Giới thiệu

Bài viết dựa trên nghiên cứu “Tăng cường kết nối chính sách an sinh xã hội (ASXH) và người dân - Nghiên cứu trường hợp chính sách ASXH cho người cao tuổi (NCT) ở xã Hải Thái, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị” năm 2013, với 31/103 đối tượng NCT đang được hưởng các chính sách ASXH dành cho NCT. Nghiên cứu cũng tiến hành các phỏng vấn sâu đối với NCT, người cung cấp thông tin, cán bộ phụ trách và thực hiện chính sách bảo trợ xã hội, lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện, cán bộ Y tế xã Hải Thái, và Hội trưởng Hội NCT huyện và xã Hải Thái.

Chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công trong đó có NCT

Hiện nay, tại địa bàn có một số NCT đang được hưởng chế độ ưu đãi xã hội dành cho người có công. Theo thống kê của Ban Thương binh xã hội xã Hải Thái về đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi xã hội cho người có công thuộc nhóm NCT như sau:

 

   Bảng 1. Đối tượng và số lượng NCT đang được hưởng chế độ ưu đãi xã hội trên địa bàn xã

Diện đối tượng

Số lượng

Thương binh

    9

Bệnh binh

    5

Người tham gia kháng chiến bị bắt, tù đày

    3

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

    6

Thân nhân của 1 liệt sĩ

    8

Tổng

   31

Nguồn: Báo cáo đối tượng hưởng chính sách người có công năm 2012, TBXH xã Hải Thái.

 

Bảng 2. Mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng (mức chuẩn: 1.110 nghìn đồng/tháng)

Diện đối tượng được hưởng

trợ cấp

Mức trợ cấp

(nghìn đồng/tháng)

Mức phụ cấp (nghìn đồng/tháng)

Thương binh

618 - 2.945

557 - 1.142

Bệnh binh

1.159 - 2.828

     557

Người tham gia kháng chiến bị bắt, tù đầy

500 - 2.500

 

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

622 - 2.540

 

Thân nhân của một liệt sĩ

1.110

   

Nguồn: Nghị định 47/2012/NĐ-CP về quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi với người có công với cách mạng.

Mức trợ cấp

Số tiền trợ cấp cho thương binh tùy theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động như người thương binh có tỷ lệ suy giảm 21% được trợ cấp 748 nghìn đồng và số tiền trợ cấp tăng dần theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động. Đối với thương binh, thương binh loại B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì được phụ cấp 557 nghìn đồng; thương binh, thương binh loại B suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và có vết thương đặc biệt nặng thì có tiền phụ cấp hàng tháng là 1.142 nghìn đồng. Đối với bệnh binh số tiền hưởng trợ cấp phụ thuộc vào tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 41% trở lên, những người bệnh binh nào bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì được hưởng tiền phụ cấp hàng tháng là 557 nghìn đồng.

Những ưu đãi trong chính sách người có công đã tác động không nhỏ đến đời sống của NCT nhất là những NCT có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Ngoài ra những người có công với cách mạng còn nhận được quà, lời hỏi thăm, động viên của các cơ quan, đoàn thể trong xã, huyện, tỉnh, các em học sinh, đoàn viên thanh niên… trong những ngày lễ như Thương binh liệt sĩ 27/7, dịp lễ Tết… Điều đó mang lại niềm vui, an ủi và giá trị tinh thần to lớn cho những người đã đóng góp cho đất nước.

Trong tổng số 31 NCT được điều tra, có 2 đối tượng NCT được nhận tiền ưu đãi xã hội, hưởng chế độ người bị nhiễm chất độc hóa học với số tiền ưu đãi hàng tháng là 1,2 triệu đồng và hưởng chế độ thân nhân của 1 liệt sỹ với số tiền trợ cấp hàng tháng là 1.110 nghìn đồng. Số tiền trợ cấp này phần nào giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống cho các đối tượng. Bên cạnh đó, những người được hưởng chính sách người có công thuộc nhóm NCT có hoàn cảnh khó khăn, còn được trợ cấp về nhà ở như tặng nhà tình nghĩa, chăm sóc sức khỏe (CSSK) như cấp phát thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) miễn phí và các ưu đãi về giáo dục, việc làm, hỗ trợ phát triển kinh tế như cho vay vốn lãi suất thấp… đã góp phần cải thiện được đời sống không chỉ vật chất mà cả tinh thần. Đây cũng là một nguồn thu nhập chính và ổn định góp phần cải thiện đời sống cho những gia đình NCT có hoàn cảnh khó khăn.

Chính sách trợ cấp xã hội dành cho NCT

Chính sách trợ cấp xã hội là một hợp phần nằm trong hệ thống ASXH nhằm đảm bảo cuộc sống tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc cho người dân, giúp họ vượt qua những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống. Chính sách trợ cấp xã hội bao gồm chế độ trợ cấp thường xuyên hàng tháng và trợ cấp đột xuất một lần cho 9 đối tượng trong đó có đối tượng NCT. Hiện nay tại địa bàn nghiên cứu có các hình thức trợ giúp xã hội cho đối tượng NCT đang thực hiện như sau:

Chế độ trợ cấp xã hội trên địa bàn đang được thực hiện theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP của chính phủ, dựa trên Nghị định 67/2007/NĐ-CP đã được điều chỉnh, bổ sung về mức trợ cấp và đối tượng được nhận trợ cấp bao gồm 9 nhóm đối tượng trong đó có nhóm NCT. Đối tượng NCT đang được hưởng chế độ trợ cấp thường xuyên hàng tháng do xã quản lý bao gồm:


 

Bảng 3. NCT và mức trợ cấp xã hội hàng tháng trên địa bàn xã

 

Người cao tuổi

Mức trợ cấp  (nghìn đồng/tháng)

Cô đơn, nghèo

    180

Từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu

    180

Tàn tật không có khả năng lao động

    180

Tàn tật không có khả năng tự phục vụ

    360

Tâm thần phân liệt

    270

Nguồn: Danh sách trợ cấp tiền lương đảm bảo xã hội hàng tháng của ban TBXH xã Hải Thái năm 2012.

 


Trên địa bàn xã hiện nay có 73 NCT đang được hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng chiếm 16,8% tổng số NCT trên địa bàn xã, tăng 31 người so với năm 2009. Trong đó, có 8 NCT cô đơn, nghèo; 39 NCT trên 80 tuổi không có lương hưu; 3 NCT tàn tật không có khả năng lao động; 21 NCT tàn tật không có khả năng tự phục vụ và 2 NCT bị tâm thần phân liệt. Như vậy, số lượng NCT được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên trên ở xã Hải Thái có xu hướng tăng. Sau khi áp dụng, triển khai thực hiện theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP, độ tuổi NCT được nhận trợ cấp giảm từ 85 xuống còn 80 tuổi và quy trình xét duyệt đối tượng được đơn giản hơn.

 - Đối tượng là NCT 80 tuổi trở lên không có lương hưu: tất cả những NCT đủ 80 tuổi trở lên và không có lương hưu hay trợ cấp bảo hiểm xã hội nào khác thì được hưởng chế độ trợ cấp xã hội thường xuyên không kể NCT giàu có hay nghèo khổ. Ví dụ: người đủ 80 tuổi từ ngày 1/1/2013 trở về trước thì được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng từ ngày 1/1/2013.

- Đối với đối tượng NCT neo đơn: được hưởng chế độ trợ cấp xã hội thường xuyên là những NCT đủ 60 tuổi trở lên, không có chồng, con cháu, người thân chăm sóc hoặc có người thân nhưng do nhiều điều kiện hoàn cảnh nên không thể trực tiếp chăm sóc cho NCT được, họ phải sống một mình tự chăm lo cho cuộc sống của mình.

- Đối tượng NCT tàn tật không có khả năng lao động và NCT tàn tật không có khả năng tự phục vụ: khi làm hồ sơ phải có giấy xác nhận tình trạng sức khỏe của trạm y tế xã, nếu tình trạng nặng thì phải có giấy xác nhận tình trạng sức khỏe, bệnh tật của Trung tâm y tế huyện hoặc các cơ sở y tế khác như bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh, thành phố.

- Đối với NCT bị tâm thần phân liệt: khi làm hồ sơ xác nhận thì phải có giấy giám định sức khỏe tâm thần của bệnh viện.

Quy trình chi trả tiền trợ cấp xã hội thường xuyên được tiến hành như sau: Phòng LĐ-TB&XH huyện lập danh sách và dự trù kinh phí sau đó gửi lên Sở LĐ-TB&XH tỉnh, Sở tổng hợp và báo cáo lên UBND tỉnh để được cấp kinh phí. Sở tài chính tỉnh thông qua và chuyển tiền về Phòng LĐ-TB&XH. Đến ngày quy định hàng tháng cán bộ chính sách xã đến phòng kế toán,  phòng LĐ-TB&XH để nhận tiền. Thời gian chi trả được tiến hành theo tháng, có quy định ngày cụ thể (trên địa bàn xã quy định ngày 14 của mỗi tháng là được nhận tiền trợ cấp) NCT hoặc người giám hộ, con cháu có thể đến UBND xã để nhận. Trong dịp lễ Tết thì NCT được nhận trước 1 tháng (nghĩa là được nhận 2 tháng 1 lần).

Bên cạnh đó, nếu NCT đang được hưởng trợ cấp xã hội khi qua đời thì được nhận tiền mai táng phí. Theo nghị định 13/2010/NĐ-CP của chính phủ, số tiền được nhận là 3 triệu đồng (trước đây là 2,5 triệu đồng theo nghị định 67/2007/NĐ-CP của Chính phủ). Số tiền trợ cấp xã hội thường xuyên hàng tháng chỉ 180 nghìn đồng/1 tháng đã hỗ trợ một phần cho NCT ở địa bàn. Tuy không nhiều nhưng cũng giúp NCT có thêm thu nhập hàng tháng để trang trải cho cuộc sống, khi không có nguồn thu nhập nào.

Mặc dù, đã có nhiều cố gắng để giúp NCT tiếp cận với chính sách trợ cấp xã hội như quy trình xét duyệt đối tượng đơn giản, thời gian xét duyệt nhanh hơn theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008, nâng mức trợ cấp từ 120 nghìn đồng lên 180 nghìn đồng/1tháng, mở rộng diện đối tượng được hưởng trợ cấp. Nhưng việc NCT tiếp cận chính sách trợ cấp xã hội vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Nghiên cứu cho thấy, những khó khăn mà NCT trên địa bàn gặp phải khi tiếp cận với chính sách trợ cấp xã hội thường xuyên, quá trình xét duyệt hồ sơ đối tượng thường thấy, ở địa bàn xã phần lớn NCT không tự mình đi làm hồ sơ mà nhờ người khác (con cháu, hàng xóm, chi hội trưởng hội NCT…) làm thay. Trong 31 mẫu khảo sát, có 24 NCT nhờ con cháu, người thân đi làm hồ sơ, 7 NCT tự đi làm hồ sơ. Lý do chính là tình trạng sức khỏe NCT không tốt. Thứ hai là do đa số NCT từ 80 tuổi trở lên có trình độ học vấn hạn chế nên việc làm hồ sơ gặp nhiều khó khăn. Một số thôn trên địa bàn cách xa trung tâm xã, việc đi lại gặp nhiều khó khăn nên NCT phải nhờ người khác làm thay. Việc nhờ người làm thay là một khó khăn lớn cho NCT vì họ phải phụ thuộc vào người khác, không chủ động. Ngoài ra còn có một số lý do khác như giấy tờ sai năm sinh; không biết chính sách trợ cấp xã hội nên không làm.

Chính sách chăm sóc sức khỏe cho NCT và bảo hiểm y tế

Chăm sóc đời sống cho NCT để đảm bảo về mặt vật chất và tinh thần luôn là những định hướng chính sách mà Đảng và Nhà nước và là những yếu tố cơ bản trong việc thực hiện CSSK, cấp thẻ BHYT cho NCT. Để triển khai thực hiện những chính sách, nghị định của Chính phủ, chính quyền huyện Gio Linh đã chỉ đạo các xã triển khai tốt công tác CSSK cho NCT. Theo Báo cáo năm 2012 của Trạm Y tế xã Hải Thái: xã có 100% số NCT đang được hưởng chế độ ưu đãi, trợ cấp xã hội cho NCT, NCT neo đơn, NCT thuộc diện hộ nghèo… được cấp thẻ BHYT miễn 95% phí khám chữa bệnh, còn 5% chi phí cho việc khám và điều trị bệnh là do NCT chi trả. Hàng năm, Trạm y tế xã phối hợp với Trung tâm y tế huyện và Hội NCT xã tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho NCT. Có 280 NCT đến khám, các bệnh NCT thường mắc phải như: tăng huyết áp, tim mạch, hô hấp, bệnh về mắt, trong đó, 74 NCT được kê đơn điều trị.

Một thực tế cho thấy, NCT trên địa bàn xã tuy đã được cấp phát thẻ BHYT miễn phí nhưng tỷ lệ NCT sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh là rất ít. Trong khảo sát, chỉ có 14/31 NCT đến Trạm y tế khám 1 lần/năm, 9/31 NCT khám 2 lần/năm, 5/31 NCT khám bằng thẻ BHYT tại Trạm 3 lần/ năm và đặc biệt là có 3 NCT không đi khám lần nào, khi họ ốm nặng mới đi khám tại các bệnh viện đa khoa huyện, tỉnh.

Phần lớn NCT ở xã không hài lòng về dịch vụ CSSK ở Trạm y tế xã chủ yếu là về cơ sở vật chất, thuốc men và thái độ của nhân viên y tế. Có 19/31 NCT đang được hưởng chế độ trợ cấp xã hội không hài lòng với dịch vụ CSSK tại địa bàn.

Từ thực trạng CSSK cho NCT tại địa bàn nghiên cứu, có thể thấy công tác CSSK cho NCT trên địa bàn còn nhiều bất cập và thiếu sót, chưa có sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành địa phương. Khả năng và tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ CSSK của NCT trên địa bàn xã còn rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn do hệ thống y tế tại địa bàn còn yếu và thiếu thuốc men, trang thiết bị chữa bệnh cho NCT, trạm xá phân bố chưa hợp lý, NCT đi khám khá xa. Một nguyên nhân khác khiến cho việc tiếp cận với dịch vụ khám chữa bệnh của NCT còn hạn chế đó là thái độ phục vụ của nhân viên y tế chưa tốt. Số lượng NCT ngày càng tăng nhưng mạng lưới y tế phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh cho NCT ở địa bàn còn yếu, thiếu nhân viên y tế cộng đồng và trình độ chuyên môn còn hạn chế. Trên địa bàn xã chỉ có một Trạm y tế và một Trạm y tế của Nông trường cao su Cồn Tiên. Ngoài ra, không có dịch vụ CSSK tại nhà cho NCT và chưa có nhà thuốc tư nhân phục vụ nhu cầu của người dân nói chung và NCT nói riêng.

Nghiên cứu cho thấy các chương trình chính sách dành cho NCT mà ở huyện đang triển khai như (chính sách ưu đãi xã hội, trợ cấp xã hội, chính sách CSSK và BHYT) được thực hiện khá đầy đủ. Tuy nhiên, công tác chăm sóc NCT còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là dịch vụ CSSK. Còn thiếu các CLB văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao, các CLB giải trí nhằm năng cao đời sống tinh thần cho NCT. Hiện nay, NCT chủ yếu dựa vào sự chăm sóc của gia đình. Cần có những giải pháp phù hợp hỗ trợ NCT tiếp cận các chính sách, các dịch vụ xã hội hiệu quả để NCT có thể sống thoải mái, an dưỡng tuổi già.

Kết luận

 

NCT là một nguồn lực quý, bởi lợi thế về kinh nghiệm, hiểu biết và các kỹ năng. Họ có vai trò quan trọng đối với gia đình và xã hội, là chỗ dựa tinh thần cho con cháu. Việt Nam đã có nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ cho NCT và ngày càng hoàn thiện hơn về mức trợ cấp cũng như phạm vi đối tượng được hưởng. Đặc biệt, Luật về NCT năm 2009 dành một chương về công tác chăm sóc và phụng dưỡng NCT nhằm mục đích “xã hội hóa công tác chăm sóc NCT” giúp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho NCT. Tuy nhiên việc thực hiện các chương trình, chính sách ASXH, dịch vụ xã hội hay văn bản luật chưa đạt hiệu quả và chưa đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của NCT. Nghiên cứu cho thấy các hoạt động ASXH đã phần nào giúp NCT giải quyết được những khó khăn trước mắt, đem lại niềm vui, sự phấn khởi và động lực sống cho NCT. Các chương trình và chính sách, hoạt động dành cho NCT trên địa bàn nghiên cứu chưa có sự liên kết, phối hợp mà chỉ hoạt động riêng lẻ. Vai trò của chính quyền địa phương trong việc thực hiện công tác chăm sóc, phụng dưỡng và phát huy vai trò của NCT còn khá mờ nhạt. Cần có các giải pháp phù hợp để tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành trong chăm sóc NCT. 

Đoàn Văn Trường*

                                                 Nguyễn Thị Hải Yến**



* Giảng viên - Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

** Cán bộ UBND phường Hội Thương, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 

 

 

Liên kết