tin yếu. Hệ thống máy tính ở nhiều huyện còn thiếu và yếu, không đáp ứng được nhu cầu của việc xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL).

4. Giai đoạn 2008-2011

Tổng cục DS-KHHGĐ được thành lập sau 06 tháng giải thể Uỷ ban DSGĐTE nhưng phải sau khoảng 02 năm (7/2007 - 7/2009) mới khôi phục được thông tin, số liệu giữa tỉnh và huyện, giúp công tác tổng hợp thông tin, báo cáo tại tỉnh và huyện không bị ngưng trệ, (tỷ lệ biến động của đội ngũ cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ tại địa phương khoảng 20-25%). Đặc biệt, cơ sở vật chất, trang thiết bị (như trụ sở, ô tô, máy chủ, máy tính phục vụ lưu giữ cơ sở dữ liệu (CSDL) về DS-KHHGĐ) phục vụ công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở phần lớn bị thu hồi và bàn giao cho cơ quan khác. Hệ CSDL DS-KHHGĐ bao gồm hơn 600 CSDL cấp huyện, thiết bị công nghệ thông tin (mỗi huyện có 1 máy chủ và 2 máy trạm) phục vụ quản lý chuyên ngành do Ủy ban DSGĐTE đã xây dựng trong nhiều năm qua không được bàn giao hết về ngành y tế, hệ thống CSDL về DS-KHHGĐ đã được cập nhật nhiều năm hết sức công phu nay bị gián đoạn và mất mát.

Nhiệm vụ sau khi giải thể Uỷ ban DSGĐTE là các địa phương cần nhanh chóng tổ chức lại hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ tại mỗi cấp, đảm bảo việc thu thập, lập báo cáo thống kê về các thông tin số liệu DS-KHHGĐ được đầy đủ, chính xác theo đúng quy định. Tiếp tục xây dựng, cập nhật và hoàn thiện kho dữ liệu tại các cấp, bảo đảm thiết bị, trình độ cán bộ và các điều kiện cần thiết để vận hành kho dữ liệu điện tử (DLĐT). Tăng cường giám sát, kiểm tra tình hình thực hiện các hoạt động và thẩm định số liệu và hoạt động của hệ thống tại các cấp. Công tác tổ chức cán bộ cần nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ở các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở. Cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác thông tin, số liệu chuyên ngành DS-KHHGĐ đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành chương trình DS-KHHGĐ tại các cấp quản lý, góp phần xây dựng quy hoạch và phát triển kinh tế-xã hội.

Để đáp ứng yêu cầu thông tin số liệu chuyên ngành, Bộ Y tế (Tổng cục DS-KHHGĐ) đã ban hành công văn số 9717/BYT-KHTC ngày 19/12/2007 hướng dẫn tạm thời chế độ báo cáo TKCN DS-KHHGĐ, theo đó bỏ các chỉ tiêu về gia đình, trẻ em không thu thập, tổng hợp. Báo cáo thống kê định kỳ về DS-KHHGĐ được triển khai trên toàn quốc với 5 cấp thực hiện từ CTV, CBCT, cấp huyện, cấp tỉnh và Trung ương để phục vụ cho 4 cấp quản lý nhà nước về DS-KHHGĐ là xã, huyện, tỉnh và  Trung ương (Tổng cục DS-KHHGĐ-Bộ Y tế). Trong quá trình triển khai, có sự phân công lại việc tổ chức thực hiện giữa Vụ Kế hoạch – Tài chính và Trung tâm Thông tin (Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em), sau là Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số, Tổng cục DS-KHHGĐ.

Trong giai đoạn này, công tác TKCN cũng gặp nhiều khó khăn do tổ chức, bộ máy không ổn định cán bộ thiếu, bị điều chuyển; hệ thống máy tính bị điều chuyển, xuống cấp; dữ liệu bị mất mát. Việc tuyển dụng cán bộ mới đáp ứng yêu cầu công việc gặp nhiều khó khăn. Hệ thống chỉ tiêu, biểu mẫu thống kê DS-KHHGĐ chưa được ban hành chính thức. Trình độ công nghệ thông tin, thống kê của cán bộ các cấp còn hạn chế đặc biệt là cấp cơ sở và các vùng sâu, vùng xa...dẫn đến độ chính xác của số liệu không cao, tình hình biến động dân số chưa được cập nhật kịp thời.

Nhờ sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời của Lãnh đạo Bộ Y tế, Tổng cục DS-KHHGĐ và những nỗ lực của ngành DS-KHHGĐ, hệ thống thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ dần từng bước được khôi phục. Việc chấp hành thực hiện chế độ báo cáo TKCN của các CTV, CBCT xã và cơ quan DS-KHHGĐ các cấp cơ bản được thực hiện nghiêm chỉnh, đi dần vào nề nếp, thông tin, số liệu được khôi phục, duy trì và cung cấp kịp thời, phục vụ lãnh đạo trong công tác chỉ đạo, điều hành.

Theo đánh giá trong Hội nghị tổng kết công tác thống kê Bộ, ngành do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tháng 1/2008 là “Hệ thống thống kê chuyên ngành DS-KHHGĐ báo cáo đúng thời gian, chất lượng tốt. Cần củng cố, kiện toàn để giảm thiểu sai sót xuống mức cho phép, tiến tới đưa hệ thống số liệu này thành một kênh số liệu chính thức, cung cấp phục vụ sử dụng chung cho các bộ, ngành. Năm 2009, hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ đã hỗ trợ tích cực cho công tác Tổng điều tra Dân số và Nhà ở. Những năm sau, hệ thông tin quản lý chuyên ngành DS-KHHGĐ đã từng bước được tin học hóa thông qua việc xây dựng kho DLĐT các cấp từ Trung ương đến huyện, xây dựng phần mềm CSDL, hỗ trợ đầu tư trang thiết bị công nghệ thông tin và truyền thông, đào tạo cán bộ thống kê các cấp về quản trị dữ liệu... Dự án Hệ CSDL chuyên ngành dân số Việt Nam đã được trao giải thưởng Công nghệ thông tin xuất sắc ASEAN 2010. Năm 2011, Dự án CSDL chuyên ngành dân số Việt Nam được trao giải thưởng dự án ứng dụng công nghệ thông tin xuất sắc khu vực châu Á–Thái Bình Dương theo sự bình chọn của tập đoàn FutureGov.

Một số hạn chế, tồn tại: Công tác tổ chức không ổn định, dẫn đến việc phải tuyển dụng nhiều cán bộ mới. Để làm quen và đáp ứng được yêu cầu công việc cần phải có thời gian, tuy nhiên do yêu cầu công việc, ở mỗi vị trí công việc không có người thay thế nên phải vừa làm vừa học, rút kinh nghiệm. Vì vậy không tránh khỏi sai sót; các thông tin được thu thập ghi chép ban đầu do CTV thu thập vào sổ hộ gia đình từ lới khai của chủ hộ và khó được kiểm chứng bằng các giấy tờ pháp lý (như sổ hộ nhân khẩu, chứng minh thư, giấy đăng ký kết hôn...), nên tính pháp lý của thông tin, số liệu ghi chép chưa đảm bảo; việc tin học hoá trong lĩnh vực DS-KHHGĐ đã được quan tâm, ứng dụng, nhưng hiện nay mới dừng ở cấp huyện. Việc tổng hợp, thống kê số liệu và lập báo cáo còn theo phương pháp thủ công; xây dựng tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ tập huấn, đào tạo đã được biên soạn, tuy nhiên việc đào tạo, đào tạo lại còn gặp nhiều khó khăn do cán bộ biến động nhiều; thù lao cho CBCT, CTV chưa tương xứng với công việc...



* Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số.

[1] Báo cáo công tác DS-KHHGĐ 5 năm 1991-1995 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 1996-2000.

[2]  Báo cáo tổng kết công tác DSGĐTE giai đoạn 2001-2005 và phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2006-2010

 

Liên kết