ĐO LƯỜNG VÀ DỰ BÁO GÁNH NẶNG BỆNH TẬT TOÀN CẦU

 

TS. Nguyễn Quốc Anh; Nguyễn Yên*

 


Nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế ngày càng tăng trên toàn cầu trong khi nguồn lực của các chính phủ hạn chế, điều này đòi hỏi các quốc gia cần cân nhắc kỹ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Năm 1993, thông qua dự án “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu” (Global Burden of  Disease) các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard và Tổ chức Y tế Thế giới đã xây dựng một phương pháp tổng quan để đo lường những mất mát về sức khỏe của một quần thể dân cư. Mất mát về sức khỏe được đo lường bằng chỉ số DALY (Disability Adjusted Life Years- Số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật) cho phép đo lường kết hợp gánh nặng do tử vong và tàn tật.

DALY là một chỉ số định lượng, phản ánh số năm cuộc sống bị mất đi do các nguyên nhân, ví dụ do chết non (chết trước tuổi thọ trung bình, do tàn tật tạm thời hay vĩnh viễn). Chỉ số DALY cho phép đo lường tại thời điểm phản ánh dịch vụ y tế được cung cấp cũng như những tác động tích cực tiêu cực của các yếu tố chủ quan hay khách quan lên sức khỏe. Chỉ số này được đo lường bằng số năm sống mất đi do tử vong sớm (YLL) và số năm sống khỏe mạnh mất đi do tàn tật hoặc số năm phải sống với bệnh hay tình trạng sức khỏe do mới mắc bệnh hay tình trạng sức khỏe bị tác động (gọi tắt là Số năm sống khỏe mạnh bị mất đi do tàn tật YLD):

 

  DALY = YLL + YLD

 

DALY còn được sử dụng để:

- Sắp xếp thứ tự các bệnh theo gánh nặng bệnh tật: Tỷ lệ phần trăm DALYs của các bệnh gây ra bởi yếu tố nguy cơ trên tổng số DALYs.

- Ước tính giá thành hiệu quả của các can thiệp bằng cách so sánh chi phí đề phòng bệnh tật.

1. Gánh nặng bệnh tật toàn cầu

Trên thế giới

Theo các nhóm bệnh chính, Tổ chức Y tế thế giới phân nhóm tình trạng bệnh tật theo 3 nhóm lớn: nhóm I (các bệnh truyền nhiễm, sức khỏe bà mẹ, dinh dưỡng và bệnh lý thời kỳ chu sinh); nhóm II (bệnh không truyền nhiễm); nhóm III (chấn thương).


 

Hình 1. Gánh nặng bệnh tật theo nhóm bệnh chính và khu vực trên thế giới

(DALYs/ 1000 dân), 2004

 

Nguồn: WHO, The Global Burden of Disease (2004 Update), p.41.

 


Các nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh toàn cầu

     Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, tiêu chảy và rối loạn trầm cảm có gánh nặng lớn nhất trong 10 nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2004.

Theo thu nhập, nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật ở các nước có thu nhập thấp là các bệnh truyền nhiễm (nhiễm khuẩn hô hấp dưới, tiêu chảy) thì ở các nhóm các nước có thu nhập trung bình và cao gánh nặng bệnh tật hàng đầu lại rơi vào các bệnh không truyền nhiễm (Bảng 1)


 

Bảng 1. 10 nguyên nhân hàng đầu gánh nặng bệnh tật

trên thế giới và nhóm thu nhập, 2004

 

TT

Bệnh/chấn thương

DALYs

(triệu)

%

Bệnh/chấn thương

DALYs

(triệu)

%

Chung

Các nước thu nhập thấp

1

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới

94,5

6,2

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới

76,9

9,3

2

 

Tiêu chảy

72,8

4,8

Tiêu chảy

59,2

7,2

3

 

Rối loạn do trầm cảm

65,5

4,3

HIV/AIDS

42,9

5,2

4

Bệnh thiếu máu cơ tim

62,6

4,1

Sốt rét

32,8

4,0

5

HIV/AIDS

58,5

3,8

Sinh non và thiếu cân sơ sinh

32,1

3,9

6

Bệnh mạch máu não

46,6

3,1

Nhiễm trùng trẻ sơ sinh và bệnh khác

31,4

3,8

7

Sinh non và thiếu cân sơ sinh

44,3

2,9

Đẻ ngạt và chấn thương khi sinh

29,8

3,6

8

Đẻ ngạt và chấn thương khi sinh

41,7

2,7

Rối loạn do trầm cảm

26,5

3,2

9

Tai nạn giao thông

41,2

2,7

Bệnh thiếu máu cơ tim

26,0

3,1

10

Nhiễm trùng trẻ sơ sinh và bệnh khác

40,4

2,7

Lao

22,4

2,7

Các nước thu nhập trung bình

Các nước thu nhập cao

1

 

Rối loạn do trầm cảm

29,0

5,1

Rối loạn do trầm cảm

10,0

8,2

2

 

Bệnh thiếu máu cơ tim

28,9

5,0

Bệnh thiếu máu cơ tim

7,7

6,3

3

 

Bệnh mạch máu não

27,5

4,8

Bệnh mạch máu não

4,8

3,9

4

Tai nạn giao thông

21,4

3,7

Alzheimer và các chứng mất trí khác

4,4

3,6

5

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới

16,3

2,8

Rối loạn do sử dụng rượu

4,2

3,4

6

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

16,1

2,8

Mất thính lực

4,2

3,4

7

HIV/AIDS

15,0

2,6

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

3,7

3,0

8

Rối loạn do sử dụng rượu

14,9

2,6

Bệnh đái tháo đường

3,6

3,0

9

Khúc xạ (mắt)

13,7

2,4

Khí quản, phế quản và ung thư phổi

3,6

3,0

10

Tiêu chảy

13,1

2,3

Tai nạn giao thông

3,1

2,6

 

Nguồn: WHO, The Global Burden of Disease (2004 Update), p.44.

 


Việt Nam

Tổng gánh nặng bệnh tật Việt Nam năm 2008 là 12,3 triệu DALYs. Trong tổng số đó, gánh nặng bệnh tật của các bệnh không truyền nhiễm (nhóm II) chiếm tới ¾ và chấn thương (nhóm III) chiếm 16% tổng gánh nặng bệnh tật Việt Nam (hình 2)

Theo giới tính, tổng DALYs ở Nam giới là 6,8 triệu ở nam và ở nữ giới là 5,5 triệu. Các bệnh truyền nhiễm là nguyên nhân chính của tổng gánh nặng bệnh tật ở cả nam và nữ giới (77% và 66%). Trong khi tỷ lệ DALYs của chấn thương trong tổng gánh nặng bệnh tật ở nam giới cao gấp 2 lần so với nữ giới. Các bệnh truyền nhiễm, vấn đề sức khỏe bà mẹ, dinh dưỡng và bệnh lý thời kỳ chu sinh gần như tương đương ở 2 giới (Bảng 2).


 

Bảng 2. Tỷ lệ DALYs của 3 nhóm bệnh theo giới tính tại Việt Nam, 2008

 

 

Nhóm I (%)

Nhóm II (%)

Nhóm III (%)

 

Nam

 

14

 

66

 

20

 

Nữ

 

12

 

77

 

10

 

Nguồn: Trường Đại học Y tế Công Cộng, Nxb Y học Hà Nội 2011, Gánh nặng bệnh tật và chấn thương tại Việt Nam 2008, trang 41.

 


Gánh nặng do tử vong sớm (YLL) lớn hơn gánh nặng do tàn tật (YLD), có thể thấy rõ ở nhóm nam giới (Hình 2).

 


 

Hình 2. Tỷ lệ YLL và YLD trong tổng gánh nặng bệnh tật theo giới tính, Việt Nam 2008

 

Nguồn: Trường Đại học Y tế Công Cộng, Nxb Y học Hà Nội 2011, Gánh nặng bệnh tật và chấn thương tại Việt Nam 2008, trang 40.

 


Các nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật Việt Nam

10 nguyên nhân hàng đầu của DALYs chiếm gần một nửa gánh nặng bệnh tật của Việt Nam năm 2008. Trong số đó, đột qụy là nguyên nhân hàng đầu chiếm tỷ trọng cao nhất của DALY ở nam giới với tỷ lệ 10%. Trong khi ở nữ giới, nguyên nhân hàng đầu, gây ra 12% tổng gánh nặng bệnh tật ở nữ giới lại là trầm cảm. Danh sách chiếm tỷ trọng tiếp theo trong tổng gánh nặng bệnh tật ở nam giới là tai nạn giao thông, rối loạn do lạm dụng rượu, ung thư gan và HIV/ AIDS. Ở nữ giới là đột quỵ, khiếm thị, đái tháo đường và tai nạn giao thông là các nguyên nhân tiếp theo trong danh sách 10 nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật của Việt Nam, 2008.


 

Bảng 3. 10 nguyên nhân hàng đầu gánh nặng bệnh tật Việt Nam, 2008

 

 

Nam

Nữ

TT

Bệnh/chấn thương

DALYs

%

Bệnh/chấn thương

DALYs

%

1

Đột quỵ

714.931

10

Trầm cảm

638.658

12

2

Tai nạn giao thông

559.637

8

Đột quỵ

562.501

10

3

Rối loạn do lạm dụng rượu

315.841

5

Khiếm thị

223.711

4

4

Ung thư gan

312.804

5

Đái tháo đường

219.669

4

5

HIV/AIDS

285.748

4

Tai nạn giao thông

212.704

4

6

Trầm cảm

237.014

3

Thoái hóa khớp

209.452

4

7

COPD

227.957

3

Rối loạn lo âu

146.254

3

8

Ung thư phổi

214.804

3

Viêm phổi

146.202

3

9

Ngã

185.372

3

COPD

143.410

3

10

Viêm phổi

183.475

3

Mất trí nhớ

143.258

3

 

Nguồn: Trường Đại học Y tế Công Cộng, Nxb Y học Hà Nội 2011, Gánh nặng bệnh tật và chấn thương tại Việt Nam 2008, trang 46.

 

2. Dự báo gánh nặng bệnh tật toàn cầu

Gánh nặng bệnh tật toàn cầu dự báo vào năm 2030 sẽ giảm đáng kể còn 1,36 tỷ DALYs  từ con số 1,53 tỷ DALYs năm 2004, tương đương với việc giảm tỷ lệ gánh nặng bệnh tật được 10% (so với dự báo dân số tăng 25% so với cùng kỳ).

Vào thời điểm 2030, dự báo sự chuyển biến của các bệnh nhóm I (bệnh truyền nhiễm, các tình trạng liên quan đến bà mẹ, chu sinh và thiếu hụt dinh dưỡng) có xu hướng giảm mạnh trong khi nhóm II (các bệnh không truyền nhiễm) được dự đoán có xu hướng tăng và gánh nặng do chấn thương cũng được dự báo có khả năng tăng. Trong đó, tổng gánh nặng bệnh tật của nhóm I sẽ giảm xuống còn 20% dự kiến vào năm 2030 từ 40% năm 2004; gánh nặng bệnh tật của nhóm II dự kiến sẽ tăng lên 66% vào năm 2030 (hình 3 )


 

 

Hình 3. Sự thay đổi trong đóng góp gánh nặng bệnh tật

 theo nhóm bệnh năm 2004 và dự báo năm 2030

 

Nguồn: WHO, The Global Burden of Disease (2004 Update), p49.

 


Bảng 3 Cho thấy hình thái của gánh nặng bệnh tật toàn cầu dự báo giai đoạn sau 26 năm (2004-2030). Trong năm 2004, ba nguyên nhân hàng đầu là Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, tiêu chảy và rối loạn do trầm cảm. Sau 26 năm, sự thay đổi của 3 gánh nặng bệnh tật hàng đầu là rối loạn do trầm cảm, thiếu máu cơ tim và tai nạn giao thông.

Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên từ thứ hạng 1 năm 2004 đã chuyển dịch xuống vị  trí số 6 năm 2030; HIV vào năm 2004 được coi là “đại dịch” và đứng ở vị trí thứ 5 trong gánh nặng bệnh tật được dự báo xuống vị trí số 9 vào năm 2030; các bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), khúc xạ (mắt), mất thính lực (người trưởng thành), khúc xạ (mắt) không nằm trong 10 nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2004 được dự báo nằm trong số 10 nguyên nhân hàng đầu sau 26 năm.


 

Bảng 4. 10 nguyên nhân hàng đầu trong gánh nặng bệnh tật thế giới, 2004

và dự báo 2030

 

2004

2030

 

Bệnh/chấn thương

%

 

%

Bệnh/chấn thương

1

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới

6,2

1

6,2

Rối loạn do trầm cảm

2

Tiêu chảy

4,8

2

5,5

Bệnh thiếu máu cơ tim

3

Rối loạn do trầm cảm

4,3

3

4,9

Tai nạn giao thông

4

Bệnh thiếu máu cơ tim

4,1

4

4,3

Bệnh mạch máu não

5

HIV/AIDS

3,8

5

3,8

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

6

Bệnh mạch máu não

3,1

6

3,2

Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới

7

Sinh non và thiếu cân sơ sinh

2,9

7

2,9

Mất thính lực (người trưởng thành)

8

Đẻ ngạt và chấn thương khi sinh

2,7

8

2,7

Khúc xạ (mắt)

9

Tai nạn giao thông

2,7

9

2,5

HIV/AIDS

10

Nhiễm trùng trẻ sơ sinh và bệnh khác

2,7

10

2,3

Đái tháo đường

 

Nguồn: WHO, The Global Burden of Disease (2004 Update), p51.

 


Sử dụng chỉ số DALYs cho thấy việc đo lường tổng quát sức khỏe một cách có ý nghĩa cho một cộng đồng. Các thông tin đo lường được giúp cho các nhà hoạch định chính sách y tế, lập kế hoạch và nâng cao sức khỏe của các quốc gia có những chính sách ưu tiên đối với các bệnh không truyền nhiễm trong thời gian tới.



* Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số.

 

Liên kết