Giới thiệu

Trong nghiên cứu về di dân - di cư dù dưới góc độ tiếp cận nào đều cần một quan điểm hoặc lý thuyết cơ bản, nền tảng về di dân. Bởi vì, hiện tượng di dân có nhiều yếu tố và nguyên nhân tác động, mà mỗi loại hình/hình thái di dân lại có những đặc điểm, khía cạnh khác nhau, do đó sự giải thích về nó cũng khác nhau trong sự đa dạng, phong phú, phức tạp.

Lịch sử nghiên cứu xã hội học về dân số và di dân cho thấy, di dân - di cư không đơn thuần vì mục đích nâng cao điều kiện sống (công ăn, việc làm…) mà còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố (chính trị, văn hóa, tôn giáo, dân tộc…). Nghiên cứu về di dân - di cư có nhiều lý thuyết tiếp cận, mỗi lý thuyết có những ưu điểm và hạn chế khác nhau, chính vì vậy, việc lựa chọn lý thuyết tiêu biểu áp dụng cho nghiên cứu về một loại hình di dân cụ thể là điều cần thiết.

Mô hình lý thuyết di dân “lực hút - đẩy” của Everett S. Lee

Trong công trình Lý thuyết di dân xuất bản năm 1966, Everett S. Lee đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến di dân và chia thành những nhóm nhỏ sau:

+ Nhóm yếu tố gắn liền với nơi xuất phát, nơi gốc.

+ Nhóm yếu tố gắn liền với nơi đến của người di cư.

+ Nhóm những trở ngại trung gian.

+ Nhóm những yếu tố mang tính cá nhân.

Mô hình lý thuyết di dân “lực hút-đẩy” của Everett S. Lee được thể hiện như sau:   

Mô hình bao gồm hai vòng tròn tượng trưng cho nơi xuất phát (Origin) và nơi đến (Destination). Trong hai vòng tròn lớn này có những ký hiệu mang ý nghĩa khác nhau:

            - Ký hiệu: (+) tượng trưng cho những yếu tố, điều kiện thuận lợi đối với sự di cư (lực hút);

            - Ký hiệu: (-) tượng trưng cho sự không thuận lợi đối với sự di dân (lực đẩy);

            - Ký hiệu: (O) tượng trưng cho những yếu tố mang tính chất lượng tính đối với sự di dân.

Theo Everett S. Lee, di dân không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn gắn nhiều với các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội. Mô hình di dân như trên nhấn mạnh đến các yếu tố cơ bản tác động tới quyết định chuyển cư có nhiều lý do như: (hôn nhân, nghề nghiệp, thay đổi việc làm, đất đai canh tác, hết tuổi lao động hoặc cũng có thể do những trở ngại về pháp luật, phong tục, tập quán…). Mỗi lý do đều có thể diễn ra ở vùng gốc nơi đang sinh sống khiến họ phải di cư hoặc nơi đến có sự hấp dẫn hơn cho cuộc sống hiện tại. Những sự khác biệt này đã thu hút họ tiến hành chuyển cư. Hoặc sự di cư xảy ra khi cả hai nơi (nơi gốc và nơi đến) cùng gây ảnh hưởng và tác động. Và một điều hiển nhiên là hầu như không ai có thể biết rõ về tất cả những gì mình muốn hay không mong muốn trong quá trình di cư.

Trong quá trình di cư, kiến thức và hiểu biết về đích đến thường không được tính đến một cách chắc chắn và không chính xác, bởi người di cư chỉ có thể cảm nhận được một số lợi thế và bất lợi sau khi trực tiếp sinh sống tại đó, điều này khác với nhận thức hiện tại. Do đó một người đã sinh sống trong thời gian dài ở một khu vực và nơi đó đã ít nhiều mang lại những ích lợi cho họ thì họ sẽ có xu hướng đánh giá quá mức các yếu tố tích cực, và ngược lại đánh giá thấp các yếu tố tiêu cực. Với nhóm dân cư này, họ thường cân nhắc rất kỹ lưỡng và không vội vàng đưa ra quyết định di cư. Ngược lại, với nhóm dân cư trẻ tuổi có mối quan hệ ở nơi sống chưa sâu sắc, chưa có nhiều dấu ấn để lại, trong khi đó những yếu tố mới, tiên tiến, hiện đại ở các đô thị hay những địa phương khác lại có sức hấp dẫn đặc biệt đối với mong muốn khám phá, nhu cầu tìm hiểu thế giới. Như vậy, luôn tồn tại một thực tế trong những nhóm di dân là sự thiếu hiểu biết hay thậm chí là những bí ẩn về điểm đến. Điều này dẫn tới tình trạng là liệu những người nhập cư có thích nghi hay hòa hợp được với môi trường sống mới hay không. Mặt khác, những lo ngại về khó khăn trong việc hòa nhập, thích nghi với cuộc sống tại nơi ở mới có thể tạo ra những nhận định sai lầm mang tính chủ quan về những yếu tố tích cực cũng như tiêu cực ở nơi đến.

Đối với di dân ở dạng tiềm năng (ý định di cư/chuyển cư), thì những người di dân cần phải tính toán các yếu tố không thuận lợi để từ đó có những cân nhắc lựa chọn nơi đến cho mình, hoặc có thể so sánh giữa các nơi đến khác nhau, hoặc cũng có thể đi đến quyết định cuối cùng là liệu có nên di cư hay không. Để làm rõ hơn cho dạng thức di dân ở dạng tiềm năng này, theo Everetts Lee có một số yếu tố tác động:

Yếu tố lực đẩy:

Theo Everett S. Lee, các dòng di cư chịu sự lôi cuốn rất lớn của lực đẩy và lực hút, các yếu tố thuộc về lực đẩy đối với dư cư bao gồm: yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa (phong tục, tập quán di cư). Ngoài ra thiên tai, hiểm họa tự nhiên cũng được coi là lực đẩy tiềm năng, ví như một số tộc người Việt Nam sống ở vùng cao như (Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái….) bị sạt lở đất, đất đai canh tác bị bạc màu… cũng dẫn tới di cư. Tuy nhiên trong một số trường hợp sự gia tăng dân số, tập quán di cư của một số tộc người, hay nạn đói thì yếu tố lực đẩy không phải là những hiểm họa tự nhiên. Vì vậy, khi xem xét cần phải cân nhắc kỹ các các yếu tố gần như là mang tính quy luật hiển nhiên. Và như vậy, yếu tố cản trở có thể là tôn giáo, tộc người, phong tục, tập quán của vùng, miền.

Yếu tố lực hút:

Theo Everett S. Lee, những yếu tố thuận lợi giúp cho người di cư chọn làm nơi đến gọi là “lực hút”, đó là các yếu tố thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, chính sách phát triển kinh tế của khu vực, vùng miền… đã tạo ra những cơ hội cho người nhập cư (việc làm, khai hoang vùng đất mới màu mỡ, thay đổi điều kiện, hoàn cảnh mức sống…).

Giữa yếu tố lực hút và lực đẩy có yếu tố trung gian, yếu tố này thuộc về những trở ngại của sự di cư là nhiều hơn. Theo  Everett S. Lee, những dạng di dân tiềm năng thường phải tính toán đến các yếu tố trở ngại như: chi phí trong quá trình chuyển cư, những trở ngại về mặt tinh thần, sự chia cắt những mối quan hệ gia đình, bạn bè, láng giềng…

Quyết định di cư là kết quả của việc cân nhắc, so sánh các yếu tố thuận lợi và không thuận lợi của nơi đến và nơi đi, tuy nhiên nó không chỉ đơn thuần là phép tính đơn giản của các yếu tố (+) và (-), mà còn chịu sự tác động của nhiều các yếu tố khác, trong đó có cả yếu tố trung gian (những trở ngại giữa nơi đi và nơi đến).

Tóm lại, mô hình lý thuyết “lực hút-đẩy” của Everett S. Lee có ý nghĩa rất quan trọng trong các nghiên cứu xã hội học về dân số nói chung và di dân nói riêng, được định hướng nghiên cứu ở các loại hình di dân khác nhau, và phù hợp với đặc điểm di dân ở mỗi quốc gia trên thế giới. Và mô hình này có thể vận dụng hợp lý cho việc nghiên cứu di dân tự do Việt Nam hiện nay.

Vận dụng mô hình lý thuyết “lực hút-đẩy” trong nghiên cứu di cư tự do ở Việt Nam

Trong các nghiên cứu về di dân nói chung và di cư tự do nói riêng, mặc dù dưới nhiều góc độ lý giải khác nhau của hiện tượng xã hội này, song dường như các nghiên cứu mới chỉ tiếp cận mô hình lý thuyết “lực hút-đẩy” ở khía cạnh chỉ ra nguyên nhân di dân ở góc độ kinh tế, xã hội và luật pháp mà ít thấy tiếp cận ở các chiều cạnh khác. Mô hình lý thuyết “lực hút-đẩy” chưa được vận dụng đầy đủ đa dạng, nhiều chiều của lý thuyết. Bởi vì trên thực tế di cư nói chung và di cư tự do nói riêng không chỉ do lực hút-đẩy được cho là xuất phát từ yếu tố kinh tế, hay thể chế chính trị làm cho người ta di cư, mà còn có yếu tố khác như yếu tố tập quán di cư (phong tục, tập quán di cư).

Chính vì vậy, vận dụng lý thuyết “lực hút-đẩy” trong nghiên cứu di cư tự do ở nước ta hiện nay cần thể hiện trên một số nội dung sau:

-                      Làm rõ lực hút của di cư tự do, ngoài các yếu tố thuận lợi như cơ hội việc làm tốt hơn, thu nhập tốt hơn (thường tập trung ở các đô thị…) chúng ta cần phải tính tới như yếu tố như tài nguyên thiên nhiên (đất đai canh tác…) và mạng lưới xã hội của người di cư (hợp lý hóa, hòa thuận/sum họp gia đình). Đặc biệt là yếu tố tập quán di cư của một số tộc người, nhất là tộc người H’Mông ở các địa phương vùng cao, đây cũng có thể coi là yếu tố lực hút. Ngoài ra còn yếu tố dụ dỗ, lôi kéo của một số tổ chức/cá nhân cũng được coi là lực hút các dòng di cư (loại hình di cư tự do này tập trung chủ yếu ở các đồng bào tộc người thiểu số ở vùng cao).

-                      Làm rõ các yếu tố đẩy như sự hạn chế về việc làm và thu nhập tại nơi ở; yếu tố văn hóa, học vấn; chính sách việc làm của địa phương; dân số đông (thường tập trung ở các vùng nông thôn đồng bằng). Yếu tố lực đẩy đối với dòng di cư của đồng bào tộc người ở vùng cao đó là sự đe dọa của nguồn tài nguyên tại nơi ở (đất đai bạc màu, sạt lở, thiên tai hạn hán kéo dài, thiếu nguồn nước…). Ngoài ra có các yếu tố khác tác động như điều kiện sống khó khăn, nơi ở cũ bị giải tỏa,…

-                      Phân tích các động lực của dòng di cư tự do hiện nay không chỉ tập trung làm rõ động lực kinh tế, lợi ích mà cần làm rõ các vấn đề thuộc về yếu tố văn hóa, học vấn, phong tục, tập quán vì đây là một trong những hạt nhân quan trọng tạo ra lực “đẩy-hút”.

-                      Nêu rõ các yếu tố thuận lợi và không thuận lợi tác động đến dòng di cư tự do, giúp tìm hiểu những trở ngại trung gian của dòng di cư. Trên cơ sở đó góp phần hoạch định chính sách cho loại hình di cư tự do hiệu quả, khoa học.

-                      Phân tích sâu mạng lưới xã hội của dòng di cư tự do, nhằm tìm hiểu ý định và động cơ liên kết di cư, nhất là dạng di cư tiềm năng. Trên cơ sở của những nghiên cứu này góp phần luận giải khoa học cho các nhà quản lý về vấn đề di dân-di cư.

Có thế thấy, mô hình lý thuyết “lực hút-đẩy” của Everett S. Lee rất có ý nghĩa và giá trị trong việc nghiên cứu về vấn đề dân số và di dân và hoạch định chính sách di dân ở Việt Nam.  

Tài liệu tham khảo:

 

-                       Everett S. (1996): Demography, 5.Jahrgang, Nr.1, 1966, S.50, S51, S52

ThS Nguyễn Văn Vị*



* Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

 

 

Liên kết