Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ DS-KHHGĐ đạt chuẩn viên chức dân số (Chương trình 3 tháng) được triển khai trên toàn quốc từ năm 2012 đến 2015, cho cán bộ các đơn vị sự nghiệp DS-KHHGĐ cấp huyện và xã. Học viên được trang bị kiến thức cơ bản về DS-KHHGĐ, thực hiện được các kỹ năng (tính toán, quy trình nghiệp vụ...) và có thái độ đúng mực trong thực thi nhiệm vụ DS-KHHGĐ. Đến tháng 5/2015, 56 tỉnh [1] đã tổ chức được hơn 170 lớp, cấp chứng chỉ cho gần 11.000 người, trong đó gần 2.200 cán bộ huyện, hơn 8.600 cán bộ xã, đạt 68% dự kiến.

Năm 2015, Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục DS-KHHGĐ đã tiến hành đánh giá hiệu quả của Chương trình bồi dưỡng đối với người học về kiến thức, kỹ năng và thái độ (KAS) [2] với 354 người tại 6 tỉnh (Lai Châu, Cao Bằng, Nam Định, Quảng Nam, Gia Lai và Kiên Giang), gồm 108 cán bộ dân số huyện (chiếm 31%), 256 cán bộ dân số xã (69%), trong đó 253 người đã hoàn thành Chương trình 3 tháng (71%), 101 người chưa học là nhóm đối chứng (29%).

Đặc điểm của đối tượng đánh giá:

-        Độ tuổi: dưới 30 tuổi (48%), từ 30 - 50 tuổi (49%); trên 50 tuổi (3,1%).

-        Giới tính: nữ 82%, nam 18%.

-        Học vấn: 20% đại học, 8% cao đẳng, 68% trung cấp và 5% sơ cấp.

-        Chuyên ngành đào tạo: tự nhiên: 4%; y dược: 44%; xã hội: 11% và khác là 41%.

-        Địa bàn: thành thị: 41%; nông thôn: 59%.

-        Số năm công tác: <3 năm: 18%, > 3 năm: 82%.

KẾT QUẢ

Chỉ số về kiến thức

Bảng 1.Tỷ lệ trả lời đúng các câu về kiến thức của Nhóm đã học 

Thấp và rất thấp (5-30%)

Trung bình (31-69%)

Cao và rất cao (70-100%)

Cơ cấu dân số

Cơ cấu dân số vàng

Chỉ tiêu thống kê không có trong sổ A0

Tổng tỷ suất sinh

Chất lượng dân số

Chỉ tiêu thống kê trong sổ A0

Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi

Học vấn và chọn giới tính thai nhi

Phân biệt điều tra mẫu và thống kê thường xuyên

Các giai đoạn của gia đình trong chu trình dân số

Mức sinh thay thế và mục tiêu KT-XH

Xác định loại thống kê theo sổ A0

Quy trình xây dựng thông điệp truyền thông

Lồng ghép biến dân số vào kế hoạch phát triển

Phân biệt các hình thức truyền thông

Xác định các nguyên tắc tư vấn

Thống kê biến động thường xuyên dân số

Phương tiện tránh thai có hiệu quả cao nhất

Các bước lập kế hoạch truyền thông

Đồ thị thống kê

Phương tiện tránh thai có tác dụng lâu dài nhất

Quy trình tư vấn

Đối tượng của truyền thông vận động

Phương tiện tránh thai có thể giúp phòng tránh HIV

Xác định đơn vị cung cấp dịch vụ dân số

Bảng kiểm sức khỏe phải có khi tư vấn về PPTT

Dấu hiệu sống cơ bản

Phân biệt đơn vị sự nghiệp dân số với quản lý N.nước

Nguyên lý của vòng tránh thai có đồng

Sơ cứu cơ bản của y tế tuyến cơ sở

 

Chức năng QLNN về DS-KHHGĐ

Đường lây nhiễm của HIV

 

Mục tiêu Chiến lược DS-SKSS

Thực phẩm giàu I-ốt

 

Chính sách sinh con thứ 3

 

 

Mục tiêu trong xây dựng KH

 

 

Chỉ tiêu KH năm về phân bố

 

 

Thực phẩm giàu Vitamin A

 

 

Các lời khuyên cho thai phụ

 

 

Trong 39 câu hỏi về kiến thức thuộc 7 môn học của Nhóm đã học:

+ Ở 10 câu có tỷ lệ trả lời đúng thấp và rất thấp, từ 5% đến 30%;

+ Ở 17 câu có tỷ lệ trả lời đúng trung bình, từ 31% đến 79%;

+ Ở 12 câu có tỷ lệ trả lời đúng từ cao và rất cao, từ 80% đến 100%;

Tỷ lệ trả lời đúng từ trung bình trở lên đến rất cao là 74%; và tỷ lệ trả lời đúng cao và rất cao chiếm 31%. So với KAS mục tiêu, tỷ lệ trả lời đúng ở Nhóm đã học Chương trình 3 tháng ở mức trung bình khá trong toàn bài kiểm tra cho thấy kết quả học tập đạt mức trung bình khá.

Bảng 2. So sánh sự khác nhau về kiến thức giữa Nhóm đã học và Nhóm đối chứng

Nội dung kiến thức (môn học)

Kết quả so sánh

Số câu Nhóm đã học cao hơn rõ rệt về thống kê

Dân số học

Không cao hơn rõ rệt

Không có

Dân số và phát triển

Có khác nhau, nhưng không cao hơn nhiều

Cao hơn rõ rệt ở 1 câu

Thống kê dân số

Có khác nhau, nhưng không cao hơn nhiều

Cao hơn rõ rệt ở 1 câu

Truyền thông DS-KHHGĐ

Có khác nhau, nhưng không cao hơn nhiều

Không có

Dịch vụ DS-KHHGĐ

Có khác nhau, nhưng không cao hơn nhiều

Cao hơn rõ rệt ở 1 câu

Quản lý Chương trình dân số

Cao hơn, có ý nghĩa về thống kê

Cao hơn rõ rệt ở 2 câu

Kiến thức Y học cơ bản

Có khác nhau, nhưng không cao hơn nhiều

Cao hơn rõ rệt ở 1 câu

 

Nhóm đã học có tỷ lệ trả lời đúng nhìn chung là cao hơn so với Nhóm đối chứng, mặc dù không thực sự rõ rệt. Trong số 39 câu hỏi (bài kiểm tra) về kiến thức của 7 môn học thì chỉ có ở 6 câu, Nhóm đã học có tỷ lệ trả lời đúng cao hơn rõ rệt so với Nhóm chưa học chương trình 3 tháng. Trong 7 môn học được đưa vào bài kiểm tra, ở 2 môn không cho thấy hiệu quả rõ rệt, 4 môn có hiệu quả ít và 1 môn có hiệu quả tương đối rõ rệt; chỉ số hiệu quả của Chương trình về kiến thức ở mức trung bình.

Về kiến thức, hiệu quả thu được không cao. Kiến thức ở Nhóm đã học Chương trình 3 tháng chỉ cao hơn chút ít so với Nhóm chưa học. Sự biến chuyển về kiến thức ở Nhóm đã học so với Nhóm chưa học đã không được như mong đợi.

Chỉ số hiệu quả về thái độ

Học viên sau khi hoàn thành Chương trình 3 tháng đã có biến chuyển ở tất cả các phẩm chất cần thiết, với tỷ lệ rất cao từ 70% cho đến 98%, cụ thể: (1) Về tình cảm (thích công việc hơn, cảm thấy yêu công việc hơn; quan hệ với đồng nghiệp được cải thiện; (2) Về cảm giác tự tin tăng lên so với trước (cảm thấy hoàn thành được việc lớn hơn, được đồng nghiệp, cấp trên đánh giá tốt hơn, tin tưởng hơn); (3) Về lợi ích (thấy việc học có ích cho bản thân, kiến thức, kỹ năng, hiểu biết và năng lực công tác tăng lên so với trước khi học); (4) Về nhận thức (hiểu biết hơn; nhận thức được tính khoa học của công việc đang làm và của công tác DS-KHHGĐ; tính nghiêm túc của công tác DS-KHHGĐ).

Phẩm chất công tác ở học viên được biểu hiện ở thái độ tự tin hơn. Các cán bộ quản lý cũng nhận xét về khả năng thiết lập quan hệ công tác khá hơn nhiều (98%), thái độ và khả năng hợp tác với đồng nghiệp tốt hơn (97%).

Bảng 3. Chỉ số hiệu quả về thái độ đạt mức tốt so với mục tiêu

Đơn vị: %

Các đánh giá về bản thân

Mức độ

Nhiều

Ít

Không

Hài lòng về Chương trình bồi dưỡng

94

6

 

Sự có ích cho bản thân mình của Chương trình bồi dưỡng

98

2

 

Học được nhiều kiến thức mới

92

8

 

Học được các kỹ năng mới trong công việc

91

9

 

Cảm thấy hiểu biết nhiều hơn

90

10

 

Cảm thấy tự tin hơn trong công tác

90

10

 

Cảm thấy bản thân có thể hoàn thành được việc lớn hơn

71

28

1

Cảm thấy năng lực công tác tăng lên hơn trước

88

12

 

Thời gian hoàn thành 1 công việc so với trước ngắn hơn

81

13

 

Cảm thấy chất lượng công việc tốt hơn

94

6

 

Thấy công tác DS-KHHGĐ là có tính khoa học

86

14

 

Thấy công tác DS-KHHGĐ đang làm có ích hơn

95

5

 

Thấy hứng thú hơn với công việc đang làm

92

8

 

Thấy công tác DS-KHHGĐ là công việc nghiêm túc hơn

91

9

 

Có áp dụng kiến thức và kỹ năng mới học vào công việc

93

7

 

Có chia sẻ những điều đã học với đồng nghiệp

77

23

 

Có hướng dẫn lại được cho đồng nghiệp mới

72

28

 

Cảm thấy được mọi người tin tưởng hơn

83

17

 

Cảm thấy mọi người, cấp trên đánh giá tốt hơn về mình

83

17

 

Muốn tiếp tục có cơ hội được học tập chuyên môn cao hơn

95

3

2

 

Chỉ số về kỹ năng

 

Bảng 4. So sánh kết quả về kỹ năng tính các chỉ tiêu DS-KHHGĐ giữa 2 nhóm

 

Kỹ năng được khảo sát

Tỷ lệ tính đúng (%)

Chỉ số X2

Khác biệt có ý nghĩa về thống kê

Nhóm đã học

Nhóm chưa học

Số dân vào thời điểm cuối năm

98

90

0.56

 

Số dân trung bình trong năm

97

89

0.29

 

Mật độ dân số vào thời điểm cuối năm

38

34

0.73

 

Tỷ suất sinh thô ()

94

73

10.9

Có ý nghĩa

Tỷ suất chết thô ()

94

75

7.8

Có ý nghĩa

Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số ()

70

57

1.8

 

Tỷ lệ tăng cơ học dân số ()

63

52

0.91

 

Tỷ suất tăng dân số ()

71

24

54.1

Có ý nghĩa

Tỷ suất nhập cư ()

83

67

3.9

 

Tỷ suất xuất cư ()

81

66

2.7

 

Tỷ lệ phụ thuộc trẻ ()

58

30

17.3

Có ý nghĩa

Tỷ lệ phụ thuộc chung()

13

2

9.1

Có ý nghĩa

Tỷ lệ cặp vợ chồng áp dụng BPTT hiện đại

96

78

7.4

Có ý nghĩa

Tỷ lệ kết hôn (%)

33

29

0.1

 

Tuổi trung bình

14

26

3.1

 

Tuổi trung vị

21

35

3.9

 

 

Nhóm đã học có kỹ năng tốt hơn ở các chỉ số: Tỷ suất sinh thô, Tỷ suất chết thô, Tỷ suất tăng dân số, Tỷ số phụ thuộc trẻ, Tỷ số phụ thuộc chung, Tỷ lệ các cặp vợ chồng áp dụng BPTT hiện đại, chiếm 43% trong 14 kỹ năng tính toán đã yêu cầu trong bài kiểm tra.

Ở những chỉ số thường xuyên phải tính thì tỷ lệ làm đúng ở cả 2 nhóm đều cao. Những chỉ số ít khi, hoặc không phải tính (đối với cán bộ DS-KHHGĐ ở tuyến xã) thì có tỷ lệ làm đúng ở cả 2 nhóm đều thấp. Ở các kỹ năng này, việc học Chương trình 3 tháng không thể hiện hiệu quả rõ rệt. Hiệu quả học tập sẽ rõ rệt ở những chỉ số có phải tính, nhưng phức tạp thì nhóm đã học có kỹ năng tốt hơn.

Hiệu quả tăng lên về kỹ năng đạt ở mức trung bình khá. Ở những kỹ năng tính toán phức tạp thì Nhóm đã học có kỹ năng tốt hơn.

Chỉ số hài lòng

Chỉ số hài lòng về Chương trình đạt mức tốt. 99% số người được khảo sát mong muốn được học Chương trình 3 tháng. (Có 2 người cho biết không muốn học là do đã có chứng chỉ 2 tháng). 100% học viên cảm thấy hài lòng về việc đã tham gia và hoàn thành Chương trình 3 tháng.

Nhận định tổng hợp về Chỉ số hiệu quả trên người học

Hiệu quả của Chương trình 3 tháng đã biểu hiện ở các khía cạnh:

Sự hài lòng ở người học: người học thấy hài lòng với việc hoàn thành Chương trình 3 tháng, về những lợi ích mà họ thu hoạch được từ Chương trình, mặc dù đã phải khắc phục nhiều khó khăn để hoàn thành việc học tập.

Chuyển biến tích cực về kiến thức, kỹ năng, thái độ ở người học: Kiến thức đạt mức trung bình khá so với mục tiêu, có xu hướng cao hơn so với người chưa học ở một số nội dung; có kỹ năng tốt hơn ở một số nghiệp vụ; có thái độ tích cực hơn, cảm xúc, tình cảm tích cực hơn, tự tin hơn.

Áp dụng những điều đã học: có ý thức và đã áp dụng vào công việc.

Biến chuyển trong công việc: năng lực, năng suất công tác tăng lên (thời gian hoàn thành công việc), chất lượng công việc tốt hơn; điều này có thể thấy qua nhận xét của những cán bộ quản lý, sử dụng viên chức.

Truyền đạt, chia sẻ và hướng dẫn những điều đã học với đồng nghiệp.

Được sự đánh giá tích cực từ cấp trên và đồng nghiệp.

Bảng 5. Tổng hợp về chỉ số hiệu quả của Chương trình 3 tháng trên học viên

Chỉ số

Mức độ đạt được

7

6

5

4

3

2

1

Chỉ số hài lòng

+

 

 

 

 

 

 

Chỉ số kiến thức

 

 

 

+

 

 

 

Chỉ số thái độ

+

 

 

 

 

 

 

Chỉ số kỹ năng

 

 

+

 

 

 

 

Chỉ số hiệu quả

 

 

+

 

 

 

 

 

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đánh giá

Việc thu thập số liệu đã gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các tỉnh miền núi, hải đảo. Do ở các tỉnh được lựa chọn đã gần hoàn thành Chương trình 3 tháng nên rất khó để có thể chọn được đủ số lượng nhóm đối chứng ở huyện. Các cán bộ cấp xã ở xa Trung tâm DS-KHHGĐ huyện, đi lại khó khăn, trong khi không có kinh phí chi cho đi lại nên việc huy động người được phỏng vấn chủ yếu nhờ lòng nhiệt tình giúp đỡ của họ.

Một số nơi làm bài kiểm tra không đạt yêu cầu vì quá chật. Khi ngồi cạnh nhau thì việc trao đổi, hỏi cách làm, hỏi đáp án… là rất khó tránh, và do vậy đã ảnh hưởng đến việc thu thập số liệu đầy đủ và trung thực.  

Một số lỗi khác có thể xảy trong quá trình điền phiếu, nhập phiếu và xử lý số liệu… Ngoài ra các lỗi kỹ thuật cũng có thể xảy ra như công cụ đánh giá có thể là một yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đánh giá.

Kết luận

Là 1 chương trình bồi dưỡng lớn, triển khai rộng rãi trên cả nước, với nhiều cơ sở đào tạo tham gia trong thời gian 4 năm, việc đánh giá kết quả và hiệu quả của chương trình là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Kết quả đánh giá đã cho thấy sự biến chuyển ở mức trung bình khá của học viên về kiến thức, thái độ và kỹ năng sau khi được bồi dưỡng. Các phân tích sâu sẽ giúp rút ra các bài học để cải tiến, nâng cao chất lượng của các chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong giai đoạn tới.

Tài liệu tham khảo

[1] Một số tỉnh chưa mở được lớp bồi dưỡng, do chưa có biên chế tuyển dụng

 [2] Viết tắt của chữ Knowledge, Attitude và Skills

Đỗ Hồng Anh*  

 


* Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục DS-KHHGĐ

 

Liên kết