THÍCH CON TRAI VÀ MỨC SINH VƯỢT TRỘI: PHÂN TÍCH VIỆC

TIẾP TỤC SINH TẠI ẤN ĐỘ

 

Sanjukta Chaudhuri


Ở Ấn Độ, con trai được coi là có giá trị hơn con gái. Việc thích con trai đã ăn sâu trong chế độ gia trưởng kể cả việc nối dõi dòng họ - một hệ thống hôn nhân dựa trên tài sản, phong tục của hồi môn và sự phụ thuộc vào con trai khi cha mẹ già. Hệ quả nhân khẩu học của sự ưa thích này là số con trai trong gia đình ảnh hưởng đến quá trình sinh đẻ. Được biết đến như một hành vi dừng sinh, hành vi sinh nhằm vào con trai và hành vi sinh mất cân bằng, việc mang thai được thúc đẩy bởi mong muốn sinh con trai sẽ xẩy ra khi cha mẹ tiếp tục sinh thêm con cho tới khi họ có đủ số con trai mong muốn.

Việc tiếp tục sinh được thúc đẩy bởi mong muốn có con trai có ý nghĩa nhân khẩu học và sức khỏe. Thứ nhất, nếu việc xác định giới tính trước sinh và phá thai không thực hiện được, mong muốn sinh con trai sẽ làm tăng quy mô gia đình. Về mặt sinh học, chỉ có 26% số cặp vợ chồng muốn có 2 con trai sẽ sinh 2 con. Thậm trí ngay cả sau khi đã có 6 con, khoảng 10% cặp vợ chồng sẽ không thể đạt mục tiêu có 2 con trai. Do vậy, cho tới khi đó là phương tiện chủ yếu để hoàn thành mong muốn có con trai, sự tiếp tục sinh làm chậm lại quá độ nhân khẩu học của Ấn Độ bằng việc giữ mức sinh cao hơn như đã có, bởi những người chưa đạt được “mục tiêu có con trai” sẽ tiếp tục sinh. Thực vậy, mong muốn sinh con trai liên quan tích cực với mong muốn có nhiều con và tổng tỷ suất sinh liên quan tiêu cực với sử dụng tránh thai. Ví dụ tại Nepal, mức sinh cao hơn 6% so với mức hiện tại nếu không có sự ưa thích con trai. Thứ hai, việc tiếp tục sinh được thúc đẩy bởi mong muốn sinh con trai có thể tác động vào mất cân bằng giới tính. Mặc dù mong muốn này gây áp lực đáng kể đến mức sinh, nhưng không làm lệch tỷ số giới tính của dân số, nếu quá trình sinh là phương cách duy nhất mong muốn có con trai. Như vậy, quy mô dân số sẽ tăng nhưng vẫn cân bằng. Tuy nhiên, mong muốn sinh con trai có thể làm lệch tỷ số giới tính theo quy mô gia đình: gia đình nhỏ hơn sẽ có số con trai nhiều hơn, bởi những người có con đầu lòng là con trai có thể quyết định dừng sinh, trong khi các gia đình lớn hơn sẽ có số con gái nhiều hơn, bởi những người sinh con đầu lòng là con gái sẽ có xu hướng tiếp tục sinh thêm con. Hệ quả là, con trai trong các gia đình nhỏ có ít anh chị em ruột và con gái trong các gia đình lớn có nhiều anh chị em ruột. Thứ ba, một hệ quả khác là bất bình đẳng giới trong sức khỏe, giáo dục…Trong các gia đình lớn, con cái được hưởng thụ ít hơn. Trong môi trường thích con trai, con gái nhận được ít hơn so với con trai. Điều này có thể gây ra thiếu dinh dưỡng, còi cọc và thậm trí tử vong của trẻ dưới 1 tuổi sẽ cao hơn. Thêm vào đó, vì con gái có nhiều anh chị em ruột hơn so với con trai, chúng có thể phải làm các công việc gia đình và chăm sóc các em, kể cả phải bỏ học.

Bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe trẻ em có thể một phần do thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Do việc nuôi con bằng sữa mẹ hạn chế thụ thai, những người muốn có con trai có thể thôi không tiếp tục cho con gái bú, vì vậy tăng khả năng tiếp tục thụ thai (đặc biệt là những người thích con trai). Phù hợp với kịch bản bày, các nghiên cứu ở Đông Nam Á và châu Phi cho thấy khoảng cách sinh ngắn hơn sau khi sinh con gái so với sinh con trai. Tại Ấn Độ, thời gian trung bình nuôi con bằng sữa mẹ đối với con gái ngắn hơn đối với con trai. Sự khác biệt này không chỉ dẫn đến sự bất bình đẳng lớn trong sức khỏe trẻ em mà còn làm tử vong của trẻ em gái cao hơn trẻ em trai 9%.

Mặc dù Ấn Độ có chương trình dân số sớm nhất thế giới và thực hiện các biện pháp xóa bỏ thiên lệch giới, chính sách dân số của nước này chưa đề cập trực tiếp đến việc thích con trai như một nguyên nhân của bất bình đẳng giới và mức sinh vượt trội. Nếu Ấn Độ trở thành nước đông dân nhất thế giới năm 2025, việc xem xét quan hệ giữa mong muốn sinh con trai và mức sinh vượt trội là quan trọng để tìm hiểu các mô hình, các yếu tố quyết định sinh và nghiên cứu các chính sách dân số thích hợp.

Hầu hết các nghiên cứu về mong muốn sinh con trai và mức sinh ở Ấn Độ tập trung vào mối quan hệ giữa tỷ số giới tính của số con còn sống trong gia đình và đo lường mức sinh dự định. Ít phân tích thống kê có hệ thống về mối quan hệ giữa giới tính của số con trong gia đình và mức sinh thực tế được đo bằng xác suất của quá trình sinh. Nghiên cứu này phân tích tác động của mong muốn có con trai tới quá trình sinh ở Ấn Độ thông qua đánh giá mối quan hệ giữa giới tính của trẻ và việc tiếp tục mang thai. Số liệu từ Điều tra Sức khỏe Gia đình Quốc gia 2005–2006 được sử dụng trong nghiên cứu. Phân tích xem xét một số giả thiết về mong muốn sinh con trai như một động lực sinh: Thứ nhất, trong các lần sinh trước, tỷ trọng con gái liên quan tích cực tới xác suất của việc tiếp tục sinh; Thứ hai, tại bất kỳ lần sinh nào, đứa con cuối cùng của một phụ nữ dừng sinh thường là con trai; Thứ ba, tỷ số giới tính sẽ không ngang bằng theo quy mô gia đình: gia đình ít con có số cong trai lớn hơn, trong khi gia đình đông con có số con gái lớn hơn. Cuối cùng, tỷ trọng con gái trong một gia đình liên quan tích cực việc tiếp tục sinh sau khi điều chỉnh các yếu tố kinh tế-xã hội. Nghiên cứu cũng so sánh tỷ số giới tính khi sinh của đứa trẻ sinh sau cùng ở những phụ nữ dừng sinh với những phụ nữ tiếp tục sinh.

KẾT QUẢ

Mẫu nghiên cứu: Tổng số có 33.245 phụ nữ và 112.805 trường hợp sinh. Tuổi trung bình của phụ nữ là 41; 45% không đi học, 46% có trình độ tiểu học hoặc trung học, 8% có trình độ trên trung học; 45% không có nghề nghiệp; 58% có mức sống khá, 18% trung bình và 24% thấp; 74% theo đạo Hindu, 12% Hồi giáo; 8% công giáo, 3% đạo Sikh, và 3% tôn giáo khác; 53% sống ở nông thôn. Trung bình mỗi phụ nữ có 3,8 con.

Số phụ nữ trong nghiên cứu được chia thành các lần sinh tính theo số con trai:

-      Lần sinh 1: có 0 hoặc 1 con trai

-      Lần sinh 2: có 0, 1, hoặc 2 con trai

-      Lần sinh 3: có 0, 1, 2, hoặc 3 con trai

-      Lần sinh 4: có 0, 1, 2, 3 hoặc 4 con trai.

Thành phần giới tính bao gồm số con trai và con gái tại một lần sinh bất kỳ, không tính đến thứ tự sinh. Nghiên cứu xem xét việc sinh đẻ chuyển từ lần sinh 1 lên lần sinh 2, lần sinh 2 lên lần sinh 3, lần sinh 3 lên lần sinh 4, và lần sinh 4 lên lần sinh 5 dựa trên thành phần giới tính hiện tại.

4% phụ nữ dừng sinh sau lần sinh 1 nói rằng con của họ đã chết. 7% những người tiếp tục mang thai nói rằng đứa con đầu lòng của họ đã chết. Như vậy, sự khác biệt trong mức chết là 3% ở những phụ nữ dừng sinh sau lần sinh 1 và những người tiếp tục sinh lần 2. Ở những phụ nữ sinh ít nhất 2 con, sự khác biệt này giữa những phụ nữ dừng sinh sau lần sinh 2 và những người tiếp tục lần sinh 3 là 12 điểm phần trăm (6% và 18%), 17% và 13% giữa những phụ nữ dừng sinh và những người tiếp tục lần sinh 3 và 4.

Quá trình chuyển lần sinh

Sau lần sinh 1, 93% những người có con trai và 95% những người có con gái tiếp tục sinh ít nhất một lần. 85% phụ nữ có 2 con gái (chưa có con trai) tiếp tục sinh con thứ 3, tỷ lệ này giảm xuống 73% ở những phụ nữ đã có một con trai, và 70% ở những phụ nữ đã có hai con trai. 84% phụ nữ có 3 con gái (chưa có con trai) tiếp tục sinh con so với 68% những phụ nữ đã có một con trai, 58% phụ nữ có hai con trai và 64% có 3 con trai. 81% phụ nữ có 4 con gái (chưa có con trai) tiếp tục sinh con so với 67% phụ nữ đã có một con trai, 56% có hai con trai, 57% có ba con trai và 88% có bốn con trai.

Số sinh vượt trội hàng năm. Kết quả trên cho thấy mong muốn sinh con trai thúc đẩy việc tiếp tục sinh. Để ước tính số sinh vượt trội do mong muốn có con trai, số sinh đáng có tại mỗi lần sinh sẽ được tính nếu không có sự ưa thích con trai. Với giả thiết về tỷ trọng phụ nữ tiếp tục sinh, sẽ có 93% phụ nữ chuyển từ lần sinh 1 lên lần sinh 2, và 70% chuyển từ lần sinh 2 lên lần sinh 3. Theo kịch bản này, đến lần sinh 5, số sinh sẽ là 104.667, thấp hơn 8.138 so với con số thực tế 112.805. Điều này cho thấy 7% số sinh tính đến lần sinh 5 có thể do mong muốn sinh con trai.

Tỷ số giới tính của lần sinh cuối

Tỷ số giới tính của lần sinh cuối ở những phụ nữ dừng sinh với tỷ số giới tính ở những phụ nữ tiếp tục sinh được so sánh. Nếu mong muốn có con trai thúc đẩy việc tiếp tục sinh, phụ nữ có thể sẽ dừng sinh nếu lần sinh cuối là con trai. Trong trường hợp này, tỷ số giới tính khi sinh của lần sinh cuối ở những phụ nữ dừng sinh sẽ cao hơn tỷ số giới tính sinh học (105 bé trai/100 bé gái). Ngược lại, phụ nữ sẽ có xu hướng tiếp tục sinh nếu lần sinh cuối là con gái; kết quả là, tỷ số giới tính khi sinh ở những phụ nữ tiếp tục sinh sẽ dưới 105. Số liệu của Điều tra NSFH-3 ủng hộ giả thiết trên. Trong số những phụ nữ dừng sinh sau lần sinh 1, tỷ số giới tính khi sinh là 143 bé trai/100 bé gái. Ngược lại, tỷ số giới tính khi sinh là 106 ở những phụ nữ tiếp tục sinh. Tại lần sinh 2, tỷ số giới tính khi sinh là 153 ở những phụ nữ dừng sinh, nhưng chỉ là 98 ở những phụ nữ tiếp tục sinh. Tương tự, tỷ số giới tính khi sinh cao đáng kể ở những phụ nữ dừng sinh so với những phụ nữ tiếp tục sinh tại lần 3 con (157 so với 94), lần sinh 4 (139 so với 93), và lần sinh 5 con (133 so với 96).

Quy mô gia đình

Giả thiết rằng nếu quá trình sinh là ngẫu nhiên về số con trai đã sinh, tỷ số giới tính sẽ không đều nhau theo quy mô gia đình (tính theo trong số con trong gia đình). Những phụ nữ sinh nhiều con trai hơn con gái tại các lần sinh đầu sẽ sớm dừng sinh và do vậy có quy mô gia đình nhỏ hơn. Trái lại, những phụ nữ sinh nhiều con gái hơn tại các lần sinh đầu sẽ tiếp tục sinh và có quy mô gia đình lớn hơn. Theo đó, tỷ số giới tính bình quân của tất cả trẻ em giảm khi quy mô gia đình hoàn tất tăng, từ 143 ở những gia đình 1 con và 146 ở những gia đình 2 con xuống 126 và 108 ở những gia đình 3 và 4 con. Tỷ số giới tính bình quân của số trẻ đã sinh thấp hơn ở những gia đình có 5 con (99) và 6 con hoặc hơn (93).

Phân tích đa biến

Thành phần giới tính. Mối quan hệ giữa thành phần giới tính của số con của một phụ nữ và xác xuất người phụ này sinh thêm con là tương đương trong mô hình điều chỉnh và không điều chỉnh theo lần sinh. Giả thiết rằng mối tương quan này không phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế-xã hội, kết quả cho thấy sự tương quan tích cực giữa tỷ trọng con gái và tỷ suất chênh của quá trình sinh. Tại lần sinh 1, tỷ suất chênh có thêm một con ở những phụ nữ có một con gái là 1,4 lần so với phụ nữ có một con trai. Tại lần sinh 2, tỷ suất này lớn hơn ở những phụ nữ chưa có con gái (3,5) hay có một con gái và một con trai (1,3) so với những phụ nữ có 2 con trai. Tại lần sinh 3, tỷ suất chênh lớn hơn ở những phụ nữ có 3 con gái (4,5) hoặc 2 con gái và 1 con trai (1,5) so với những phụ nữ có 3 con trai, nhưng những người có 2 con trai và 1 con gái thấp hơn những phụ nữ có 3 con trai và tiếp tục sinh (0,8). Cuối cùng, tại lần sinh 4, tỷ suất chênh ở phụ nữ chưa có con trai (3,4) và 1 con trai (1,3) sẽ sinh thêm con so với phụ nữ đã có 4 con trai; tuy nhiên, tỷ suất chênh giảm ở lần sinh 5, ở những phụ nữ có 2 con gái và 2 con trai (0,7) và 1 con gái và 3 con trai (0,6).

Các tương quan khác. Tại hầu hết các lần sinh, việc sinh thêm để thay thế đứa con đã chết là một động lực cơ bản. Tại lần sinh 2, những phụ nữ đã mất một đứa con có xu hướng tiếp tục mang thai hơn những phụ nữ có 2 con còn sống (tỷ suất chênh là 2,7). Tương tự, việc mất một đứa con liên quan tới tăng tỷ suất chênh từ lần sinh 3 lên lần sinh 4 (2,6) và từ 4 lên 5 (1,8). Nhìn chung, trình độ học vấn của phụ nữ liên quan tiêu cực tới quá trình chuyển lần sinh. Ví dụ, phụ nữ có trình độ học vấn trung học và có 1 con sẽ ít tiếp tục sinh (tỷ suất chênh là 0,5) hay có trình độ học vấn trên trung học (0,2) so với phụ nữ không được đi học. Tại các lần sinh từ 2-4, tỷ suất chênh giảm nếu trình độ học vấn là tiểu học (0,7-0,8), trung học (0,3-0,6) hoặc trên trung học (0,1-0,2) so với những người không đi học.

Trong tất cả các mô hình, điểm về chỉ số tiếp cận truyền thông liên quan tích cực tới quá trình chuyển lần sinh. Với mỗi điểm tăng, tỷ suất chênh tại mỗi lần sinh tiếp theo giảm 7-10% (0,9 cho mỗi lần sinh). Tại lần sinh 1, trình độ học vấn của người chồng liên quan tới việc tiếp tục sinh là yếu tố cơ bản; những phụ nữ có chồng có trình độ học vấn có tỷ suất chênh cao hơn 24% tiếp tục lần sinh 2 so với những phụ nữ có chồng không đi học (1,2). Tại các lần sinh từ 2-4, phụ nữ ít sinh thêm con nếu chồng họ đã học trung học (0,8 mỗi lần sinh) hoặc cao hơn (0,6-0,7) so với những người chồng không đi học; tại lần sinh 4, tỷ suất chênh cũng giảm ở những phụ nữ có chồng có trình độ tiểu học (0,9).

Có bằng chứng cho thấy mức sống cao liên quan tới tỷ lệ sinh thấp. Mặc dù tại lần sinh thứ nhất, quá trình sinh không khác biệt bởi mức sống, nhưng ở lần sinh 2 mức sống cao có liên quan tới tỷ suất chênh (thấp hơn 24%) so với mức sống thấp (tỷ suất chênh là 0,8). Tại lần sinh 3 và 4, tỷ suất chênh giảm ở những phụ nữ có mức sống trung bình (0,8-0,9) hoặc cao (0,6-0,7). Cuối cùng, yếu tố tôn giáo cũng có liên quan tới quá trình sinh. Ở cả 4 lần sinh, tỷ suất chênh ở phụ nữ Hồi giáo cao hơn phụ nữ Hindu (1,9-3,4), và tăng lên ở những phụ nữ có tôn giáo khác (1,2-1,6).

BÀN LUẬN

Các nghiên cứu trước đây cho thấy mong muốn sinh con trai có tác động rõ ràng tới hành vi sinh đẻ ở Hàn Quốc, Đài Loan, Bangladesh, Pakistan và Ấn Độ. Nghiên cứu này cũng cho kết quả tương tự. Nhìn chung, những phụ nữ có nhiều con trai hơn ít tiếp tục sinh so với những phụ nữ có nhiều con gái hơn. Mặc dù các phát hiện cung cấp bằng chứng về mong muốn sinh con trai, nhiều người vẫn thích có con gái. Tỷ lệ phụ nữ tiếp tục sinh thấp nhất ở nhóm có ít nhất 2 con trai và 1 con gái. Cũng như các nghiên cứu trước ở Ấn Độ, cha mẹ mong muốn có con trai, nhưng họ vẫn muốn có ít nhất một con gái. Điều này được giải thích cho phong tục kanyadaan (cho con gái khi kết hôn) của người Hindu, coi đó là phần thưởng tinh thần cho cha mẹ. Tới lần sinh 5, khoảng 7% số sinh là do mong muốn sinh con trai. Trong một nghiên cứu tại Calcutta, con số này là 8,4%.

Các phát hiện từ nghiên cứu cũng ủng hộ giả thiết về tác động của anh chị em ruột theo tương quan giữa quy mô gia đình và tỷ trọng con gái. Các gia đình có 4 con có tỷ trọng con trai lớn hơn, trong khi các gia đình có từ 5 con trở lên, có tỷ trong con gái lớn hơn. Kết quả này tương tự như nghiên cứu ở Hàn Quốc: ở những phụ nữ đã kết thúc sinh đẻ, tỷ số giới tính bình quân cao đối với những gia đình có 1 hoặc 2 con, nhưng thấp ở những gia đình có từ 3 con trở lên.

Nghiên cứu cho thấy ngay cả sau khi điều chỉnh các yếu tố kinh tế-xã hội, tỷ lệ con gái cao hơn liên quan nhiều tới việc tiếp tục sinh. Những phụ nữ có con bị mất tiếp tục sinh thêm, trong khi phững phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn, tiếp cận các phương tiện truyền thông, có điều kiện kinh tế và có chồng có trình độ học vấn cao thì sinh ít con hơn.

Về triển vọng chính sách, có thể thấy 7% số trường hợp sinh ở Ấn Độ sẽ tránh được nếu việc tiếp tục sinh do mong muốn có con trai bị loại bỏ. Bởi trình độ vấn cao hơn của phụ nữ liên quan tới việc sinh ít con, các chính sách khuyến khích giáo dục phụ nữ là một giải pháp tích cực nhằm giảm việc tiếp tục sinh và xóa bỏ mức sinh vượt trội. Tuy nhiên, chỉ giảm sinh thôi không giải quyết được các vấn đề văn hóa sâu xa liên quan đến thích con trai. Bởi việc tiếp tục sinh không phải là biện pháp duy nhất hoàn thành mong muốn có con trai. Từ giữa những năm 1990, công nghệ xác định giới tính và phá thai ngày càng dễ tiếp cận ở Ấn Độ, và được sử dụng khi các cặp vợ chồng muốn có quy mô gia đình nhỏ hơn trong khi vẫn mong muốn có con trai bằng việc loại bỏ thai nhi gái. Bằng chứng thuyết phục cho thấy tỷ số giới tính khi sinh ở Ấn Độ tăng trong các thập niên gần đây (ngay cả khi tổng tỷ suất sinh đang giảm) là do phá thai lựa chọn giới tính. Mặc dù tỷ số giới tính khi sinh cao ở lần sinh cuối có thể chỉ là do cha mẹ dừng sinh sau khi đã sinh được một con trai. Khả năng này tồn tại khi các cặp vợ chồng muốn sinh ít con đã sử dụng công nghệ lựa chọn giới tính thai nhi và phá thai để đảm bảo rằng họ có ít nhất một con trai.

Nhiều nghiên cứu cho thấy mặc dù phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn có thể muốn có ít con hơn, họ cũng có thể đạt “hiệu quả” hơn trong việc hoàn thành mong muốn sinh con trai bằng việc tiếp cận nhiều hơn với công nghệ xác định giới tính thai nhi và phá thai. Trong một nghiên cứu năm 2005 ở nước này, tỷ số giới tính của lần sinh thứ hai rất cao nếu lần sinh thứ nhất là con gái; đây là trường hợp của các gia đình giàu có và ở những phụ nữ được đi học từ 10 năm trở lên.

Cần lưu ý khi giải thích sự tương quan tiêu cực giữa điều kiện kinh tế và quá trình sinh. Sự giàu có được coi là có thể tăng khả năng tiếp cận công nghệ xác định giới tính thai nhi và phá thai, đặc biệt ở miền bắc Ấn Độ, nơi có sự thiên lệch giới khá lớn. Việc khả năng tiếp cận và chi trả cao hơn các dịch vụ xác định giới tính và phá thai do có điều kiện kinh tế sẽ tác động làm giảm sinh, nhưng tỷ số giới tính sẽ cao hơn.

Mặc dù các chính sách khuyến khích giáo dục phụ nữ là điều cơ bản để giảm sinh, cách tiếp cận như vậy có vẻ đi ngược lại các giá trị phụ hệ đang phổ biến hiện nay. Vì thế, cần xóa bỏ các giá trị tạo quan niệm rằng con trai có giá trị hơn con gái. Sự can thiệp này đã thành công ở Hàn Quốc, nơi mà tỷ số giới tính khi sinh cao nhất châu Á vào những năm 1990 và đã trở lại mức bình thường vào năm 2007. Các nhà xã hội học cho rằng sự phát triển kinh tế và xã hội vượt bậc, cùng với hiện đại hóa và đô thị hóa chưa từng có ở Hàn Quốc đã dẫn đến sự thay đổi to lớn trong cấu trúc xã hội phụ hệ và giảm ưa thích con trai. Các can thiệp tương tự và phù hợp nên được xem xét thực hiện ở Ấn Độ. Như vậy, cần có các chính sách toàn diện đối với các giá trị phụ hệ, nâng cao vị thế phụ nữ để giảm mong muốn có con trai. Con gái và con trai đều có giá trị như nhau đối với cha mẹ.

Đức Thành

Nguồn: International Perspectives on Sexual and Reproductive HealthVolume 38, Number 4, December 2012

 

Liên kết